Quán Văn – Kỳ 366

Con kên kên!

Đoàn Xuân Thu

Kevin Carter, một phóng viên nhiếp ảnh, sanh ngày 13 Tháng Chín, năm 1960, tại Johannesburg, South Africa (Nam Phi) ở khu toàn người da trắng, trong một gia đình trung lưu.Thời thơ ấu, ông thường thấy cảnh sát truy bắt những tội phạm người da đen gần nơi ông sinh sống.

Gia đình của ông theo đạo Công Giáo, đầu óc cởi mở, không thành kiến nên có lần ông đặt câu hỏi là: “Tại sao thân phụ và thân mẫu ông lại rụt rè yếu đuối trong việc đấu tranh chống tệ phân biệt chủng tộc đang bao trùm trên đất nước Nam Phi?”

Tốt nghiệp trung học, Carter bỏ ngang Đại Học Dược Khoa, không ra trường để làm dược sĩ mà tình nguyện gia nhập và phục vụ binh chủng Không Quân trong 4 năm. Năm 1980, ông chứng kiến một người hầu bàn da đen bị bức hiếp, bị xúc phạm, bị chửi bới. Carter đứng lên cương quyết bảo vệ người da đen nầy. Hâu quả những đồng đội hùa nhau đánh đập ông một trận thừa sống thiếu chết. Thế là ông đào ngũ.

Năm 1983, chứng kiến cuộc đánh bom ở Church Street ở Pretoria, Kevin Carter quyết định trở thành một nhà báo làm cho tờ Johannesburg Star, chuyên săn hình ảnh về sự tàn bạo của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đang xảy ra trên đất nước của ông.

Kevin Carter là người đầu tiên chụp ảnh ghi lại những cuộc treo cổ, hành hình công khai những người Nam Phi da đen vào giữa thập nên 1980. “Tôi kinh hoàng khi chứng kiến những việc họ làm. Và khi bức hình kinh khủng nầy được người dân Nam Phi bàn tán xôn xao lúc ấy, tôi nghĩ rằng chứng kiến những hành động kinh hoàng nầy phải được ghi ảnh lại.”

Kevin Carter.

Tháng Ba, năm1993, Liên Hiệp Quốc tin rằng những bức ảnh thê thảm về nạn đói kinh hoàng sẽ đánh động lương tâm nhân loại để loài người có thể chung tay góp thêm tài lực hầu cứu trợ những người dân khốn khổ đó. Kevin Carter chọn cơ hội làm phóng viên nhiếp ảnh tự do, tường trình về nhưng vấn nạn của nhân loại. Ông đến Nam Sudan đang chìm đắm trong cuộc nội chiến và nạn đói đang hoành hành trên đất nước miền Trung vùng Đông Phi nầy.

Và bức ảnh gây xúc động “The vulture and the little girl” (Con kên kên và em gái nhỏ) diễn tả một em gái nhỏ vì đói cúi gặp mình xuống mặt đất; trong khi một con kên kên đứng chực chờ gần bên đợi ăn xác gầy đói của em. Tờ The New York Times in bức ảnh vào ngày 26, Tháng Ba, năm 1993, làm chấn động lương tâm con người trên toàn thế giới. Hàng trăm độc giả đã gởi thư hoặc gọi vào The New York Times để tìm biết số phận của em gái nhỏ nầy sau đó ra sao? Tòa soạn, một lần rất hiếm hoi, đã trả lời là: “Sau khi con kên kên bị đuổi đi, em bé gái không biết có đủ sức để đến được nơi phân phát thực phẩm chống đói của cơ quan cứu trợ Liên Hiệp Quốc hay không?”

Câu trả lời của ban biên tập tờ The New York Times đã gây phản ứng rất dữ dội từ độc giả. Một số người nói rằng Kevin Carter, phóng viên ảnh đã chụp bức ảnh này, là vô nhân đạo! Tại sao không bỏ máy ảnh của mình ra để chạy đến giúp em gái khốn khổ nầy? (Sự thực là trong vài ngày đó, Kevin Carter đã đến những ngôi làng đầy  người chết đói. Lính Sudan có trang bị súng ống đầy đủ ngăn không cho ông can thiệp; ngay cả khi ông quyết định giúp đỡ đứa bé, những người lính cũng không cho).

Bức ảnh “The vulture and the little girl.”

Tháng Tư, năm 1994, bức ảnh đoạt giải The Pulitzer Prize for Feature Photography, Kevin Carter bước lên đỉnh vinh quang! Cuộc tranh cãi về bức ảnh như bị giải thưởng danh giá nầy đổ dầu vào lửa, bùng lên ác liệt hơn. Là tác giả, Kevin Carter bị chấn thương trầm trọng về tâm lý! (Năm 2011, thân phụ của đứa bé khốn khổ trong ảnh cho biết thật ra đó là một bé trai tên là “Kong Nyong.” Em sau đó đã tìm đến được trung tâm giúp đỡ về thực phẩm của Liên Hiệp Quốc. Nhưng buồn thay năm 2007, em đã chết vì bị bệnh sốt Châu Phi.)

***

Ngày 24, Tháng Bảy, năm 1994, Carter lái xe trở về quê cũ của thời thơ ấu. Ông tự sát bằng cách nối ống xả khói từ chiếc xe bán tải của mình rồi từ giã cõi đời vì ngộ độc khí carbon monoxide khi chỉ mới vừa 33 tuổi. Thư tuyệt mạng để lại, Kevin Carter trăn trối: “Tôi thật sự thật sự rất tiếc. Nỗi đau của cuộc sống đè lên niềm vui đến mức niềm vui không tồn tại… chán nản… không có điện thoại… không trả được tiền mướn nhà… tiền giúp vợ cũ nuôi con… không tiền trả nợ… tiền!… Tôi bị ám ảnh môt cách dai dẳng bởi những ký ức sống động về giết chóc và xác chết… sự tức giận và đau đớn… về những đứa trẻ bị bỏ đói hoặc bị thương, của những kẻ cuồng sát bệnh hoạn một cách sung sướng, thường cảnh sát (lại) là những tên chuyên hành quyết giết người…” “Thôi tôi đi gặp Ken đây.”

Ngay cả lúc người bạn thân nhất, Ken Oosterbroek, bị bắn chết thì Carter cảm thấy người bị bắn phải là mình; vì lúc đó Carter không có mặt bởi ông đang bận trả lời phỏng vấn của báo chí về việc giành giải Pulitzer.

***

Mang măc cảm tội lỗi vì chứng kiến những cái chết tàn khốc của nạn nhân mà bất lực, không làm được gì để cứu họ. Đối phó với nỗi kinh hoàng do nghề nghiệp gây ra, Kevin Carter tìm đến cocaine và các loại ma túy khác để tìm quên vô số vụ giết người tàn bạo! Từ đánh đập, đâm chém, bắn giết. Và hành vi man rợ nhứt, Kevin Carter từng chứng kiến bọn ác đã quàng quanh cổ nạn nhân một chiếc lốp xe hơi chứa đầy dầu rồi châm lửa đốt.

Kevin Carter thường tâm sự với người bạn Judith Matloff, phóng viên chiến trường, về cảm giác tội lỗi khi mình không thể cứu được mà chỉ lo chụp ảnh họ khi họ đang bị giết.

***

Kevin Carter đã dành hết phần lớn cuộc sống của đời mình vào việc vạch trần sự tàn ác xấu xa của chủ nghĩa apartheid (phân biệt chủng tộc) và bây giờ – theo một cách nào đó – nó đã kết thúc, khi Nelson Mandela ra khỏi tù, sau 27 năm bị gian cầm, để trở thành tổng thống Nam Phi vào ngày mùng Mười, Tháng Năm, năm 1994, chỉ sau một tháng ngày Kevin Carter đoạt giải Pulitzer.

Và cũng nhờ bức ảnh đáng nhớ nầy về nạn đói, Sudan đã được cả thế giới biết đến. Carter cuối cùng đã để lại một dấu ấn không thể phai mờ trên lương tâm của cả Địa Cầu!

***

Thế giới bây giờ, chủ nghĩa dân túy hẹp hòi đang tràn lan khắp Địa Cầu như bịnh dịch. Các chánh trị gia mị dân đầy thủ đoạn, lợi dụng lòng ái quốc cực đoan của một số người, ngầm cổ võ, khuyến khích sự dửng dưng trước nỗi thống khố của con người. Ngay cả nước Úc nơi từng nổi tiếng bao dung mà nay cũng không thoát khỏi vòng xoáy khắc nghiệt, dã man đó. Thân phận của một người tị nạn, người đã từng chứng kiến biết bao là tội ác trong đời nhưng dẫu vậy bức ảnh do Carter chụp kia cũng khiến tôi cực kỳ xúc động!

Nên đêm nay, mùa Đông Melbourne,ngoài trời nhiệt độ xuống tới 5 độ C, lạnh buốt! Nhà được sưởi ấm, nhìn qua khung cửa sổ, trời đang lắc rắc mưa, tôi lại nghĩ đến những người cùng khổ của quê mình, quê người, của toàn thế giới, tôi viết một bài thơ:

“Thằng da trắng mập, chạy vòng vòng vì sợ mập.
Em da đen gầy còm lết đi tìm một miếng ăn
Con kên kên kiên nhẫn chờ em chết.
Khi tử thần quanh quẩn ở đâu đây!
Nhà nhiếp ảnh thản nhiên nhìn, tay bấm máy!
Thế giới gì tàn nhẫn vậy Chúa ơi?”

Già rồi! Tuyến lệ của tôi đã cạn lâu rồi nhưng có những nỗi đau đớn của đời người, biết bao nhiêu nước mắt cho đủ chớ?!

(Nguồn: Patrick Willay, [email protected])



60 năm nhìn lại: Cuộc di cư 1954 – vĩnh biệt Hải Phòng

Trùng Dương
(Kính dâng hương hồn cậu mợ, với lòng tri ân sâu xa)

Khi cuộc di cư 1954 diễn ra, tôi vừa lên 10 tuổi, đang sống với gia đình ở Hải Phòng, cái thành phố hải cảng đã trở thành chặng cuối cùng đối với hàng trăm ngàn người Việt miền Bắc muốn di cư vào Nam thay vì ở lại sống dưới sự cai trị hà khắc phi nhân bản của Việt Minh, tên gọi của những người Cộng Sản hồi ấy.

Cũng cái thành phố hải cảng này đã là nơi Bác Sĩ Trung Úy Hải Quân Mỹ Thomas A. Dooley, và vài quân nhân Mỹ đã làm việc trong suốt 11 tháng, từ giữa Tháng Tám, năm 1954, tới giữa Tháng Năm, năm 1955, để giúp dân tị nạn ổn định sức khỏe trước khi gửi họ lên tầu Mỹ di cư vào Nam. Kết quả của thời gian hoạt động này đã được Bác Sĩ Dooley ghi lại trong cuốn hồi ký “Deliver Us From Evil” (“Xin cứu chúng tôi khỏi mọi sự dữ, ” trích từ một câu trong Kinh Lạy Cha của tín đồ Thiên Chúa Giáo) xuất bản vào năm1956 (*). Cuốn sách, mô tả, với sự quan tâm chân thực, xót xa của một vị lương y mới ra trường, những giao tiếp của ông với dân di cư từ các vùng quê đổ về, phần lớn là những giáo dân thuộc đạo Thiên Chúa, đói rách và bệnh hoạn, và nghe kể về những cảnh huống tàn bạo ngoài sức tưởng tượng mà những người dân quê phải gánh chịu do những người Cộng Sản cuồng tín gây ra.

Cha mẹ tôi không có ý định di cư vào Nam. Cha mẹ tôi nguyên là con nhà nông thuộc giới điền chủ. Ông bà cùng sinh ra vào khoảng năm 1910, và lớn lên ở làng Trình Xá, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông. Cha tôi là con trai duy nhất trong một gia đình gồm năm chị em. Ông học lực chỉ xong được bằng tiểu học, và với tí vốn liếng học thức đó, ông được bầu làm lý trưởng, hay xã trưởng, thời vua chúa xưa là hương mục, có trách nhiệm trông coi tài sản công và tư của làng. Hồi còn nhỏ tôi nghe mẹ tôi kể chuyện là, vì ông có máu mê cờ bạc, nên có cái triện để đóng dấu trên những giấy tờ sang nhượng ruộng đất bà nội tôi nắm giữ luôn, còn cẩn thận cuốn trong ruột tượng quấn quanh bụng suốt ngày đêm cho chắc ăn, để ông không tự do bán ruộng đất của gia đình. Do đấy, mỗi lần có ai tới xin ông lý trưởng đóng nhận một sang nhượng bất động sản nào đó, ông lại phải nói với mẹ cho mượn cái triện. Có lẽ cái say mê nhất của ông là xe hơi và máy móc mà những lần ra tỉnh chơi ông đã thấy, và có để ý theo dõi việc làm ăn của một ông chú của tôi, chủ một hãng xe đò ở Hà Nội.

Tôi không nhớ ông bà quyết định dọn ra tỉnh vào năm nào, vì chỉ có ở tỉnh ông mới được thỏa mãn lòng say mê máy móc xe hơi, song căn cứ vào năm và nơi sinh, là tỉnh Sơn Tây, của các anh chị kế tôi, thì có lẽ vào khoảng năm 1940 hay trước đó đôi năm. Tóm lại trong đám anh chị em 11 đứa tụi tôi thì ba người đầu sinh ở quê, năm người, trong đó có tôi là thứ bẩy, ra đời ở Sơn Tây, và ba đứa em cuối cùng sinh ở Hải Phòng. Thoạt đầu cha tôi làm công cho người ta. Dần dà ông tậu được một cái xe chở hành khách, dạy anh Cả và vài người cháu trai đồng lứa học lái, sửa xe và đi theo làm lơ xe. Có lần, mẹ tôi kể, chiếc xe đò của ông bị quân đội Pháp trưng dụng đi sang tận bên Miên, Lào mà mẹ tôi không được tin tức gì tới hai tuần, cuối cùng ông vể kể chuyện bà mới hay. Ông làm ăn vất vả nuôi một bầy con lúc nhúc. Cũng nhờ sự chịu khó cần cù của ông mà hồi xẩy ra nạn đói năm 1945 giết chết cả triệu người miền Bắc, gia đình tôi lớn bé không có ai bị thiếu ăn cả.

Các thủy thủ trên tầu Hoa Kỳ USS Bayfield cầm biểu ngữ chào mừng đoàn người di cư.

Trí nhớ của tôi bắt đầu ghi nhận được là lúc gia đình tôi đã dọn xuống Hải Phòng, có lẽ vào cuối thập niên 1940. Nhỏ nên không biết gì về tình hình chiến sự sôi động hồi ấy, nhưng tôi nhớ có lần anh lơ xe hớt hãi chạy về giữa ban ngay, nói không ra hơi, báo với cha tôi, vỏn vẹn: “Ông ơi, xe bị mìn lật rồi!” Cha tôi lặng người chết đứng, mẹ tôi ngưng mọi việc đang làm thất thần nhìn cha tôi, trong khi lũ nhỏ chúng tôi biết đã tới lúc đi chỗ khác chơi.

Cha tôi, như nhiều người Việt khác, là người có khả năng sinh tồn mạnh mẽ, sẵn sàng vượt qua mọi trở ngại và bất hạnh của đời sống để lo cho gia đình. Vào các năm trước cái gọi là Chiến Thắng Điện Biên Phủ, rồi tiếp theo là việc ký kết Hiệp Định Genève vào mùa Hè năm 1954 giữa Pháp, chính phủ Bắc Việt của Hồ Chí Minh, Lào, Trung Cộng, Liên Xô và Anh (Hoa Kỳ từ chối không ký, còn chính phủ Nam Việt Nam không nằm trong những phe ký nên không chấp nhận hiệp định đình chiến này) được ký kết, cha tôi đã làm chủ một hãng xe chở hành khách gồm cả xe đò và xe nhỏ, hình như hiệu Citroen, không rõ tại sao gọi là xe lô-ca-xông, tôi đoán từ chữ “location,” ngược xuôi các tuyến đường Hà Nội-Hải Dương-Kiến An-Hải Phòng và Hải Phòng-Đồ Sơn, tôi nhớ đại khái thế. Hãng xe của cha tôi tên là Đông Bình, nên người ta hay gọi cha mẹ tôi là Ông Bà Đông Bình, chúng tôi là con Ông Bà Đông Bình. Tôi không bao giờ có dịp hỏi tại sao ông chọn tên đó, nhưng nghĩ có lẽ đó là do khao khát được nhìn thấy hòa bình trên dải đất dọc theo bờ biển Thái Bình Dương lâu nay chiến tranh triền miên này. Hai người anh họ con mấy bà bác ruột của tôi cũng mỗi người được cha tôi nâng đỡ tậu được một hay hai xe chở hành khách, tự đặt tên là Bắc Bình và Nam Bình. Tôi không rõ vì sao cha tôi không nghĩ tới việc mua bất động sản, mà suốt thời gian sống ở Hải Phòng ông thuê nhà chứ không mua. Tôi còn nhớ ngôi nhà chúng tôi ở trước khi di cư vào Nam là ở số 3 Ngõ Nghĩa Lợi, một đầu ngõ gặp đường Cát Dài, và đầu bên kia đụng một đường rầy xe lửa nằm bên cạnh một hồ sen mà hình ảnh vẫn còn in trong trí nhớ tôi, mà loài sen là hoa tôi rất thích. Không mua nhà đất có lẽ vì cha tôi thấy không cần thiết vì ông chắc chắn sẽ thừa hưởng nhiều ruộng đất để lại của bà nội tôi khi bà qua đời.

Vào những ngày trước khi kết thúc cuộc chiến mà sách vở gọi là Cuộc Chiến Tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954) và nhiều người trong chúng ta cho là không cần thiết vì sau Đệ Nhị Thế Chiến đa số các nước thuộc địa đều lần lượt trước sau lấy lại được độc lập mà không cần đổ máu, tin dữ từ nhà quê ra: Bà nội tôi chết sau khi bị trúng một mảnh mọc chê vào đầu trong khi đang trốn dưới một cái phản gỗ vào một đêm nọ. Bà tôi chết khi được 84 tuổi, tuy già nua nhưng cụ còn khá minh mẫn. Mỗi lần nhớ đến bà nội thì tôi không thể không nhớ tới một lần về quê ăn Tết, tôi ở miết bên nhà ông cậu ruột vì ở đó có các người em họ cỡ tuổi tôi hay lớn hơn. Đến giờ đi ngủ, bà tôi lụm cụm tay xách cây đèn dầu tay chống gậy sang đón về nhưng tôi không chịu về. Tôi sợ những nét già nua nhăn nheo của bà một phần, nhưng sợ nhất là cái quan tài bằng gỗ sơn đỏ bà sắm sẵn để trong cái gian đầu nhà chuyên để chứa thóc gạo và các đồ lỉnh kỉnh khác.

