Du Tử Lê
(Tiếp theo kỳ trước)
Ðóng góp của tài năng Trịnh Cung/Nguyễn Văn Liễu không chỉ dừng trong giới hạn những tác phẩm hội họa cá nhân mà, ở lãnh vực chuyên môn, họ Nguyễn còn cho thấy ông sở hữu một kiến thức uyên bác về lịch sử tạo hình thế giới – – Về những hình thành và, khác biệt giữa các trường phái hội họa của nhân loại…
Tôi hiểu, khi một họa sĩ được đào luyện chính quy nơi trường ốc thì, hầu như ai cũng được trang bị một số kiến thức căn bản về những kênh, mạch tiêu biểu; những thời kỳ dẫn tới sự hình thành nền Mỹ thuật đương đại. Sau đó, tùy xu hướng cá nhân mà, mỗi họa sĩ có những hiểu biết thêm, thấu đáo hơn về những thần tượng riêng, của họ…

Từ trái qua: Ðinh Cường, Nguyễn Phước, Nguyên Khai, Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung, Hồ Hữu Thủ, Trịnh Cung. (Hình phannguyenartist.blogspot.com)
Nhưng tôi nghĩ, kiến thức tổng quát chỉ là một phần hiểu biết của mỗi cá nhân trong khu vực chuyên môn của mình. Ở khu vực nghệ thuật trừu tượng như khu vực nghệ thuật tạo hình, hiểu biết này, chưa đủ để diễn giải, soi rọi tới những lớp cắt chập chùng, lấp lánh biến thái vi tế của nghệ thuật (vốn hư ảo). Nhất là với những tài năng ngoại khổ.
Vì thế, dù cho giao tình giữa chúng tôi từ nhiều chục năm qua, vẫn chưa vượt quá giới hạn sơ giao, nhưng tôi vẫn thấy, tôi sẽ thiếu tự trọng, công bình, nếu không nói ra rằng, tôi quý, trọng những bài thuyết trình về hội họa Việt Nam trải qua nhiều thời kỳ – – Cũng như nghệ thuật tạo hình Việt Nam, đặt trong toàn cảnh Châu Á-Thái Bình của Trịnh Cung/Nguyễn Văn Liễu tại các đại học hay, những hội thảo chuyên đề từ nhiều chục năm qua của ông.
Tôi cũng cho rằng tôi sẽ thiếu tự trọng, công bình, khi không nói ra rằng, tôi đã hân hoan khi đọc cuốn “Mỹ Thuật Việt Nam Những Vấn Ðề Xoay Quanh” – – Tập hợp những bài viết hoặc phỏng vấn Trịnh Cung, cho thấy viễn kiến, dự báo và, những quan điểm có tính cách căn-để ở lãnh vực hội họa của Nguyễn. (7)
Ngay lãnh vực lý luận chuyên môn này, họ Nguyễn cũng cho thấy tính khai phóng, xẻ đường, mở tới những chân trời mới, lạ. Như những bài “Cái đẹp có tiêu chuẩn không; Vẽ tranh không bao giờ là muộn; Mầu sắc – Cuộc chơi không đơn giản; Vai trò của trường phái và phong cách trong ý thức sáng tạo; Một số tên tuổi và khái niệm nghệ thuật đương đại; Trao đổi với Nora A Taylor về vấn đề tại sao Việt Nam chưa có họa sĩ lớn; Lối ra nào cho khủng hoảng sáng tạo.” Hoặc “Mỹ thuật Việt Nam; Hội Họa Việt Nam thời chiến tranh và hậu quả; Hội họa của những người thành đạt” v.v…
Tôi không biết, có phải vì thụ đắc được những kiến thức rộng, sâu toàn cảnh cõi-giới mỹ thuật VN, nên tên tuổi của họa sĩ Trịnh Cung/Nguyễn Văn Liễu đã vượt khỏi đường nét, sắc màu tranh vẽ của ông, trở thành một thứ bảng chỉ đường, dẫn, đưa một số nhà nghiên cứu hội họa Ðông/Tây tìm đến ông (?) – – Ðể treo móc trông cậy của họ vào kho kiến thức uyên bác của Nguyễn về: Lịch sử cùng những biến động tử, sinh của nghệ thuật tạo hình Việt Nam?
Ðó là những cơ quan, những nhà nghiên cứu hội họa có thẩm quyền, như: Ðại diện của tổ chức nghiên cứu Plum Blossoms (International) LTD (Hồng Kông); Lã Vọng Gallery (Hồng Kông) hoặc tác giả Corinne de Menonville, đại diện nhà Arhis, Paris (Một nhà xuất bản chuyên về lịch sử mỹ thuật của Pháp)… Hầu từ đó, những tác phẩm đồ sộ như những bảng chỉ đường cho thế giới biết đến Hội Họa Việt (từ Nam chí Bắc), qua mọi giai đoạn, thăng trầm – – Nhất là nền hội họa Việt, sau biến cố tháng 4, 1975, những tưởng đã yên bề lãng quên với thân phận ốc đảo của mình!
Thực tế, đó là một chân trời mỹ thuật trẻ trung; đầy nghịch lý: Giữa công dụng tuyên truyền và, ngồn ngộn lửa sáng tạo (dù khá nhiều đoạn đường đã bị nám đen chiến tranh, thương tích!)
Tôi không biết có bao nhiêu người trong giới tạo hình Việt, biết được rằng, nếu không có Trịnh Cung/Nguyễn Văn Liễu, thì những ấn phẩm đồ sộ, giá trị như bộ “Uncorked Soul Contemporary Art from Vietnam,” do nhà Plum Blossoms (International) LTD Hong Kong, XB năm 1991; bộ “Vietnamese Contemporary Painting,” do nhà Lã Vọng Gallery Hong Kong, XB 1992; và nhất là bộ “Vietnamese Painting From Traditional to Modern” của tác giả Corinne de Menonville, do nhà xuất bản lịch sử mỹ thuật-Arhis, XB tại Paris 2003, ấn hành… đã không thể ra đời?
Tôi cũng không biết có bao nhiêu thức giả, họa sĩ Việt từ Nam tới Bắc (ngay cả những họa sĩ Việt sinh sống tại Hoa Kỳ), biết rằng, nhờ những bộ sách nghiên cứu kể trên mà, hội họa Việt Nam thoát khỏi tối tăm ao tù, ốc đảo, để một thời chen chân nơi các thị trường Châu Á như Hồng Kông, Nhật Bản, Ðài Loan và, Âu Châu…, khi VN mở cửa đổi mới, vào giữa thập niên 1980…? Mà, người gián tiếp mở được những cánh cửa vừa kể cho Mỹ thuật Việt Nam, chính là Trịnh Cung/Nguyễn Văn Liễu.
Là một người “ngoại đạo,” trước đây, tôi hoàn toàn không biết chút gì về “những đóng góp ngoài giá vẽ” của Trịnh Cung/Nguyễn Văn Liễu! Nhưng dù cho ai đó, biết hay không biết thì, Trịnh Cung/Nguyễn Văn Liễu cũng vẫn là người góp phần mang lại những trữ lượng vinh quang cho hội họa Việt.
Dù cho, chính Nguyễn cũng không hề bận tâm về thành quả mà, ông là người đứng sau, âm thầm kiến tạo.
Tôi đồ chừng, Nguyễn đã quá quen với những phủ nhận, ngộ nhận, bất công mà, định mệnh đời thường cũng như nghệ thuật dành cho ông?
(Cũng như những ngộ nhận, tranh cãi từng bùng lên, bước ra từ những bài viết, phát biểu có tính cách đời thường của Nguyễn, thời gian qua… Tất cả, với tôi, chúng chỉ tựa những “trận bão trong tách trà”).
Bởi, như ông có lần tâm sự:
“Tôi không bận tâm. Tôi không đính chính. Vì, rốt ráo, chính tôn-giáo-hội-họa đã ‘cứu rỗi’ tôi và gia đình tôi. Cũng như thi ca, đã cứu rỗi, đã hồi sinh tôi, từ một mối tình như cổ tích ở cuối đời tôi, cay nghiệt…”
…….
Trước khi bước sâu vào điều họ Nguyễn gọi là “Tình yêu thực sự, cuối đời tôi” của Trịnh Cung/Nguyễn Văn Liễu, tôi nghĩ, có dễ chúng ta cũng nên trở lại đoạn khởi nguồn thi ca thời thanh xuân của Nguyễn. Thời mà thơ đến với Nguyễn như một hạnh ngộ bất ngờ, không hẹn trước của định mệnh.
Tôi nghĩ, trở lại tốt nhất với một Trịnh Cung/Nguyễn Văn Liễu, ở mảng thi ca, không gì hơn là quay về với bài thơ “Cuối cùng cho một tình yêu” của Nguyễn.
Họ Nguyễn nói: “Cuối cùng cho một tình yêu” ông viết năm năm 1958 ở Huế và Sơn đã phổ nhạc vào khoảng giữa năm 1959, và thêm:
“…Bài thơ ấy là một hư cấu để nói về những năm tháng đầu tiên của một sinh viên tỉnh lẻ từ say đắm đến thất vọng trên con đường tình của Huế…” (Bđd)
Tuy tác giả cho, đó là một bài thơ tầm thường, nhờ nhạc của Trịnh Công Sơn mà trở thành nổi tiếng; nhưng nếu đặt bài thơ trở lại thời gian ra đời thì, “Cuối cùng cho một tình yêu” vẫn có một số hình ảnh mới mẻ xét trong giai đoạn đó. Như:
“Ừ thôi em về, chiều mưa giông tới/ Bây giờ anh vui, hai bàn tay đói/ Bây giờ anh vui, hai bàn chân mỏi…”
Dù vậy, với tôi, bài thơ này tựa trái-bói của một đời cây mới trồng. (8) Phải đợi tới năm 2004, khi một người làm thơ trẻ, tên Nguyễn Thị Phương Lan, (bút hiệu eL), xuất hiện bất ngờ trong đời Trịnh Cung/Nguyễn Văn Liễu thì đó mới là thời điểm Nguyễn gặt hái những vụ-mùa-thi ca sum suê hoa, trái.
Tôi muốn nhắc tới thi phẩm “Nội tình cái hẻm” Trịnh Cung/Nguyễn Văn Liễu, XB tại Saigon, 2008, do Cửa XB.
(Còn tiếp một kỳ)
Chú thích:
(7) “Mỹ Thuật Việt Nam những vấn đề chung quanh,” ấn bản giới hạn do C xuất bản, California, 2010.
(8) “Trái-bói” là thuật ngữ thời xưa của dân quê Việt Nam, chỉ sự đậu trái đầu tiên của một cây mới trồng, thường chỉ cho duy nhất một trái. Nhà vườn phải đợi mùa kế tiếp, mới tính chuyện bội thu…



























































































