Ngọc Vân
Thương nhớ về Anh Đông
Ngày bé thơ ở Saigon, nhà tôi ở ngay con hẻm đối diện cửa rạp cine Moderne (sau này là rạp Kinh Đô) đường Trần Văn Thạch, khu chợ Tân Định. Cứ vài tuần thì tôi lại đứng xem nhân viên rạp lấy biển quảng cáo phim đang chiếu xuống và nâng tấm biển phim mới lên.
Tôi rất mê coi phim Lý Tiểu Long. Mê phim Hồng kông vì có lẽ trong mắt tôi, anh ta gần gũi trong diện mạo, tướng tá so với người Việt Nam hơn là những diễn viên dù rất đẹp người ngoại quốc trong phim Tây hay Mỹ. Lý Tiểu Long trong mắt tôi là một người anh hùng, vừa võ giỏi, đẹp trai, đức tính toàn vẹn, văn võ song toàn trong hết những vai anh đóng. Tôi mang ấp ủ hình ảnh Lý Tiểu Long trong lòng và thêu hoa dệt mộng rằng một ngày nào đó, lúc trở thành thiếu nữ, tôi cũng sẽ tìm và có được một người hùng giống chàng Lý Tiểu Long, thật là cải lương quá.
Tôi nhớ những tháng đầu của năm 1975, người ta bàn tán xôn xao về bộ phim sắp được trình chiếu, họ quảng cáo rầm rộ về phim “Mãnh Long Quá Giang” (Enter the Dragon) và bộ phim kinh dị rùng rợn Pháp Sư (Exorcist).
Trong khi cuộc chiến leo thang, có lẽ người ta muốn đi tìm kiếm một niềm vui hay một việc gì giải khuây giúp họ phân tâm để không phải bận lòng suy nghĩ và tâm tư giảm bớt nặng nề dù là giây lát, về tình hình bi quan của cá nhân, gia đình, vận mạng tương lai đất nước.
Dù còn bé, tôi vẫn nhớ như in những ngày dẫn đến cuối Tháng Tư năm đó. Tiếng súng và đại bác đì đùng hằng đêm. Nghe nhạc Trịnh Công Sơn “Đêm Nghe Tiếng Đại Bác” thì tâm hồn càng thêm trĩu nặng, càng thêm u uất.
Những ngày tháng ấy dù trí óc còn non nớt, mà tôi cũng mù mờ hiểu sơ rằng là chiến tranh gần kề vì đêm đêm nghe tiếng pháo đì đùng dội vào thành phố. Khi tôi hỏi Ba Mẹ thì được trả lời là Việt Cộng pháo kích vào những vùng ngoại ô tương đối xa thành phố. Người lớn thì trấn an nhau với niềm lạc quan là quân lính Việt Nam Cộng Hoà tinh duệ sẽ chiến đấu hết mình rồi sẽ đẩy lùi mọi sự tấn công của Việt cộng và chiến tranh sẽ không bao giờ tràn tiến vào đến Saigon hoặc lạc quan hơn nữa thì tin rằng nếu có xảy ra phục kích ngay trung tâm thành phố thì mọi việc cũng sẽ như Tết Mậu Thân và Cộng sản sẽ bị đẩy lui.
Một số người lớn cũng kháo nhau hãy yên tâm rằng cuộc nội chiến sẽ sớm chấm dứt, hòa bình trong tầm tay với.
Nhưng rồi thời gian dường như gấp rút trôi đi và mọi hy vọng chóng vánh sớm trở thành tuyệt vọng khi mà người lớn không dấu được nét hoang mang thẩn thờ những ngày tiến dẫn đến cuối Tháng Tư năm ấy.
Tiếng súng và đại bác đì đùng mỗi ngày mỗi đêm vọng vào thành phố ngày càng nghe rõ hơn và dồn dập hơn. Tôi nghe nói là Việt Cộng bắt đầu pháo kích vào phi trường Tân Sơn Nhất. Ba Mẹ tôi bắt đầu chuẩn bị cho mỗi đứa con một bọc túi nhỏ, trong đó có khai sinh, quần áo, vật dụng cần thiết phòng khi chiến tranh thật sự tiến vào thành phố và gia đình loạn lạc. Dù còn nhỏ vậy tôi vẫn linh cảm rằng có điều nghiêm trọng và rất bất ổn sắp xảy ra. Bà ngoại và Mẹ tôi thắp hương cầu nguyện nhiều hơn, Bà tôi ghé nhà thường xuyên hơn. Tôi mù mờ hiểu là Cộng Sản sắp tiến chiếm miền Nam.
Sài Gòn, một ngày Tháng Tư, 1975 (Hình: Francoise Demulder/AFP/Getty Images)

Tôi liên tưởng đến những câu chuyện tôi nghe lóm được của mấy đứa hàng xóm về Cộng Sản như chuyện đấu tố hay chôn sống và chặt đầu địa chủ ngoài Bắc trước năm 1954 hay ở Huế năm Mậu Thân, những câu chuyện truyền miệng về sự tra tấn mà mấy đứa trẻ con khác đem ra kháo nhau, làm cho mấy đứa khác kinh ngạc và sợ hãi.
Tôi chỉ nhớ thấy trong lòng buồn mang mác và có một nỗi sợ nhen nhúm trong cơn dầu sôi, lửa bỏng của những giây phút cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà. Mỗi buổi tối khi gia đình tôi xem ti vi cập nhật tình hình trận chiến, thấy Tổng Thống Thiệu từ chức, cụ Trần Văn Hương đọc diễn văn lên thay thế nắm quyền. Dù hoàn toàn không thông hiểu gì về tình hình đất nước như một người trưởng thành, tôi cũng mong manh cảm thấy có điều không hay sắp xảy đến cho Saigon, cho gia đình tôi và mọi người chung quanh. Tình hình bắt đầu trở nên bi đát hơn, tuyệt vọng hơn là mọi người mong đợi. Giữa khung cảnh có phần hoang mang ấy, dù chỉ là một trẻ nít, lòng tôi vẫn cảm thấy nôn nao tôi vẫn mong đợi được xem các phim đang quảng cáo rầm rộ, rất nao nức chờ ngày phim ra mắt trình chiếu.
Và rồi những nỗi mong chờ này của tôi được xem phim mới nhất của Lý Tiểu Long đã chẳng bao giờ thành hiện thực.
Saigon mất, miền Nam thất trận.
Ngày tất cả mọi người dân Việt Nam lo sợ trong ê chề cũng đã đến, ngày 30 Tháng Tư, năm 1975.
……..
Sáng ngày hôm đó, thức dậy tôi bước ra đường, trông thấy quang cảnh bừa bộn, vô cùng bê bối của đường phố. Tôi theo chân vài trẻ nít hàng xóm khác, bước ra góc phố đường Trần Quang Khải, đường Lý Trần Quán và Hai Bà Trưng, Trần Văn Thạch, tôi thấy người ta nhốn nháo, hốt hoảng. Rất nhiều bộ quân phục vật dụng quân đội bị liệng rải rác khắp nơi la liệt, giấy tờ rơi rớt bay tứ tung. Quang cảnh hỗn độn. Tôi nhớ rất rõ là bầu trời Sài Gòn trở nên vô cùng chơ vơ và thật ảm đạm. Không hiểu là vì tôi nhìn chung quanh, thấy già trẻ lớn bé đều có nét mặt ưu tư, tiu nghỉu, nhiều nét đăm chiêu không giấu nổi trên gương mặt họ, mà tôi cũng đâm ra bắt chước buồn theo hay là thật sự vì hôm đó bầu trời cũng xót xa theo tâm trạng và nỗi lòng của người dân Nam Việt Nam, nhất là người Sài Gòn lúc ấy nên bỗng dưng đượm sầu mang một màu xám xịt. Cũng có thể vì khói súng hay những đám cháy nho nhỏ xảy ra lúc đó khi người ta cuống cuồng gấp rút và sợ hãi thiêu đốt hết giấy tờ hay quân phục trong cố gắng xóa bỏ vết tích liên hệ đến chính quyền cũ, đến quá khứ mặc dù tươi đẹp.
Trời cũng âm u, ủ rũ sầu buồn như lòng người Sài Gòn thương cho vận nước nổi trôi. Chỉ một năm trước đó thôi, gia đình tôi đã phải chịu cảnh tang tóc, mất người thân là ông anh cả của tôi. Ngày ấy, anh chỉ vừa hơn 21 tuổi. Một sinh viên Văn Khoa, vì lệnh tổng động viên, anh xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ và để rồi không có ngày về.
Lúc đó, tôi mới chỉ dưới 10 tuổi, vậy mà khi hai người lính đến nhà gõ cửa kiếm Ba Mẹ thì như linh tính đoán được điềm không hay, chị tôi đã òa lên khóc, làm cả đám em cũng khóc theo. Sau đó, họ mang đến nhà những vật tùy thân của anh tôi. Khi mở cái bóp của anh ra, tôi còn nhớ nó bốc ngai ngái mùi mồ hôi của anh và điều đó làm tôi nhớ đến anh và buồn biết bao nhiêu. Tôi cứ nhớ mãi đến những khi anh về phép, anh thường hay dẫn tôi ra nhà sách Khai Trí ởđường Lê Lợi để mua sách Tuổi Hoa, sách Thiếu Nhi vì tôi mê gần như tất cả hình minh họa trên bìa những tuyển tập này của họa sĩ Vivi. Đôi khi anh mua tặng tôi sách dạy làm người của Nguyễn Hiến Lê. Anh cho tôi được đi ăn kem, ăn quà với tiền lương lính của anh.
Ngày đưa tiễn anh tôi, những người lính đến nhà, gắn huân chương Bội Tinh lên quan tài của anh tôi, thăng cấp cho anh. Trong tiếng kèn trống nghe thê lương, não ruột, Ba tôi ứa nước mắt, Mẹ tôi lệ chảy như mưa trong tay nâng đỡ của mấy bà bác vì Mẹ tôi như gần như sắp xỉu. Còn chúng tôi, các em của anh, đứa nào cũng khóc rưng rức. Trong đầu tôi lúc ấy thầm nghĩ rằng sao mọi người không mang anh về bằng xương bằng thịt vì tôi không nghĩ anh cần huy chương hay thăng chức. Ba Mẹ và chúng tôi chỉ mong mỏi được thấy anh nói cười và về với gia đình.
Tôi nhớ lúc theo đoàn người đưa tiễn anh đến nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, tôi vẫn nuôi hy vọng mong manh rằng có thể họ đã lầm người, anh tôi bị mất tích đâu đó và rồi sẽ trở về với gia đình một ngày nào. Thỉnh thoảng tôi vẫn hình dung và tưởng tượng thấy anh đang về đến đầu ngõ như mỗi lần về phép thăm nhà trong bộ quân phục thật oai. Mãi sau này tôi mới biết đó chỉ là tôi tự mơ tưởng ra vì không chấp nhận là anh đã ra đi vĩnh viễn.
Những ngày sau đó tôi cứ đi lục lọi xem lại hình anh trong album và lấy ra những bức thư anh viết từ mặt trận rồi ngấu nghiến đọc. Những bức thư chữ viết rất đẹp với những lời căn dặn phải cố gắng học hành hay thư anh viết cho Mẹ tôi kể chuyện về những nơi anh đóng quân, mấy đứa trẻ trạc tuổi tôi và em tôi sống trong những điều kiện không tiện nghi rất thiếu thốn, nghèo khổ và không có cơ hội đi học làm anh thấy vô cùng chua xót tội nghiệp, hay cái buồn của những nơi đèo heo hút gió anh đóng quân, cùng với nỗi nhớ nhà (mà đến sau này khi tôi đi vượt biên và ở trại tị nạn năm 1980, tôi mới thật sự thấu hiểu). Nỗi nhớ nhà, nhớ gia đình quay quắt, da diết khi màn đêm buông xuống không đèn điện, chỉ những ánh đèn dầu loe loét chập chờn ở các vùng miền quê xa xôi Sài gòn. Anh nói với Ba Mẹ tôi về dự tính khi hòa bình, anh sẽ ra trường và sẽ làm gì. Anh kể về các đồng ngũ trong quân đội, đời sống khiêm nhường của lính. Các thư từ của anh được Mẹ tôi giữ rất kỹ lưỡng cho dù năm tháng qua đi, góc cạnh sờn, rách và mọt giấy ăn mất vài nơi trong mỗi bức thư.
Cho đến tận bây giờ, Mẹ tôi vẫn thỉnh thoảng bắt đầu câu chuyện bằng câu “Nếu anh còn sống…” Mặc dù đã bao nhiêu năm qua, tôi vẫn thấy lòng xót xa khi nghe Mẹ tôi nói vậy.
Bây giờ ngẫm nghĩ lại tôi thấy ngày 30 Tháng Tư và những hình ảnh mà tôi còn nhớ buổi sáng hôm đó thật là quá sầu thảm, đúng là cả một cuộc đổi đời của bao nhiêu gia đình. Chiến tranh đã tạo ra biết bao thảm cảnh cùng với ngày mất nước ấy dẫn đến sau này bao nhiêu là ly tán, mất mát và đau khổ.
Ngày ấy, sau khi anh mất đi, mỗi khi nghe Khánh Ly hát nhạc Trịnh Công Sơn về chiến tranh là lòng tôi nhói đau và mắt ươn ướt vì nỗi mất mát này.
Anh nằm xuống cho hận thù vào lãng quên
Tiễn đưa nhau trong một ngày buồn
Đất ôm anh đưa vào cội nguồn
Rồi từ đó, trong trời rộng, đã vắng anh
Như cánh chim, bỏ rừng, như trái tim bỏ tình
Nơi đây một lần, nhìn anh đến
những xót xa đành nói cùng hư không!
……
Người tình rồi quên, bạn bè rồi xa
Ôi tháng năm, những dấu chân người cũng bụi mờ.
Anh nằm xuống, như một lần vào viễn du
Đứa con xưa đã tìm về nhà
Đất hoang vu khép lại hẹn hò
Người thành phố, trong một ngày, đã nhắc tên
Những sớm mai, lửa đạn
những máu xương chập chùng
Xin cho một người vừa nằm xuống
thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang
(Cho Một Người Vừa Nằm Xuống – Trịnh Công Sơn)

































