Hiệp Định Genève được ký kết vào ngày 20 Tháng Bảy, năm1954, chia cắt Việt Nam làm hai, miền Bắc do Việt Minh cai trị, miền Nam sau đó trở thành một quốc gia mới. Người dân hai miền có 300 ngày để chọn nơi mình muốn sinh sống. Quê tôi là một trong những vùng được Việt Minh tiếp thu sớm nhất vào cuối năm 1954. Cha tôi quyết định gửi vợ chồng anh Cả và đứa con gái đầu lòng mới được mấy tháng về nhà quê sống. Cùng đi với anh chị Cả là anh Sáu, tôi và thằng em Chín. Như nhiều chủ gia đình Việt xưa, cha tôi ít khi giải thích lý do ông có một quyết định nào đó, hoặc có thì ông cũng chỉ bàn với anh Cả, vì khi viết bài này tôi hỏi chị Năm, người chị kế tôi, chị cũng nói không rõ tại sao cha tôi quyết định gửi một số con về quê ngay sau khi đình chiến. Tôi suy đoán là thứ nhất, anh Cả hồi ấy bị động viên, đã mặc đồ lính (tôi còn nhớ, mặc dù hồi ấy chỉ mới 9, 10 tuổi, đã trố mắt trước vẻ đẹp trai khác thường của ông anh trong bộ quân phục mầu rêu khít khao với thân hình và cái nón chào mào cùng mầu), có lẽ là bỏ ngũ về quê sống, có thể là do ý muốn của cha mẹ tôi vì lo cho cậu con cả. Ngoài ra, có thể cha tôi, cũng như đa số người Việt ở thành thị hồi ấy chưa biết gì về hậu quả của các cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu đã và đang diễn ra ở các làng quê nhưng chưa về tới làng tôi, nên ông gửi một số con về quê để tiện thể trông nom ruộng đất chăng.

Chúng tôi về quê sống được vài tháng vào cuối Hè và đầu Thu, thì một bữa chị Năm, hồi ấy mới 14 tuổi song tính nhanh nhẹn nên được cha tôi tin cậy giao phó việc đi đi về về đem tiền bạc và thông tin, được cha tôi gửi về bảo thu xếp về Hải Phòng để đi Nam. Để tránh nghi ngờ là có ý định đi Nam, có thể bị bao vây giữ lại, khi ra tới Hà Nội, lúc ấy cũng đã bị tiếp thu, chúng tôi phải giả bộ như sẽ sinh sống ở đó, bằng cách thuê một căn phòng nguyên là lớp học ở trong một nữ tu viện và trường học mà hầu hết nhân sự đã di cư, nằm trên đường Hai Bà Trưng, để ở ít tuần. Anh Sáu và thằng Chín thì đã theo chị Năm về Hải Phòng trước, còn tôi ở lại với gia đình anh chị Cả để giúp trông con cho chị. Để cho màn trình diễn có vẻ thực hơn, tôi còn được ghi danh đi học lớp ba hay tư ở một trường công tại đây. Tất nhiên vì là con nít nên tôi không được cho biết các mưu tính đó của các người lớn.

Khi chúng tôi chuẩn bị đi Hải Phòng thì tôi được người lớn dặn dò là nếu có ai hỏi đi Hải Phòng làm gì thì nói là đi thăm người nhà sắp đi Nam để khuyên họ ở lại, đừng đi Nam nữa vì nước nhà đã độc lập tự do. Ngoài ra, riêng tôi còn được giao thêm một việc nữa, đó là khi các cán bộ Việt Minh sắp khám đến chị Cả đang bế cháu bé thì tôi phải tìm cách… cấu vào đùi con bé thật mạnh để nó phải khóc ré lên và chị Cả sẽ đưa nó cho tôi bảo bế ra ngoài. Thế nhưng chính việc đó lại làm cho người nữ cán bộ khám chị Cả càng sinh nghi, túm tôi lại và lột lấy hai chiếc giầy trên chân con cháu, lôi ra và tịch thu hai cọc giấy bạc tiền Đông Dương còn mới tinh. Tuy thế, chúng tôi sau đó cũng được phép lên xe đi Hải Phòng, chỉ có mớ tiền ở lại. Của đi thay người, chị tôi ứa nước mắt suýt xoa tiếc của song tự an ủi. Lúc ấy chúng tôi hoàn toàn không biết tới những cảnh tìm đường vượt thoát vô cùng thương tâm của bao nhiêu ngàn con người muốn tìm đường tới Hải Phòng, một thành phố đang hấp hối song vẫn còn là nơi cho họ cái hy vọng tới được Đường Tới Tự Do – Passage to Freedom – như tên Chiến Dịch Đường Tới Tự Do do Hải Quân Hoa Kỳ đảm trách, bên cạnh Pháp và Anh lo phần chuyên chở người vào Nam bằng máy bay (**).

Nếu trong cuộc di cư 1975 và sau đó, câu hỏi của hầu hết người Việt ở Miền Nam, trong một cái xã hội vô vọng mà “đến cả cái cột đèn nếu biết đi thì cũng tìm cách đi,” là làm sao để đi; thì ở thời điểm 1954 tình thế phức tạp hơn, và câu hỏi lớn nhất của họ là nên đi hay ở. Trước hết, một trong những điều khoản của Hiệp Định Genève là hai năm nữa, vào năm 1956, sẽ có một cuộc tổng tuyển cử để thống nhất đất nước và người dân hai miền Nam Bắc tự định đoạt lấy thể chế chính trị thích hợp. Đây chính là điều đã, theo tôi, khiến nhiều người dân miền Bắc quyết định ở lại để chờ cái ngày không bao giờ đến đó, một phần cũng vì quá mệt mỏi với chiến tranh và muốn thấy hòa bình bằng mọi giá, và cũng vì tiếc của, bên cạnh ảnh hưởng bởi một chiến dịch tuyên truyền ráo riết của Việt Minh. Tuyên truyền và cả dọa nạt, nhất là đối với dân quê, rằng tầu “há mồm” của Mỹ sẽ đưa họ ra biển rồi mở cái cổng mồm đó và trút họ xuống biển, hoặc thủy thủ Mỹ sẽ nướng con nít ăn thịt nếu đến với họ, v.v… Và thứ hai là dạo ấy chỉ có một số ít nghe biết, chứng nhân thì lại càng ít hơn, được những cuộc tàn sát giết hại và đày đọa những người không cùng chính kiến của người Cộng Sản.

Cha tôi, tôi nghĩ, thuộc loại người đã quá mệt mỏi với chiến tranh, muốn tin vào cái viễn ảnh tổng tuyển cử năm 1956, và nhất là tiếc của, của do ông đã tốn bao mồ hôi nước mắt tạo dựng nên và đất đai mà ông tưởng là sẽ được thừa hưởng của bà tôi. Tuy vậy, ông cũng còn bán tín bán nghi, chưa quyết sẽ có di cư hay không. Và có lẽ để cho dễ dàng quyết định vào phút chót, cha tôi bảo anh Cả đem gia đình anh và một số các em vào Nam, trong đó có chị Ba, chị Năm, anh Sáu và tôi.

Nghe biết sẽ phải đi Nam với chúng tôi, chị Ba khóc lóc thú nhận đang yêu anh Tuấn và muốn được cha tôi chấp thuận cho lấy anh, mà gia đình anh Tuấn thì đã nhất định ở lại. Chị Ba là người đẹp nhất trong đám sáu chị em gái chúng tôi, và khá tân tiến: chị là người đầu tiên trong gia đình tôi đi uốn tóc, và chị còn học chơi đàn guitar nữa. Tôi hay ngồi xem chị gẩy đàn và hát bài “Dư Âm,” có lẽ là bài chị chọn để học đánh đàn, nên tôi rất nhớ bài đó vì nghe tới nghe lui. Cha tôi tất nhiên là rất tức giận vì bị đẩy vào một trường hợp khó xử: trước khi chấp thuận cho chị Ba lấy anh Tuấn, ông lại còn phải xin từ hôn với gia đình anh Nhân, là người đã làm đám hỏi với chị Ba, chỉ chờ ngày cưới. Việc chị Ba từ hôn vậy mà cũng thành một tin trên một tờ báo địa phương, tôi còn nhớ đã đọc được. Dù vậy, chị Ba cuối cùng cũng được toại nguyện: lấy chồng trong một đám cưới chạy tang rất đơn sơ, vì bên gia đình chồng đang có tang. Nghe nói chị bị mẹ chồng đối xử không tốt. Nhiều năm tháng sau đó, tôi được đọc mấy cái bưu thiếp chị gửi vào xin một chiếc xe đạp. Tôi không nhớ lời yêu cầu của chị có được đáp ứng. Chị đã qua đời vì bệnh tiểu đường cách đây gần hai thập niên.

Khác với đa số người di cư 1954 đáp tầu Mỹ, chúng tôi được di tản bằng máy bay do Pháp cung cấp. Đó là vào một ngày Tháng Ba, năm 1955, và đấy là lần đầu tiên tôi được đi máy bay, nên bụng dạ làm reo, ói lên ói xuống, ngồi trên xe GMC chở từ phi trường Tân Sơn Nhất đến nhà ông chú ở đường Phan Đình Phùng để tá túc tạm, tôi vẫn còn ói. Chúng tôi vừa mới ổn định chỗ ở tại một căn nhà gỗ, không có cầu tiêu riêng, thuê được ở bên Khánh Hội chưa được bao lâu thì có thư của cha tôi nói ông đã quyết định ở lại, bảo mấy anh em ở trong Nam tự lo liệu lấy. Tôi khóc sưng cả mắt, nghĩ từ đây sẽ không còn gặp lại cha mẹ và các em, nhất là Tám, cô em thua tôi hai tuổi song hai đứa rất gần nhau từ hồi nhỏ. Chị Năm mới 15 tuổi, phải khai gian lên hai tuổi để xin đi làm sau khi học lấy được cái bằng đánh máy, rồi sau đó vừa đi làm vừa đi học thêm tiếng Anh. Anh Cả thì mướn xe taxi chở khách, trong khi chị Cả đi buôn quần áo từ trong Chợ Lớn rồi thuê sạp ở chợ bán lại. Anh Sáu và tôi còn nhỏ, 12 và 10 tuổi, nên được đi học.

Tôi làm quen với đời sống của vùng đất mới có tên là Sài Gòn, thấy cái gì cũng lạ. Một vài chi tiết mà tôi thấy ngộ nghĩnh, nói lên đặc tính dễ dãi và xởi lởi của người Miền Nam: Đi mua đồ giá năm cắc, tức 50 xu, đưa tờ giấy một đồng, người bán hàng thản nhiên xé tờ giấy bạc làm đôi cái rẹt, đưa trả lại mình một nửa. Tôi thích lối làm bánh mì của miền Nam, đầy tính sáng tạo: ngoài thịt nguội hay ba tê còn có đồ chua, ngò và dưa leo, mà ở bên Mỹ bây giờ chúng ta gọi là Vietnamese sandwich.

Nhưng cái tôi thích nhất của miền Nam là vô số truyện bằng tranh, một loại sách không thấy ở miền Bắc, và những nhà cho thuê truyện, thay thế cho những thư viện công cộng không hiện hữu ở Sài Gòn nói riêng và Việt Nam nói chung. Miền Nam, từ đấy, mở ra không biết bao nhiêu là cơ hội, so với miền Bắc sau ngày bức màn tre buông xuống. Kể từ ngày bắt đầu cầm bút sáng tác, đặc biệt sau khi đọc cuốn sách “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” của Hoàng Văn Chí (***), tôi thường cố thử hình dung mình sẽ ra thể nào nếu lớn lên ở miền Bắc. Có lẽ, giống như một nhà phê bình Miền Bắc nói vài năm trở lại đây, rằng nếu họ được sống ở miền Nam thì họ cũng sáng tác nên những tác phẩm đâu thua của văn nghệ sĩ của miền Nam, và ngược lại.

Thế rồi đùng một cái, lại có thư của cha tôi nói quyết định đi Nam. Lúc bấy giờ đã gần tới ngày Việt Minh tiếp thu Hải Phòng. Nhà của cha mẹ tôi cũng là nơi các người thân trong họ từ làng quê, mượn lý do “đi Hải Phòng khuyên người thân ở lại vì nước nhà đã độc lập tự do” để xin giấy thông hành di chuyển, tới ở tạm trong khi chờ ngày lên tầu đi Nam. Cha mẹ tôi chắc đã nghe không thiếu các thảm cảnh cải cách ruộng đất và địa chủ bị đấu tố và xử tử ở các vùng quê, bên cạnh các chuyện cấm đạo, giáo dân bị buộc đi học tập chính trị vào đúng lúc có Thánh lễ, các giáo sĩ bị tra tấn, hành hung. Một trong những chuyện kinh hoàng nhất là việc một ông linh mục bị Việt Minh đóng bẩy cây đinh xung quanh đầu giả làm mão gai, được vài giáo dân chở tới trại tạm trú ở Hải Phòng dưới sự điều động của Bác Sĩ Dooley để nhờ ông cứu chữa (****). Thấy không thể ở lại được nữa, cha mẹ tôi bán tống bán tháo tài sản để đi Nam, bằng lòng nhận vàng thay vì tiền mặt, hồi ấy là tiền Đông Dương có in hình ông Bảo Đại. Những gì không bán được hay muốn giữ lại thì giao cho chị Tý, đã ở với gia đình tôi được vài năm để nuôi em gái út của tôi, đi theo tầu Mỹ chở vào Nam, cùng với anh Tư và Út, cận ngày Hải Phòng đóng cửa. Tóm lại, gia đình tôi tổng cộng gần hai chục người thì chia nhau đi Nam thành bốn đợt, kể cả đợt chị Hai theo chồng lúc ấy có quốc tịch Pháp di cư vào Đà Nẵng trước mọi người trong gia đình.

Khi cha mẹ tôi đem vàng đi bán, định để mua một căn nhà để gia đình an cư và lo chuyện xây dựng lại cuộc đời thì khám phá ra là toàn vàng giả. Tôi có thể hình dung ra nỗi đau đớn của ông bà khi ở tuổi ngoài 40, chợt thấy hai bàn tay trắng, với một lũ con mà phần lớn còn nhỏ, tại một vùng đất lạ hoắc.

Dù vậy, tôi không hề nghe ông bà than phiền hay nuối tiếc đã bỏ mọi thứ để đem anh chị em tôi đi Nam. Tôi sẽ mãi mãi ghi ơn ông bà đã chọn lựa miền Nam làm nơi cho anh chị em tôi lớn lên, trong một không khí tự do dù là tương đối. Chỉ tiếc là 20 năm sau, chúng tôi lại phải đối đầu với thêm một lần bỏ cửa bỏ nhà ra đi tới những nơi còn xa hơn từ Bắc vào Nam, tuốt tận bên kia đại dương nghìn trùng. Và không đứa nào trong vài anh chị em chúng tôi đi thoát được khỏi Việt Nam vào những ngày cuối cùng của Tháng Tư, năm 1975, đã đem theo được cha mẹ già. Cha tôi không muốn đi, nói đã lớn tuổi, rằng ông không dính dáng gì tới chính quyền Cộng Hòa hay Mỹ, nên chẳng lo, và có lẽ cũng không muốn nhờ vả con cái. Mẹ tôi thì rất muốn đi khỏi Việt Nam, nhưng thấy cha tôi không muốn đi nên cũng lặng lẽ gạt nước mắt nhìn chúng tôi lần lượt biến mất khỏi cuộc đời bà.

Mẹ tôi mất khoảng một năm sau ngày Sài Gòn thất thủ, có lẽ vì bị tim. Cha tôi nể lời con cái bằng lòng đi Mỹ đoàn tụ vào đầu năm 1983, nhưng cũng chỉ sống được tám tháng thì qua đời, vì bệnh một phần, song có lẽ vì cảm thấy quá cô quạnh.

Cuộc di cư vĩ đại này có sự tham dự của 115 chiến hạm và các loại tầu lớn, nhỏ khác của Mỹ, và đã chuyên chở trên 310, 000 người trong số 800, 786 tổng số người di cư cho tới Tháng Năm, 1955, kể cả dân lẫn quân sự, từ Bắc vào Nam. Số còn lại do các cơ quan của chính phủ Việt, Pháp và Anh đảm trách, bằng phương tiện vừa tầu thủy vừa máy bay. Ngoài ra, có khoảng trên 40,000 người tự túc bằng các phương tiện riêng. Số người bị Việt Minh ngăn cản bằng mọi cách, kể cả đe dọa và hành hung, không cho tới được Hải Phòng để đáp tầu vào Nam ước tính lên tới nhiều chục ngàn người.

[TD, 2014/07]

Chú thích:

(*) Thomas A. Dooley, M. D. , Deliver Us From Evil – The Story of Viet Nam’s Flight to Freedom, New York: Farrar, Straus and Cudahy, 1956, có thể tải xuống toàn bộ cuốn sách tại https://archive. org/details/deliverusfromevi006715mbp. Cuốn sách đã được chính phủ Mỹ hồi ấy dùng vào chiến dịch tuyên truyền chống Cộng của thập niên 1950 và 1960. Cũng do đấy mà có nhiều người Mỹ, kể cả giới học giả thuộc phong trào chống cuộc chiến tại Việt Nam vào thập niên 1960, đã kết luận, hoặc để biện minh cho khuynh hướng chính trị hay hành động chống đối nào đó của mình, rằng ông Dooley đã thiên lệch vì làm việc cho cơ quan tình báo Mỹ CIA dạo ấy. Có lời phê bình còn độc địa hơn cho rằng những chuyện trong sách hoàn toàn bịa đặt cho chủ đích tuyên truyền của chính quyền Mỹ.

