Những ngày đầu làm báo: Từ Rừng Sát ra Đồ Bàn

Viên Linh/Người Việt

Sau khoảng hai tháng hoặc hơn một chút phụ trách tin tức quanh ba trung tâm lao động là Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam của ông Trần Quốc Bửu trên đường Lê Văn Duyệt, Tổng Liên Đoàn Lao Động của ông Cư gần Ngã Bảy, Lực Lượng Thợ Thuyền Việt Nam của ông Bùi Lượng, quý vị trong nhật báo Ngôn Luận dường như thấy rằng phóng viên Lê Nguyên (bút hiệu của tôi lúc đó) không thích hợp lắm với giới cần lao.

Thay vì mặc áo bốn túi màu xanh hay kaki vàng bỏ ngoài quần thì cậu phóng viên lại chỉ mặc sơ mi trắng quấn màu xám giặt ủi quá phẳng phiu, vai không đeo túi hay tay không mang cặp căng phồng báo chí như nhiều đồng nghiệp xung quanh. Chỉ có người không, không hành trang tài liệu, gia dĩ đồng nghiệp có hỏi xin tờ báo trong ngày cũng không có sẵn tặng ai, thiếu tác phong nghề nghiệp, giống như là thiếu sốt sắng quảng bá tờ báo chính mình làm. Thế là có sự thay đổi.

Một hôm ông tổng thư ký Thái Lân chỉ cái ghế đối diện cho tôi ngồi, trong tòa báo chỉ có thêm “cô Thùy Hương, phụ trách trang Phụ Nữ,” nhưng tôi thấy ai cũng gọi cô là nhà báo Vân Sơn, còn tôi gọi cô bằng anh. Hai nhà báo này lúc nào cũng tươi cười nhưng Vân Sơn cười thành tiếng, còn ông Thái Lân chỉ cười mỉm, và nhất là cười bằng mắt, kín và tinh quái.

-Công tử ngồi đây, có việc này chỉ chàng là làm được. Tòa báo neo người, chỉ có ba bốn anh em, anh nào cũng vợ con bận rộn, mà chúng ta cần một phóng viên ngày mai đi vào Rừng Sát bắt Bảy Viễn. Chàng đi được phải không nào?

Dĩ nhiên tôi gật đầu ngay. Sài Gòn cả tháng nay ai không nghe nói tới Bình Xuyên, tới Kim Chung, tới sòng bài Đại Thế Giới, nhất là mấy ngày qua là chiến dịch Phượng Hoàng rầm rộ truy nã tận sào huyệt của mấy tay anh chị.

Thế là ông tổng thư ký viết tên tôi vào một mảnh giấy, bảo cầm qua ngay cho ban trị sự. Tòa báo Ngôn Luận gồm hai căn trên đường Lê Lai, Sài Gòn, căn cho tòa soạn ba bốn người, gồm một cái bàn tròn chính giữa và vài cái ghế xung quanh, kể cả ghế đẩu, trong góc còn một cái bàn nhỏ hình chữ nhật, trên có ấm nước trà nóng và một ống điếu hút thuốc lào; cái ống điếu này sau đó không còn thấy, vì người ra vào ngày càng nhiều, mà người hút thuốc lào không còn mấy.

Lớp ký giả trên 50 tuổi mới hút, thời gian ấy tôi còn nhớ chỉ thấy các ông Tử Vi Lang (còn ký là Thầy Gòn), vài vị nữa chuyên trị Đông Y, phong thổ địa lý, xem tướng xem mạch, có cả mục xem bói, mua nhà chọn hướng… Căn thứ hai cách đó khoảng 5, 6 căn dùng làm văn phòng trị sự, nơi tiếp khách nhận quảng cáo, rao vặt, và văn phòng giám đốc trị sự, lo chuyện tiền bạc.

Tại đây tôi được biết rõ, phóng viên Lê Nguyên được cử đi công tác miền Trung có hai việc: cùng ông giám đốc trị sự đại diện nhật báo Ngôn Luận đi dự Hội Chợ Kinh Tế Bình Định, đi bằng xe lửa, và qua mỗi tỉnh trên đường từ Sài Gòn trở ra, phải gặp ông giám đốc hay Trưởng Ty Thông Tin của mỗi tỉnh Biên Hòa, Vũng Tàu, Nha Trang, Phú Yên, Tuy Hòa, Quy Nhơn… xin phép đặt đại lý và thông tín viên tại mỗi nơi. Đó là công tác mở mang tờ báo ra miền Trung, đi đến việc lập đại lý cũng như đường dây thông tín viên quốc nội, hay ít ra là Nam Kỳ Lục Tỉnh…

Báo chí Sài Gòn giai đoạn di cư 54 kéo dài khoảng ba hay bốn năm là nhiều, từ Tháng Bảy, 1954, tới khoảng 1958 mà thôi. Tình hình tới cuối 1954 không rõ ra sao vì người viết bài này chỉ đặt chân được xuống phi trường Tân Sơn Nhất từ đêm Noel 54, may mà buổi chiều hôm đó ở Hải Phòng cứ phóng sinh chạy vào phi trường Cát Bì, và leo lên được một chiếc Dakota xập xệ, đông nghẹt.

…Từ chiều tối đại gia đình họ Nguyễn chúng tôi đã đưa ra một quyết định khá bạo, khá quyết liệt: Chúng tôi từ các nơi Phủ Lý, Nam Định, Sơn Tây, Hà Nội nay đều đã tụ tập tại Hải Phòng, mảnh đất cuối cùng. Ngoài kia là biển, cuối biển là Sài Gòn. Và chỉ còn một hai tháng nữa là hết tàu, hết máy bay. Vậy từ hôm nay, ai đi được cứ đi, dù đi một mình. Tách ra mà đi, từ mai điểm hẹn là Sài Gòn, chúng tôi không còn thì giờ gặp lại nhau ở đâu nữa, trừ Sài Gòn…

Như thế, nhìn một lượt thật rõ khuôn mặt mẹ, khuôn mặt muôn đời lo toan ngó trước nhìn sau, nhìn thoáng qua hai em, em gái út 9 tuổi, anh nó 10 hay 11, tôi chỉ còn ba người thân yêu trong đời – ông anh bà chị lớn hơn hết trong nhà đã có gia đình không biết đang ở những đâu – tôi biết từ lúc đó với tuổi 16 tôi có thể quyết định lấy cho mình, chỉ cho mình, không ai cần biết tôi ở đâu, làm gì… Và tôi nghĩ tới mình, tôi đếm, tôi đếm qua đếm lại vẫn ra con số 16. Tôi đi nhanh hướng về phía phi trường Cát Bì. Tôi thấy ai cũng nói tới hai tiếng Cát Bì… Có ai bỗng nhắc nhở hôm nay là Noel!

Chẳng bao giờ tôi quên được ngày Noel đó và đêm Noel đó.

Thế và cũng một chiếc Dakota khác đã đưa tôi rời Sài Gòn, chiếc DC3 mà tôi chui vào giữa một đám người che lấp cả khuôn cửa đã đưa tôi lên cao dần cho tới khi không còn nhìn thấy gì nữa ở phía dưới, cũng là Tân Sơn Nhất, tôi chỉ thấy một màu trắng đục của màn lệ, hôm ấy là ngày 18 Tháng Ba, 1975 mãi sau này.

Trở lại với những ngày đầu tiên bước vào nghề báo, nói tóm tắt là phải đi nhặt tin, và viết tin. Tôi may mắn đã bước vào một tờ nhật báo đầu tiên, nghĩa là đã bắt đầu đúng từ chỗ nên bắt đầu: đọc và viết những cái tin nho nhỏ. Mười bảy tuổi tới các trụ sở lao động ở Sài Gòn, tôi đã thực hành ngay quy tắc sáu chữ W khi đạt bút xuống viết: What, When, Where, (Who, Whom), Why? Cái gì, Khi nào, Ở đâu, (Ai, Vì ai), Tại sao?

Rất cẩn thận khi cầm bút, thế nhưng ngay năm 1957 tôi phạm một lỗi lầm do quá tự tin. Nghe tin nhật báo Dân Chủ của nhóm ông Vũ Ngọc Các, Nguyễn Thạch Kiên, Trần Thanh Hiệp bị tịch thu sạch, tòa báo cử tôi qua Dân Chủ ngay xem sao.

Tòa soạn Dân Chủ đặt trên đường Gia Long, gần khu chợ Bến Thành. Thấy tờ báo đóng kín cửa, trên hai cảnh cửa sắt dán một tờ giấy báo lớn, trên viết mấy dòng như “tạm thời đóng cửa cho đến khi có lệnh mới,” tôi tường thuật có viết mấy chữ báo Dân Chủ bị “niêm phong.”

Hôm sau ông Vũ Ngọc Các gọi điện thoại tới ông Hồ Anh, chủ nhiệm Ngôn Luận, than phiền “Dân Chủ bị tịch thu chứ không bị niêm phong.” Tôi bị khiển trách mặc dù lúc ấy tôi thấy như thế, nhưng vấn đề khác ở chỗ: niêm phong là do tòa án đóng cửa dán lên cửa một cái lệnh tòa, còn đây là chính tờ báo bị tịch thu sạch không có báo bán nên tự đóng cửa mà thôi.

Vừa lúc ấy mấy người bạn thân khai trương ngôi trường tư thục Bạch Đằng ở Ban Mê Thuột rủ tôi lên dạy ít giờ, tôi thấy sau hai năm làm nhật báo quả là quá mệt, nên khăn gói lên miền đất đỏ. Thời gian ở Ban Mê Thuột thật không ngờ đã không bao giờ phai mờ trong tâm khảm tôi. Trời đất núi rừng vần vũ mưa đổ, đất đỏ rừng xanh núi tím và những cô học trò như H’Loh đã nhập vào những vần điệu Hóa Thân còn đâu đó quanh đây… “Trên núi non cây cối thì buồn/ Đá ở không hàng muôn nghìn năm…” (thơ Viên Linh)

Những câu thơ như thế đã manh nha từ những ngày Ban Mê Thuột cuối thập niên 1950, những ngày trong Buôn Hô, bên thác nước Hồ Nhà Đèn, cái thác trắng xóa là màn nước chảy, chạy dài theo nóc bờ tường xây cao ngất, từ bên này qua phía bên kia thung lũng, rì rào bất tận, dàn ngang như một tấm màn trắng giữa núi rừng, đôi khi trên bờ tường ấy là một nhóm sơn nữ đầu đội thúng mủng đi thoăn thoắt như những cái bóng, từ bên này qua bên kia thác. Xa xa chót vót trên đỉnh cây đột ngột một tiếng vượn hú, kéo nỗi sầu man thiên vào rừng núi chết lặng trong u tịch. (Viên Linh)

Video: Tin Trong Ngày Mới Cập Nhật

Copyright © 2018, Người Việt Daily News

Lưu ý: Để mở âm thanh, xin bấm vào nút muted icon imagephía góc phải bên dưới của khung video.
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT