Du Tử Lê
(Tiếp theo và hết)
“Như vậy là từ đầu năm 1993 tôi sống trong căn phòng tình nghĩa ấy, vui buồn ấm lạnh cùng bạn bè tôi. Cho đến năm 2004, nhờ sự quan tâm của chính quyền thị trấn và huyện, tôi được cấp 1 lô đất. Lại nhờ các đơn vị báo chí, doanh nghiệp và các thầy cô, bạn học cũ hỗ trợ kinh phí thêm vào chút đỉnh vốn liếng dành dụm được của tôi và gia đình anh Xuân Anh, chúng tôi đã xây được một ngôi nhà khá vững chắc, khang trang. Ngày 30 tháng 4, 2004 ngôi nhà được khánh thành trong niềm vui của tất cả mọi người và niềm biết ơn vô hạn của chính tôi.
“Sự sống của tôi, những gắng gỏi của tôi, những vần thơ thấm đẫm lòng biết ơn của tôi có chút ích lợi gì cho cuộc đời này không thực tình tôi không biết. Nhưng có một điều tôi biết chắc là bạn bè luôn là một ‘nửa thế giới trong tôi’. Và nếu may mắn tôi có một tí ngọt bùi gì đó tôi luôn muốn san sẻ cùng tất cả những thân bằng đã ‘đã đỡ tôi lên đã dìu tôi bước’:
Không thể nào đo đếm biển nghĩa ân
Nếu được vinh quang chia làm hai nửa
Nửa dâng mẹ – người khai tâm thắp lửa
Còn nửa kia san sẻ khắp thân bằng!
“Nhẩm tính lại từ 3 ngày, 3 tháng, 3 năm thoắt đó mà đã gần… 30 năm. Tôi vẫn còn đây. Yên ổn, vui vẻ trong vòng tay bè bạn. Như một phép màu! Phép màu này không đến từ thần thánh cõi nào mà đến từ chính những bà tiên ông bụt cõi này – những bạn bè thân thiết của tôi. Nhất là anh chị Xuân Anh-Thu Hà, những ân nhân lớn nhất mà tôi kính trọng trân quý như cha mẹ, anh chị ruột thịt và 2 con gái Nguyên Hạ, Hoàng Phượng mà tôi xem như 2 người bạn vong niên rất đỗi yêu thương, gần gũi của mình.
“Có lẽ tôi phải nói thêm một chút về chị Thu Hà – Người chị kết nghĩa mà tôi xem như đức Quan Thế Âm hóa thân xuống trần cứu vớt cuộc đời khốn khổ của tôi. Chị là một cô giáo dạy tiểu học. Dịu dàng, nhã nhặn và biết khép mở trong mọi việc. Bản thân chị cũng không được khỏe – chậm nhịp xoang bẩm sinh, đau dạ dày, rối loạn tiền đình, thoái hóa khớp… Nhưng có phải vì mang nhiều bệnh trong người nên chị mới thông cảm, sẻ chia với người mắc bệnh nan y? Tôi nghĩ là không hẳn vậy! Hình như ai đó đã từng nói: Phàm người bị đau chân thì chẳng nghĩ được điều gì ngoài cái chân đau của mình. Chị Hà không chỉ đau chân mà còn đau nhiều thứ lắm. Lại nữa phải sống trong điều kiện kinh tế thiếu thốn trăm bề. Vậy thì chỉ có thể lý giải việc chị mở lòng tiếp nhận và chăm sóc tôi như chăm sóc một đứa em ruột thịt là xuất phát từ trái tim thiên thần, tấm lòng bồ tát bao la mà thôi. Bạn bè tôi khá nhiều, cả trai lẫn gái, và không ít trong số họ là những cặp vợ chồng. Với bạn trai thì có lẽ ai cũng sẵn sàng cưu mang, vô tư nuôi dưỡng nhưng “người đàn bà trong gia đình” không phải ai cũng có thể thông cảm và cùng chồng chăm sóc bạn trong hoàn cảnh đói nghèo rơm rạ một thời gian dài như thế mà không “khua chén động bát.” Gần 3 thập niên tôi cố gắng từng ngày vượt qua những đớn đau, dằn vặt của thể xác, tinh thần để sống và từng chút một thực hiện quyết tâm sống có ích. Suốt hành trình đầy gian khó, trắc trở đó của tôi luôn có sự đồng hành lặng lẽ nhưng tích cực và hiệu quả của chị Thu Hà. Có thể nói chính chị Hà với tất cả những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam đã giúp tôi giữ vững tâm thế, niềm tin để vượt lên số phận đầy giông bão của mình và góp phần vẽ nên một nét đẹp nho nhỏ cho đời. Biết là “đại ân nan báo” nên tôi không dám nói lời cám ơn suông mà chỉ tự hứa với bản thân mình: Quyết tâm phấn đấu mỗi ngày để “sống khỏe, sống vui, sống có ích” càng nhiều càng tốt để nhẹ bớt phần lo lắng chăm sóc của anh chị Xuân Anh-Thu Hà và khỏi phụ lòng mong đợi của những người đã tạo nên phép màu, đã viết nên ‘chuyện cổ tích ở Nghĩa Hành’(*) – nhóm thân bằng chí cốt của tôi!
Quảng Ngãi ngày 15.03.2014.”
Nguyễn Ngọc Hưng
***
Nếu thực tế đời thường, hơn ba mươi năm qua, không cho phép Nguyễn Ngọc Hưng xê dịch khỏi một chỗ nằm thì, thi ca lại chắp cho Nguyễn đôi cánh kỳ diệu, đôi cánh siêu hình, mẫn cảm, bay tới những khoảng trời thênh thang – – Như cõi-giới tâm hồn và thi ca, của Nguyễn:
“Chân trời xa rất xa
Mênh mang chiều biển gọi
Khói sương bay la đà
Tịch mịch người một cõi…
(Trích “Nơi yên nghỉ của một vầng trăng sáng”)
Hay:
“Lúc bay lên phiêu phưởng tiếng chuông chùa
Khi vời vợi giọng đò đưa đêm vắng
Nào ai biết sau lũy tre bình lặng
Bao cánh chim vườn vẫy mộng tha phương”
(Trích “Sông Vệ nhớ thương”)
Hoặc nữa:
“Hơn nửa đời thoắt trở lại sơ sinh
(…)
Mỗi âm tiết đều mang hơi lửa cháy
Rải hoa hồng trên sắc cỏ xanh em…”
(Trích “Bài ca con dế lửa”)
Cũng chỉ thi ca, riêng thi ca mới có quyền năng cho Nguyễn Ngọc Hưng “hơn nửa đời thoắt trở lại sơ sinh” – – Ðể từ đôi mắt trẻ thơ, Nguyễn trực nhận:
“Ðâu chỉ là chấm nhỏ nhớ thương
Mà tất cả buồn vui tôi ở đó
Một cánh bướm hoa một con chuồn cỏ
Cũng rưng rưng gọi muôn nỗi khóc cười
“Ðâu chỉ là nơi hạt bụi hóa người
Mà tất cả cuộc đời tôi ở đó
Ðèn hạt đỗ chập chờn trang sách nhỏ
Ðã vỡ lòng bao ý nghĩa lớn lao”
(Trích “Sông Vệ nhớ thương”)
Là người đọc, tôi không biết hạt bụi = kiếp người của Nguyễn Ngọc Hưng “đã vỡ lòng bao ý nghĩa lớn lao”? – Nhưng qua thi phẩm mới nhất “Bài ca con dế lửa” thì, với tôi, xuyên suốt cõi-giới thơ Nguyễn là tâm thái của một thi sĩ không chỉ bình thản mà, còn vui nhận mọi tai ương. Tựa đó là điều mặc nhiên của trời đất:
“An nhiên trời không nói
Lặng lẽ đất lặng im
Chỉ lời cây tiếng lá
Mãi xào xạc trong tim”
(Trích “Nơi yên nghỉ của một vầng trăng sáng”)
Xuyên suốt thi phẩm “Bài ca con dế lửa” chẳng những tôi không thấy được một kết án gay gắt nào dành cho định mệnh nghiệt ngã mà, dường như đâu đó, giữa những dòng chữ, tôi cảm được nụ cười độ lượng, từ tâm của Nguyễn dành cho thảm kịch. Nói cách khác, đó là tâm thái vượt trên mọi hệ lụy của một thi sĩ, sinh ra, vốn đã có được cho mình, một trái tim lớn. Trái tim ôm ấp cả trần gian địa ngục:
“Thả tan mình trong ngan ngát hương thơm
Ngang mồm ngậm lá cỏ xanh
Mắt đăm đắm theo màu hoa tim tím
Kỳ diệu quá, làn môi em ngọt lịm
Mớm cho tôi
Từng giọt mật ân tình”
(Trích “Bài ca con dế lửa”)
Hoặc:
“Ðồng xanh mênh mang dâu biếc ngút ngàn
Mỹ Hưng đấy – nơi chôn rau mình đấy
“Hỏi có nơi nào gió thơm đến vậy
Hoa nối hoa mùa quả chín nối mùa”
(Trích “Sông Vệ nhớ thương”)
Tính lạc quan trong thơ Nguyễn Ngọc Hưng, cho tôi cảm nhận: Nguyễn thấu hiểu hạnh phúc không hề ở… “ngoài kia” mà, hạnh phúc nằm ngay trong Nguyễn.
Phải chăng, vì thấu hiểu thế giới vốn là một, theo nghĩa không trong/ngoài, cũng chẳng còn một phân biệt nào giữa chủ thể và khách thể – – Hay cảm thức tật nguyền của Nguyễn, đã thấm vào con chữ, một cách vô thức mà, từ cõi một này, Nguyễn Ngọc Hưng đã “hái” được cho mình, những câu thơ lạ, như:
“...Bao giấc mơ lành lặn
Gọi trăng lên mắt rừng”
Hay:
“Hạt nắng vô tư treo mình trên tóc”
Hoặc:
“Không có chân đất vẫn đi suốt vạn đời
Ðứng một chỗ mặt trời vẫn lung linh tỏa sáng”
Nhưng, trên tất cả, bàng bạc trong cõi-giới thi ca Nguyễn Ngọc Hưng vẫn là những thương yêu, cảm động, dành cho Mẹ. Bên cạnh nguồn an ủi từ bằng hữu thì, Mẹ là nguồn an ủi lớn nhất mà Nguyễn nhận được từ hư không:
“Hiu hiu gió thổi run đồi
Cỏ vàng chân mộ
Mây trôi sẫm trời
Hoa hồng ai nhận.
mẹ ơi
Ngày yêu thương bỗng nghẹn lời yêu thương.”
(Trích “Ngày yêu thương nhớ mẹ”)
Hoặc:
“Ðâu chỉ gập ghềnh tay nải gió đưa
Một mẹ một con lầm lũi nắng mưa
Thương những cánh cò trắng như dấu lặng
Âm thầm bay âm thầm đậu âm thầm.
(…)
“Chưa chín đã rơi quả mẹ não nùng
Quay quắt hạt mầm con văng khắp nẻo
Ðầy thương tích nhưng chẳng đành dặt dẹo
Lặng lẽ xanh vươn về phía mặt trời…”
(Trích “Ngân ngấn mắt cò”)
Tóm lại, với tôi, thơ Nguyễn Ngọc Hưng là tấm gương chuyển hóa bất hạnh thành niềm an lạc tinh ròng. Tựa suối mát đầu nguồn. Suối mát chảy từ trái tim lớn của thi sĩ.
Tôi không biết mình phải cảm ơn thi ca hay cảm ơn thi sĩ – Có dễ nên cảm ơn cả hai. Vì cả hai, đã vốn là một. Một Con Người. Viết hoa.
(Garden Grove, 16 Tháng Chín 2014)



























































