(**) Xem “60 Năm Cuộc Di Cư Lịch sử 1954, đọc ‘Chiến dịch Đường Tới Tự Do’” http://www. diendantheky. net/2014/07/trung-duong-60-nam-sau-cuoc-di-cu-lich. html

(***) Hoàng Văn Chí, Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc, http://www. talawas. org/talaDB/showFile. php?res=9495&rb=08

(****) Deliver Us From Evil, trang 198; và “Viet Nam: The Lesson of Seven Nails, ” Time, 21 tháng 2, 1955, http://content. time. com/time/magazine/article/0, 9171, 892973, 00. html

Bản đồ về hành trình của mỗi chuyến tầu do Hải Quân Hoa Kỳ đảm trách chở người di cư từ Hải Phòng vào Sài Gòn trong cuộc di cư năm 1954-55. (Hình National Geographic, số tháng 6-1955)



Thơ Lê Minh Hiền

đại lục buồn

em có bao giờ buồn không em
có nghe mằn mặn buồn môi mềm
có nghe tiếng thở dài độc thoại
lặng người nhịp một tiếng con tim

em có bao giờ buồn không em
có lê đôi chân trần lối mưa
có quơ hai nhánh tay mòi mỏi
ước lúc buông mình xuống cội hoa

em có bao giờ buồn không em
mùa nguyên xuân đẹp chuyện hoang đường
mùa đông miên ấm nồng huyền thoại
lặt cánh Lụa Là: không… có… không…

em có bao giờ buồn không em
ta đi qua những tháng năm dài
nhớ một chút tình xưa đã mất
nên lời thơ có bao giờ vui

 

đời ta xưa ban mai lắt lơ
bây giờ là những chiều và khuya
vừa xếp vần thơ vừa muốn khóc
nhìn quanh nhìn quẩn chỉ có ta

đời ta dài suốt bước mộng du
cả một đại dương mặt sóng duềnh
trầm tích đáy sâu thành đại lục
ngàn năm đại thụ rễ quấn quanh
stanton california, june 25th 2019.

Yêu em con gái

Qua hạ thu
về anh nhớ ngất ngư
em như từ quá khứ
ôi buồn thẩn thơ là buồn
Nhớ em
hồn anh tuổi trẻ vui với muốn
đêm xưa đưa nhau về còn ức..

Bây giờ đã biết mùi đời
thì thật lạ kỳ:
muốn yêu thôi
chỉ yêu qua dáng yêu

Thương lắm
những em con gái xinh và
chân dài thon
ôi mông nở nét hoa thật phiền

Đêm nay anh
nghe hơi thở nhanh
từ những tế bào
ôi sao xanh mưa ngàn..
Stanton California, July fourth 2019

Tiếu Diện

Có chút gì
đang bình yên trôi
len lỏi nhẹ vào nơi đây hồn hoang

bây giờ khởi sự 7 giờ
đây đó đôi ba cơn gió chiều mát lạnh
đây đó không gian vũ trụ bốn mùa nắng sớm mưa khuya
đây đó thời gian tiếp tục làm thinh
trong rong ruổi cuộc hành trình
trên con đường thế kỷ tràng giang trăm bề phiền muộn

Chợt cùng với vệt hoàng hôn cuối cùng
có tiếng hát cất lên
lúc vơi lúc đầy
tiếng rất ngoan
hiền con gái
vàng hườm
nho nhỏ trong xanh
Tiếu Diện… Tiếu Diện ơi!
khuôn mặt ai ngày nào thật xinh
20 năm rồi không gặp
Cypress… Cypress*
những đêm hành lang đại học
những lớp English lâu rồi quên tên,
chỉ nhớ lớp English 100 cuối cùng
rồi ra trường mình xa nhau

…Hình như có mưa
đầu mùa khô hạn xác xơ…
rơi vô tình
vào mặt
buốt kim châm
kịp nhận ra
không còn nghe âm ba ngân vang
em
con chim sâu
không còn thấy vù vù lên xuống
trên mấy nụ hồng đang chìm vào đêm
mơ hồ có gì đó
không bình thường đang lạc loài

không còn nghe tiếng hát em
bóng tối
và nỗi cô đơn
dẫu biết em vẫn còn tồn tại đâu đây mà
sao xa hẳn
như tiếng hát em bay xa
theo mặt trời đỏ rực vào lòng đại dương đen

Sóng lòng chỉ cảm
không thấy
không ngừng xâm thực
bờ ta
trong quá khứ, hiện tại và ngày mai
Stanton California, June 27th 2019

*trường Community College Cypress in Stanton
* Lê Minh Hiền.
(Nguồn: [email protected])


Thơ Mặc Phương Tử

Giáp hạt mùa về

Giáp hạt mùa về
Thơm đất mới,
Mầm tươi một thoáng
Gió lên cao.
Cánh chim chở hạt mù sương đến,
Hương núi rừng
Về mộng dưới chiêm bao.

Giáp hạt mùa về
Nghe lá thức,
Trên cành
Còn trĩu giọt sương khuya.
Thênh thang lối cũ
Tình hoa cỏ,
Hạt bụi nằm nghe mỗi bước về.

Giáp hạt mùa về
Hoa đất nở,
Trăng bàng bạc sáng
Trời mênh mông.
Nghiêng nghiêng
Một chén quan hà rót,
Thành suối nguồn thơ tiếp nắng hồng.
(Nguồn: sangtao@org)



Thơ Giao Yên

Dòng Yên Tử
Há luận chuyện trò chim hoặc chóc
Hổ mang đến học tẩy trần duyên
Lâm vào khúc trúc như nhiên
Quay đầu thuần phục dòng Yên Tử đầy.

Ngao du
Nữa mai thân xác hoàn tro bụi
Vía đưa hồn thoát xác thân trơ
Lời kinh dạy trược trầm, thanh thướng
Tựu khí thanh đúc kết con đò
Tư tưởng tốc vi siêu tốc độ
Ðịu làn yến sáng dạo huyền cơ.

Ngẫm nghĩ
Nghĩ loài ăn cỏ sớm chiều
Trường trai mà chẳng ai kêu bằng thầy
Hiền từ sao bị phanh thây?
Nằm đất vướng dục còn đày đọa thân.

Sắp xong
Từng con sóng lục lên đường
Ðể mai cuồng nộ hết cuồn cuộn dâng
Thuyền nay tí tửng níu dòng
Kìa em sóng bạc sắp xong nhiệm kỳ.

Áo em xuân
Thướt tha thần thoại vô thường
Ðôi tà khép mở hoang đường lòng ta
Cuối sân đầu ngõ vào ra
Áo xuân em trút mù sa phía này.

Bên mái tranh chiều
Mái chiều sợi khói lừng lừng
Khói quan hà lại tập trung vào lòng
Thế rồi thời khó thong dong
Chắt chiu vài chữ đôi dòng giải khuây.

Ðủ rồi đó
Nói gì người cũng chia tay
Cho mình chưng hửng đắng cay tin người
Cho mình xí được thói đời
Phân bua thôi đã đủ rồi đó nghe!

Trời đổ
Gió lay lặt lá lìa cây
Lá vàng tập kết vàng đầy ngõ thuôn
Phóng tay giải phóng mưa nguồn
Ðất ơi! Trời đổ nỗi buồn còn nguyên.

Có kẻ
Nghèo thường liều mạng
Có kẻ chí mang
Ðã làm nên chuyện.

Khôn
Ðất khách mình lên nước
Về quê mình xuống nước
Khỏi uổng ghế xa lông
Chết chi tay tuột luốt
Oai hùng miệng là xong
Biệt đâu rồi cũng được
Mặc ếch nhái rêu rong
Có chi mình chạy trước.

Ðối cảnh trời đông
Cỏ còn tơi tả huống chi hoa
Bấc quét trời đông buốt lắm mà!
Ðôi cảnh lạnh lùng thôi chẳng nghĩ
Một nhành rong giạt biển bao la.

Tình buồn
Lòng em ủ nhánh trăng gay
Tình em gió thổi mây bay đoạn đành
Buồn len đến lấn thâm canh
Nén đau nghe nhột phong phanh sự tình.

Nắng hè đen nghịt
Dáng mơ nhón gót vào tâm thức
Rồi để mặc ta thấy thiệt tình!
Người để mặc ta trong biển nhớ
Dập dìu tư lự cứ linh tinh
Biệt ly nhuộm nắng hè đen nghịt
Ve cũng chia sầu gã quá tin!
Nhan sắc mỹ miều nhiều gã lụy
Nhiều tay o bế chẳng riêng mình
Nhân tình đâu phải là thê thiếp
Phụ bạc hề chi phải bất bình.



Thơ Trần Vấn Lệ

Thần Tượng

Tôi coi Nguyễn Công Trứ là một Thần Tượng.
Với tôi, Nguyễn Công Trứ là Công Trứ!
Ông có Công với Đất Nước!
Ông Trứ Danh!

Tôi ghi nhớ lời Ông nói:
“Thân còn chưa có, có chi Danh.”
Tôi biết có nhiều lúc Buồn Tênh
Ông cười…

Ông từng muốn mình hóa kiếp thành Cây Thông
mọc bên trời, cheo leo, gió thổi
Ông muốn có tri âm tri kỷ
Ông muốn có người nghịch ngợm leo trèo lên ông!

Không một cây thông
người ta đã đốn!
Nguyễn Công Trứ bây giờ ở đâu
trong đống tro than lổn ngổn?

Thế là đúng:
“Thân còn chưa có, có chi danh?”
“Tri ngã giả? Bất tri ngã giả?
Ta vẫn là Ta…”

…như nước Ta!
như quê Ta!
như cõi người Ta!
bao la bao la một Bãi Tha Ma!

Tôi không có lời nào xót xa
để nói về Nguyễn Công Trứ!
Tôi lật nhiều pho lịch sử
tìm thấy ông trong hai dòng nước mắt!

“Giang sơn một gánh giữa đồng”
là có thật!
“Thuyền quyên ứ hự, anh hùng nhớ chăng?”
quên rồi…

Nguyễn Du sống trước thời Nguyễn Công Trứ
từng thở ra hơi:
“Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm đường?”

Nguyễn Công Trứ vui? Nguyễn Công Trứ buồn?
Tôi chắp hai bàn tay, tôi lạy:
“Ơi Người thác có linh thiêng
giúp cho Tổ Quốc ba miền bình an!”

“Vinh danh Thượng Đế trên trời
Bình an dưới thế cho người nước Nam!”

Bầy Chim Sẻ Bay Rồi

Chim sẻ thật dễ thương, biết là ngày nóng quá,
chúng bay lên núi cả, chúng bay về rừng sâu…
Dù chúng bay đâu đâu, tối cũng về tổ ngủ…
khi lũ người tứ xứ/mơ hoài chuyến hồi hương!

Không nói đã rất buồn, nói, đoạn trường từng khúc…
Khi không mà tủi nhục, ai khiến dân Việt mình?
Xưa, có truyện Tân Thanh… nay có tình Cố Cựu!
Sáng sáng tiếng chim khứu/hót vang trong lồng son,
có người nghe… khóc ngon, có người cầm nước mắt!

Trời, Đông Tây Nam Bắc, mình, chỉ có Bắc Nam,
từ cái con sông Gianh/rồi tới dòng Bến Hải.
Sư cứ nói Sư phải,Vãi cứ nói Vãi hay…
bỗng dưng có một ngày… gọi là Ngày Giải Phóng!
Trời phương Nam, bong bóng… bay về đâu về đâu?

Tôi đang ngó bồ câu/gật gù trên mái ngói…
Tôi cầm tia nắng rọi/đâm vào trái tim tôi!

Máu tôi chảy có vòi. Con voi thấy đi tránh.
Cha mẹ mồ hoang lạnh/nước lũ cuốn trôi chưa?
Trời nắng, nóng, không mưa, nhớ ơi cây dừa lão,
nhớ chỗ đặt ông Táo, nhớ tiếng chuông Chùa buông…
Nhớ đám cỏ bên đường/nhớ màu sương lờn lợt…
Nguyễn Du trăm năm trước… bước bước vào trong thơ! (*)

Hồi hương… một giấc mơ! Thương Trời ơi Cố Quận…
Người, ống quần cầm, xắn… Người, nước mắt cầm, rơi!
Bầy chim sẻ bay rồi, tôi còn ai tâm sự?

(*) Thơ Nguyễn Du: Quê người cỏ lợt màu sương, đường xa thêm một bước đường một đau!
(Nguồn: Le tran; [email protected])

[jwplayer 48SBO2vL]

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT