Lý luận biên khảo trên báo Nghệ Thuật


Viên Linh

Khi những dòng chữ này hiện ra trên màn ảnh, tháng 10, 2015, ngược đường nhân văn của một thế hệ, hiện lên trong tâm tưởng tháng 10 nửa thế kỷ trước, tức là 1965, họa sĩ Ðằng Giao và tôi là hai thanh niên trẻ trung nhất, ở khoảng giữa tuổi hai mươi, trong một họp mặt văn nghệ của một lên đường mới, nói như lối nói hô hào vận động của Mai Thảo: tuần báo Nghệ Thuật phát hành số 1 tại Sài Gòn. Mà bộ biên tập và các cộng tác viên ngay những số đầu đã chưa từng có đông hơn: khoảng hai chục khuôn mặt tên tuổi của miền Nam, nhiều đến nỗi chỉ cần kể ra số 1 thôi, người ta thấy bài vở từ trên xuống dưới có Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn, Trần Thanh Hiệp, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Thạch Chương (Cung Tiến), Bình Nguyên Lộc, Thanh Nam, Tạ Tỵ, Cung Trầm Tưởng, Viên Linh, Trần Tuấn Kiệt, Mặc Ðỗ, Vũ Khắc Khoan,…

Cũng may mới hôm qua, để kiểm kê các báo văn học của miền Nam trước 1975, nhà phê bình Nguyễn Tà Cúc mang bộ Nghệ Thuật từ trên giá sách xuống, tìm hình ảnh số báo 20 trong đó có bài Vũ Khắc Khoan viết về Nhật Tiến, tôi mới ngó qua tờ báo cũ, và bỗng chốc, do thời điểm nhắc nhở, trong tay tôi là bộ báo 57 số do Ðằng Giao trình bày từ số 1 tới số 15, 16, rồi tới đó thì tờ báo không còn khả năng trả lương tháng cho chàng họa sĩ nữa, là thư ký tòa soạn, tôi phải thay anh kiêm nhiệm luôn việc trình bày, mà thấy “không cần thiết” lãnh thêm khoản thù lao này, chỉ lãnh thù lao như cũ là đủ. Và nhận ra, thời gian đã đủ ngày đủ tháng 50 năm của cuộc “lên đường mới” ấy.


Một tấm biểu ngữ treo trên đường phố Sài Gòn loan báo một tờ báo mới sắp ra đời, tuần báo Nghệ Thuật xuất bản vào tháng 10, 1965. (Hình: Năm Ròm cung cấp)

“Lên đường mới” có gì lạ? Bỏ ra ngoài thơ văn sáng tác, hãy xét khoản nhận định chân dung biên khảo các vấn đề và những cây bút viết bình luận của báo chí văn nghệ thời gian đó.

Các tác giả và những bài điển hình

Các thế hệ sau nói nhiều về các nhà văn nhà thơ miền Nam, thỉnh thoảng lắm mới nói về những người viết nhận định lý luận biên khảo và ngành viết tham luận. Trước hết xin kiểm điểm danh mục và nhan đề trước, lần lượt theo biên niên. Các vấn đề văn học dịch thuật từ Âu Mỹ cũng kể tới, vì chính tờ Nghệ Thuật chủ trương từ đầu “mở những cánh cửa ra thế giới,” chủ trương này cho thấy có ảnh hưởng rộng rãi trong các nhà văn thế hệ trẻ.

1. Nguyễn Mạnh Côn: Nghệ thuật Việt Nam đi đâu, đi đến đâu? (số 1)
2. Trần Thanh Hiệp: Ði tìm một ý thức tuyệt đối (1)
3. Chân dung J. Prevert: Thạch Chương dịch (2)
4. Nguyễn Văn Trung: Ngôn ngữ kịch (2)
5. Ðối thoại Michel Butor: Hoàng Ngọc Biên dịch (4)
6. Ðọc kịch Jean-Paul Sartre: Phan Lạc Phúc (7)
7. J.P. Sartre, trách nhiệm chính trị và giá trị con người: Bùi Ngọc Dung (7)
8. Vài nhận định về vấn đề sáng tác và thực hiện một vở kịch truyền thanh: Lê Huy Oanh (8)
9. Những khuôn mặt mới trong văn chương Pháp: J.F. Josselin (10)
10. Chân dung các nghệ sĩ Tiền Chiến trong 10 số báo đầu: Văn Cao (Tạ Tỵ), Nguyễn Bính, Huy Cận (Viên Linh), Huy Cận, Hồ Dzếnh (Mai Thảo), Hàn Mặc Tử (Lê Huy Oanh),…
11. Vấn đề khai thác giá trị trí thức của tiền nhân: Tam Ích (11)
12. Giới thiệu Annunzio khuôn mặt lớn của thi ca Ý: Bùi Ngọc Dung (12) 
13. Henry Miller, người chủ trương viết bằng ngôn ngữ đàm thoại: Nguyễn Hữu Hiệu (13)
14. André Gide, nhà văn tôn thờ sự thành thật: Lê Huy Oanh (14-15)
15. Yêu nhau là khác nhau nhìn vào một điểm: Cung Trầm Tưởng (14-15)
16. Tại sao Việt Nam không có những kiến trúc vĩ đại: Nguyễn Mạnh Côn (14-15)
17. Mười năm truyện ngắn: Tam Ích (14-15)
17. Nhìn về tương lai như là một lối sống: Từ Chung dịch (16)
18. Những ý nghĩ về tình yêu: Phạm Kiều Tùng (17)
19. André Breton và chủ nghĩa siêu thực: Nguyễn Hữu Hiệu (18)
20. Ðọc “Trầm tư của một tên tội tử hình” của Hồ Hữu Tường: Thanh Tâm Tuyền (19-20)
21. Thực và phi thực trong nghệ thuật: Phạm Kiều Tùng (20)


Hình bìa một số báo Nghệ Thuật ở Sài Gòn năm 1965. (Hình: Viên Linh cung cấp)

Qua 20 số báo đầu tiên, tuần báo Nghệ Thuật đã xác định được ý hướng của bộ biên tập, đúng như bài phi lộ của tờ báo: Ðứng về phía những cái mới. Những bài trên đây không phải là tất cả những bài nhận định, lý luận, biên khảo, mà chỉ là những bài chọn lọc, mỗi số chọn một bài, trong khi mỗi số có hai hoặc có thể ba bốn bài thuộc loại biên khảo. Những bài ấy lại do các cộng tác viên viết. Ðiều này rất đáng lưu ý: tờ báo được giới nhà văn tham gia đông đảo. Còn ý hướng chủ trương của tờ báo có khi thể hiện bằng một bài chính, khá dài, không kể ở trên là chỉ do nhân viên Bộ Biên Tập viết, ví dụ như bài “Văn học nghệ thuật trong chiến tranh hiện tại và hòa bình tương lai,” (Mai Thảo, số 1), “Ðứng về phía những cái mới,” (ký Nghệ Thuật – Mai Thảo viết, số 2), “Văn nghệ và cuộc sống,” (Vũ Khắc Khoan, thường trực), “Nghệ thuật trình diễn và vô tuyến truyền hình tại V.N.,” (Viên Linh, chủ đề số 17).

“Ngôn ngữ có đời sống của ngôn ngữ. Ra đời, khôn lớn trưởng thành rồi có thể… chết. Cũng có loại ngôn ngữ bất tử, nghĩa là không chết mà cũng không sống Ngôn ngữ thù tạc chẳng hạn – Ông Tú Vị Xuyên, một sớm ngày Tết, chả đã phát bẳn lên về thứ ngôn ngữ này đấy sao?

Lẳng lặng mà nghe nó chúc con
Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn
Phố phường chật hẹp người đông đúc
Bồng bế nhau lên nó ở non.

Có những ngôn ngữ vừa ra đời, rồi cũng khôn lớn nhưng chưa kịp trưởng thành, đã chết. “Lọ” chẳng hạn. Học sinh trường Bưởi khoảng thời gian bãi khóa để tang cụ Phan Chu Trinh, rất sính dùng tĩnh tự này để tặng nhau mỗi khi to tiếng… Tôi rùng mình để nghĩ đến số phận của cái ngôn ngữ hiện đang thường xuyên sinh hoạt trên cửa miệng thế hệ 20 hôm nay: quê một cục, cù lần,…

Lại có loại ngôn ngữ ra đời với kèn và trống, lớn lên trong vóc và gấm, uy nghi lẫm liệt trưởng thành, rồi già đi, già cằn, già cỗi, thường thường chết ngạt trong khói thuốc súng. Tiếng “trẫm.”

Tôi nghĩ rằng phải có một thứ musée để xếp những loại ngôn ngữ đã chết, cả những loại ngôn ngữ chết yểu. Ðể đỡ khổ cho những nhà ngữ học, những nhà khảo cổ, và nhất là những ông bố có con hay hỏi lẩm cẩm:

“Bố ơi! Chỉnh lý nội bộ là gì hở bố?”

“Ngôn ngữ là chất liệu để làm nghệ thuật của chúng tôi. Chúng tôi không đùa với chữ. Riêng tôi, không bao giờ tôi đồng ý với anh bạn Lãng Nhân [tác giả cuốn Chơi Chữ]. Tại sao lại chơi chữ? Chơi chữ cũng ví như chơi súng. Súng dùng để dọa người hoặc để bắn chết người, không phải dùng để chơi…” (Vũ Khắc Khoan, Nghệ Thuật số 6, 1965)

Với những bài viết như trên, đăng trên một tuần báo cách đây đúng 50 năm, báo chí văn học Việt Nam đã đi tới đâu rồi?

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT