Nói về thơ phú cổ xưa


Viên Linh


1. Trên trang báo này trong bài viết về nhà thơ Vô Ngã, bài viết có mấy chữ “thơ ông bát ngát âm hưởng […] Sở từ rất quyến rũ,” song khi in ra chữ Sở trong Sở từ, đã không được viết hoa như đã viết, do đó bài này được trích dẫn ra đây để chú thích cho chữ Sở được có ý nghĩa rõ ràng. Đây cũng là dịp để chúng ta ôn lại và học thêm chút ít kiến thức khi nói đến thơ phú đời xưa. Sinh thời, Giáo Sư Trần Trọng San (1930-1998, dạy tại các trường Văn Khoa, Sư Phạm Sài Gòn, Cần Thơ, Đà Lạt, Huế, …) có cộng tác với các tờ Thời Tập ở Sài Gòn và Khởi Hành ở hải ngoại do tôi chủ biên, trong đó có một bài nhan đề chỉ có hai chữ là “Sở Từ.” Bài này rất cần thiết cho những ai muốn tìm hiểu về thơ, hay muốn làm thơ.



Khuất Nguyên (343-278 trước Tây lịch), người nước Sở, tác giả khúc Ly Tao. Hình trong “Sáp Đồ bản Trung quốc Văn học sử” của Trịnh Chấn Đạc, trích lại trong Bách Khoa Thư của Nguyễn Tôn Nhan. Khởi Hành 103, tháng 5, 2005. (Hình Viên Linh cung cấp)


Danh hiệu Sở Từ – Sở Từ là thi ca, từ phú của người Sở, dân tộc ở lưu vực sông Trường Giang, tức là miền Nam nước Tầu. Trong đó, những tác phẩm nổi tiếng nhất là của hai nhân vật có tâm sự gần giống nhau: Khuất Nguyên và Tống Ngọc. Sở Từ kề vai với Kinh Thi được ví là hai viên ngọc bích của thi văn Trung Quốc đời Thượng Cổ. Sở Từ là nguồn gốc trực tiếp, của thể phú thịnh hành trong đời Hán và có ảnh hưởng rất sâu xa đối với các văn nhân sau này.


Danh hiệu “Sở Từ” có tự bao giờ? Sách Hán Thư (nghệ văn chí) của Ban Cố Chép hai mươi lăm thiên phú của Khuất Nguyên, bốn thiên phú của Đường Lặc và mười sáu thiên phú của Tông Ngọc, nhưng không thấy nói đến danh hiệu “Sở Từ.” Sở Từ là tên một tuyển tập của Lưu  Hướng đời Hán gồm tác phẩm của người nước Sở như Khuất Nguyên, Tống Ngọc và những bài mô phỏng của người đời sau. Ngày nay sách ấy thất truyền. Chỉ còn sách “Sở Từ chương cũ” của Vương Dật đời Hán (chép mười bảy thiên) và sách “Sở Từ tập chủ” của Chu Hi đời Tống (chép mười lăm thiên). Trong hai sách này, ngoài những thiên của những tác giả người Sở ra, còn chép những bài phú của người đời Hán như Giả Nghi, Đông Phương Sóc, Lưu Hướng…


Dân tộc Sở – Sở tộc ban đầu là một dân tộc có lãnh thổ ở vào khoảng hai tỉnh Sơn Đông và Hà Nam ngày nay. Họ có phong tục, tập quán, y phục, âm nhạc khác người Trung  Nguyên. Người Trung Nguyên coi họ là dị tộc, thường gọi là “man di,” hay “kinh man,” và chính họ cũng tự xưng như thế. Giữa Sở tộc và các triều Thương, Chu, thường xẩy ra những cuộc giao tranh. Sở không phải là một chư hầu của Thiên Tử nhà Chu mà là một nước có triều đình riêng biệt. Đời Chu Di Vương (909 894 trước Tây lịch), chúa Sở tộc là Hùng Cừ rất được lòng dân vùng Giang Hán, từng tự phong vương cho các con. Sau vì sợ uy vua Chu Lệ Vương, đành phải bỏ vương hiệu. Đến đời Đông Chu, Hùng Thông lại tự xưng là Vũ Vương. Từ đó trở đi, dư đồ nước Sở mỗi ngày một mở rộng, bao quát cả lưu vực sông Trường Giang, thế lực có lúc mạnh hơn cả triều đình nhà Chu. Nông, công, thương nghiệp cùng phát triển, Sở trở nên hưng thịnh, phú cường. Tình trạng ấy thuận lợi cho sự sản sinh một nền văn học riêng biệt và sự xuất hiện những thiên tài Khuất Nguyên, Tống Ngọc.


Thi ca nước Sở trước Sở Từ – Về thi ca nước Sở trước thời Khuất Nguyên, ngày nay người ta chỉ còn thấy một số bài minh có vần khắc trên chuông, chiêng, đỉnh và những bài châm, ca vụn vặt. Trong số đó, trọng yếu nhất là hai [thiên] thơ Chu Nam và Thiệu Nam trong Kinh Thi. Ta cũng phải kể đến Cửu Ca, nếu những thiên này không phải do Khuất Nguyên làm ra, mà đã có từ lâu ở nước Sở. Ngoài ra còn có bài ca của Tiếp Dư chép trong sách Luận ngữ và bài ca Thương Lang chép trong sách Mạnh Tử, cũng được liệt vào số thi ca nước Sở trước Sở Từ.


Bài ca của Tiếp Dư: Khổng Tử đi chơi nước Sở, gặp một người điên nước Sở tên là Tiếp Dư hát rằng:


“Phụng hề, phụng hề, hà đức chi suy! Vãng giả bất khả gián, lai giả do khả truy. Dĩ nhi, dĩ nhi, kim chi tòng chính giả đãi nhi!” “Phượng ơi, phượng ơi, đức sao suy thế! Việc đã qua không ngăn nổi, điều sắp tới còn theo kịp. Thôi rồi, thôi rồi, những người làm chính trị đời nay nguy lắm thay!” Khổng Tử xuống xe, muôn gặp nói chuyện. Nhưng Tiếp Dư rảo bước đi. (Luận ngữ, Vi Tử)


Bài ca của Thương Lang: “Có đứa trẻ hát rằng: Thương Lang chi thủy thanh hề, khả dĩ trạc ngã anh; Thương Lang chi thủy trọc hề, khả dĩ trạc ngã túc. Nước sông Thương Lang trong, có thể giặt giải mũ ta; Nước sông Thương Lang đục, có thể lấy rửa chân ta.” Khổng Tử nói rằng: “Các trò nghe đó: Trong thì giặt giải mũ, đục thì rửa chân, đều là tự mình mà ra cả.” (Mạnh Tử Ly Lâu).


2. Trong bài “Vô Ngã, một nhà thơ viết cổ văn học sử,” phần đầu nói rất nhiều về việc ấn loát mấy cuốn biên khảo về Văn Học Ngô Lê Lý Trần của ông. Thơ văn của bốn triều đại ấy đã được tác giả khổ công sưu khảo, ghi chép, giảng nghĩa tường tận, phần đầu chưa kịp nói tới khía cạnh văn chương của cuốn sách.


Trong lời bạt tập Văn Học Đời Ngô Lê Lý, tôi có viết tác giả Vô Ngã đã viết về Văn học đất nước trong ánh sáng của lịch sử, giúp người đọc khi đọc thơ văn cổ cùng một lúc hiểu biết thêm về lịch sử của đất nước, không phải chỉ đọc văn chương không thôi. Ý này được giăng màn trong một câu mỉa mai về nhưng kẻ suốt đời vùi đầu nghiên cứu truyện Kiều, “Mặc dù bên kia đường Lâm Truy, nẻo vào Vô Tích [hai địa danh trong Kiều], dưới những ngọn đèn lồng trước cửa cao lâu xanh, mấy nhà học giả đạo mạo đang sướt mướt nâng xiêm áo ngạt ngào hương xả để ca ngợi tấm gương bán hoa mua sự yên thân cho lão Vương già. Văn học ta hầu như không ngừng ngược xuôi những dòng mặn ngọt, nước của phù sa sông Hồng sông Mã, và nước của biển ngoài thấm ruộng đồng quê hương, bởi sự mở mang bò cõi đất đai, nhập thêm ngôn ngữ mới, lớp lớp đổi thay theo nhịp độ bất định của thời thế, nhưng văn chương dân tộc không ngừng là văn chương có cội nguồn cổ xưa; nẻo khuê văn các, với bia đá trên lưng rùa, hướng Hạ Long xanh thẳm, với bóng rồng lên nơi kinh đô từ hơn một ngàn năm cổ tích.”


Nhà thơ Vô Ngã Phạm Khắc Hàm viết về thơ Văn Cổ như sau: “Qua thơ văn, ta sẽ thấy mỗi tác giả – thường là những nhân vật lịch sử – kể lại một mâu chuyện về đời mình, khiến cho trang văn học trở thành những trang lịch sử sống động.


“Như vậy, văn thơ (cổ) đã minh họa lịch sử,… các biến cố lịch sử luôn luôn là bối cảnh của văn thơ. Văn thơ và lịch sử đi dôi với nhau như bóng với hình như thế nên muốn hiểu rõ nội dung một hài thơ, ta cần biết rõ bối cảnh lịch sử của nó, và ngược lại, đôi khi nhờ thơ văn, ta có thể hiệu đính các sai lầm trong các sách viết về sử.” (tr.25, cuốn 1, Thơ Văn Đòi Ngô Lê Lý).


Bản văn cổ đầu tiên của bộ sách chỉ có 95 chữ, là “Đại kế phá Hoàng Thao” của Ngô Quyền. Tác giả Phạm Khắc Hàm đã dịch từng chữ một, giải nghĩa hết 95 chữ, với chữ Hán in trước, rồi phiên âm sau mới dịch nghĩa. Sau đó là Lời Bàn, tổng cộng 16 trang khổ lớn. Mới nghe qua, người nghe tưởng sẽ rất khô khan; không phải, đó là 16 trang hứng khỏi, hưng phấn, vừa giận vừa đau, vừa vui vừa sướng, đọc đến đâu hình ảnh chiến trận, trong trướng tham mưu, ngoài sông đỏ máu, hiện ra đến đó.


Xin mượn những đoạn thơ trong bài Hoài Niệm, in trong thi phẩm mới nhất của nhà thơ Vô Ngã, vừa phát hành tháng 1, 2016, để kết thúc bài này. Bài Hoài Niệm đúng là một bài Thi Ca, thơ và hát.


1.
Gửi người chút hương xưa,
Tình mùa Xuân thơm ngát.
Lắng nghe hoàng oanh hót
Tình mùa Xuân gió mưa.


2.
Sương đêm nhỏ cầm canh,
Từng giọt bên cửa sổ.
Gửi người mấy câu thơ
Lạc thảo trên quán trọ.


3.
Đêm nghe mõ bã tiêu,
Ta hằng mơ cố quận.
Thắp đuốc đi tìm bạn,
Tìm nơi mô, cố nhân?


8.
Gửi Người một tiếng chuông,
Nổi giữa đêm diệu vợi.
Sáng ra tường đọng sương,
Trời vào thu vời vợi.


9.
Mùa Xuân xanh trôi chảy
Ngày hôm qua chìm sâu,
Chìm sâu.
Dòng sông xanh xuôi chảy,
Ngày hôm nay trôi mau,
Trôi mau.


10.
Thời gian đi biền biệt
Biền biệt.
Mù mịt sóng dâng sầu.
Gió thổi mùi tóc nhuyễn
Bay vê đâu,
Về đâu?


11.
Đứng bên dòng nước lũ,
Cuồn cuộn dưới chân cầu,
Hoài niệm mùi hương cũ.

Santa Ana, 8-8-85

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT