Tuồng ‘Lan và Điệp’ hát cùng khắp, nhưng tiền bản quyền chẳng được bao nhiêu

Ngành Mai/Người Việt

Sân khấu cải lương miền Nam từ thập niên 1940 trở về sau, tuồng “Lan và Điệp” của soạn giả Trần Hữu Trang, tức Tư Trang được trình diễn trên nhiều sân khấu, và hầu như thời bấy giờ gánh hát lớn, nhỏ nào cũng đều có hát qua vở tuồng này.

Kịch bản chánh hát trên những đoàn lớn như Mộng Vân, Năm Châu, Phụng Hảo và nghe nói soạn giả Tư Trang cũng được trả cho một ít tiền sau mỗi xuất hát, nếu như hôm đó bầu gánh có lời hoặc có người mua giàn. Còn như không lời thì kể như huề, tiền cà phê cũng không có (có lẽ căn cứ vào số khán giả chớ làm sao biết được lời hay không).

Riêng các gánh nhỏ ở xa vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định thì họ chẳng hề trả cho Tư Trang đồng nào, bởi các gánh bầu tèo này không có kịch bản chánh, mà chỉ rút lời văn đối thoại và bài ca từ dĩa hát “Hoa Rơi Cửa Phật” rồi thêm thắt cho thành tuồng để hát.

Biết vậy, nhưng Tư Trang chẳng đòi hỏi, thưa gởi gì cả, bởi vì nếu đi thưa kiện thì chỉ tốn tiền giấy tờ, tiền mướn trạng sư mà thôi, vì phần lớn gánh hát bầu tèo vừa nghèo vừa mắc nợ, thành thử ra lúc bấy giờ người trong giới thấy Tư Trang quá hiền và đã gọi ông là “Đường Tăng Tam Tạng.”

Đến đầu thập niên 1960 soạn giả Trần Hữu Trang vào mật khu theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, thì tuồng “Lan và Điệp” hầu như tự do hát, chẳng một ai thắc mắc, đâu có ai dám lên tiếng đòi bản quyền, dù rằng con cái của Tư Trang vẫn còn sống trong vùng Quốc Gia.

Khoảng thời gian 1956-1957 và dài cho đến 1962 ở miền Nam Việt Nam có rất nhiều gánh hát dạo đi bán thuốc, giống như các gánh hát Sơn Đông mãi võ của người Tàu. Nói là gánh hát chớ thật sự chỉ một nhóm sáu, bảy người là nhiều, có gánh chừng năm người tính luôn người nhạc sĩ đờn.

Họ lãnh thuốc thành phẩm, loại cao đơn hoàn tán vô chai, vô hộp của mấy nhà sản xuất thuốc Tàu ở Chợ Lớn, rồi chia nhau đi về nông thôn, cứ trời vừa tối là bắt đầu dọn thuốc, đồ hát ra đánh trống để quy tụ thiên hạ, rồi bán thuốc trước.

Người coi đứng bao quanh thành vòng tròn, và họ vừa đi bán thuốc vừa ca bài bản cổ nhạc, nội dung bài ca nói về sự hữu hiệu của loại thuốc mà họ đang rao bán. Khi xong phần bán thuốc rồi, thì bắt đầu hát cải lương, mà thông thường thì hát tuồng “Lan và Điệp,” lấy bài ca và đối thoại trong dĩa hát “Hoa Rơi cửa Phật.”

Mấy gánh hát bán thuốc này đi đến tận xã ấp xa xôi hẻo lánh ở nông thôn, và lại hát miễn phí, chỉ nhờ bán thuốc (có nhiều bữa chẳng bán được chai thuốc nào nên cả nhóm than trời). Do đó thiên hạ ở nông thôn rất dễ dàng đi coi, dĩ nhiên là rất đông đảo khán giả. Chính những gánh hát dạo bán thuốc này lại là “cơ sở” truyền bá “Lan và Điệp” nhiều nhất.

Đến khoảng 1962 thì không ai thấy các gánh hát này nữa, do chiến tranh nổi lên ở nông thôn. Tóm lại các gánh hát bỏ túi này, chỉ hoạt động trong thời gian năm, sáu năm gì đó trong thời bình, rồi âm thầm biến mất khi có chiến tranh.

Dưới đây là đoạn kế tiếp dĩa hát “Hoa Rơi Cửa Phật” (kỳ 2)

Huệ Thông nói: Bạch hóa tôn sư, huynh Huệ Minh phạm giới sát sanh.

Huệ Thượng nói: Sao đệ tử biết được?

Huệ Thông nói: Mô Phật, vừa rồi huynh Huệ Minh bắt được con bướm ép khô rồi bỏ vào hộp đem chôn, lại còn khóc lóc khấn vái than thở làm nhiều chuyện lạ lùng lắm, con theo ghẹo phá hoài là huynh Huệ Minh cũng không chịu bỏ, nên con phải vào bạch với thầy.

Huệ Thượng nói: Thế là đệ tử có tội.

Huệ Thông nói: Bạch tôn sư Huệ Minh sát sanh chớ nào phải con phạm giới.

Huệ Thượng nói: Đệ tử nên biết, khấn vái khóc than đó là giờ phút thiêng liêng người ta tưởng niệm những điều đau khổ, trước cảnh thương tâm ấy, đáng lẽ đệ tử phải lặng lẽ cúi đầu sao lại dám theo ghẹo phá, Huệ Minh phạm giới sát sanh, để rồi thầy sẽ nghiêm trị. Còn đệ tử từ nay nếu còn khuấy rối Huệ Minh, thầy sẽ phạt quỳ hương một tháng.

Huệ Thông nói: Mô Phật.

Huệ Thượng nói: Đệ tử vào gọi Huệ Minh ra đây cho thầy dạy việc.

Huệ Thông nói: Mô Phật.

Huệ Minh nói: Bạch hóa tôn sư cho gọi con, có điều chi dạy bảo.

Huệ Thượng nói: Vừa rồi tiểu Huệ Thông thấy con bắt một con bướm bỏ vào hộp và đem chôn. Tại sao lại có những hành vi lạ lùng như thế?

Đã đem thân nương dựa cửa thiền mà lòng trần chưa đoạn tuyệt, thất tình còn vướng, nghiệp chướng còn mang, thầy xem đệ tử sắc diện võ vàng tiều tụy lắm, vậy thầy xin khuyên đệ tử.

Ca Xàng Xê:

Công phu hai buổi sớm chiều, phải tự mình tìm phương giải thoát.
Từ nay chuyện thế gian tua dẹp lại,
Chốn Phật đài tưởng niệm sắc không,
Cái tâm nếu chẳng tạo ra nguyên nhơn,

Thì kết quả phải khỏi trở về với không,
Cõi hư vô có ngày được thảnh thơi.

Huệ Minh ca:

Con cúi xin vàng lời ân sư chỉ dạy,
Bao nhiêu nỗi niềm thắc mắc,
Bao nhiêu khổ sầu ôm ấp bấy lâu,
Kể từ đây con quyết tâm đoạn tuyệt,
Vùi chôn vết thương trong tâm hồn,
Mùi tục lụy chẳng còn vương mang,
Tiếng khóc than đổi thay câu tụng niệm,
Nhờ thời gian sẽ phôi pha sẽ nhạt phai dần.

Huệ Thượng nói: Nếu được vậy thì tốt lắm, thôi đệ tử hãy theo thầy vào trước Phật đài, thầy sẽ cầu nguyện giúp cho.

Khai kinh: Nam mô Như Lai ứng cúng, chánh biến tri, minh hạnh phúc, thiên thê thế gian giải vô thượng sĩ điều ngự thượng phu, thiên nhơn sư, Phật Thế Tôn.

Huệ Thượng: Nam mô, phổ quan Phật.

Huệ Minh: Nam mô, phổ quan Phật.

Huệ Thượng: Nam mô, phổ minh Phật.

Huệ Minh: Nam mô, phổ minh Phật.

Huệ Thượng: Nam mô, phổ tịnh Phật.

Huệ Minh: Nam mô, phổ tịnh Phật. (Ngành Mai)

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT