Quán Văn (Kỳ 370)

[jwplayer R01JSaAa]

Saigon bây giờ

Đỗ Hồng Ngọc

Saigon bây giờ không thấy có người đẹp nữa! Xưa ra đường cứ thấy người ta vừa chạy xe vừa… ngoái đầu lại để nhìn gái đẹp, phụ nữ xinh đẹp! Bây giờ hết rồi! Bây giờ ra đường người con gái nào cũng trùm kín mặt, mang vớ dài tay, găng tay kín mít, áo khoác sùm sụp, đầu đội mũ bảo hiểm, chỉ chừa hai con mắt lom lom qua kính bảo hộ…

Ở trên cao nhìn xuống người người dày đặc, từng luồng từng luồng cuồn cuộn trôi đi, lâu lâu cụng mũ bảo hiểm một cái rồi mạnh ai nấy đi, cứ như đàn kiến…

Đi bộ trên đường nhiều khi gặp người chào hỏi thân thiện mà chẳng biết ai là ai, đến lúc như chợt nhớ ra họ mới gỡ khẩu trang cười lỏn lẻn. May thay, con gái Saigon bây giờ tuy che mặt mà lại hở đùi! Họ mặc quần short thật ngắn ra đường bất kể sáng trưa chiều tối. Nhờ đó mà cũng có thể nhìn ra người đẹp! Có điều hơi nguy hiểm cho giao thông công cộng vì đường sá không thông thoáng như xưa.

Áo dài thì khó mà tìm thấy nữa rồi – trừ trên sân khấu và sàn diễn thời trang. Con gái vì thế mà không còn yểu điệu, dịu dàng, tha thướt nữa. Ngay cả những ngày lễ tết, ở đường hoa Nguyễn Huệ rực rỡ vậy mà cũng khó tìm thấy một tà áo dài.

Năm nay chợ Hoa Tết đã dời về đường Hàm Nghi, nhưng mà bị ế ẩm thê thảm.

Áo dài kiểu, áo dài thời trang chỉ thấy ở một số đền, chùa và mấy địa điểm chọn lựa để quay phim ảnh xã hội, thời trang, ca nhạc để lôi cuốn, dụ dỗ dân chúng.

Mọi người trở nên hấp tấp, vội vã, căng thằng hơn bao giờ hết. Cái lý do vì sao mất áo dài rồi phải trùm kín mít cả người như vậy thì ai cũng biết. Bụi khói mù trời. Không khí hừng hực, ô nhiễm… Môi trường đô thị ngày càng xấu đi… Cây xanh tàn rụi. Cao ốc vùn vụt bốc lên! Đến năm 2020 thì Cộng Sản Trung Quốc sẽ sang làm chủ, xâm chiếm, cai trị, đô hộ điều khiển mọi thứ, mọi sự, mọi điều ở Việt Nam theo như Mật Ước Thành Đô 1990 trong đó các lãnh đạo CSVN đã buôn bán toàn thể đất nước, sơn hà, xã tắc và biển đảo cho CS Trung Quốc…

Vậy mà một số Việt kiều và các công ty ngoại quốc vẩn nhào vô, chạy về đầu tư xây các cơ sở và các cao ốc như điên… Cộng Sản Việt Nam đã dụ dỗ, lọc lừa, mưu chước tài giỏi thật… Không trách gì quỷ vương Satan, Lucifer và các quỷ con của hỏa ngục cũng thua các mưu mô, ưu chước gian trá, lọc lừa của họ! Các tiệm ăn fastfood, các quán ăn đủ loại mọc lên như nấm… Năm nay đã có khoảng chừng Một Triệu Việt Kiều theo lời dụ dỗ ngọt ngào, gian trá của nhà nước CSVN nên đã đua nhau về ăn Tết, hưởng xuân hoan lạc ở Việt Nam, nên họ đã đem tiền ngoại tệ về nuôi cho dân Saigon được béo bổ, mập phì ra…

Ai cũng biết fastfood tới đâu thì các bệnh béo phì, tim mạch, tiểu đường, huyết áp… theo tới đó. Mà bệnh tật càng tăng nhiều thì… càng tốt chớ sao. Thuốc men, thực phẩm chức năng, quảng cáo ồn ào thì kinh tế càng phát triển. Thức ăn thức uống toàn là hương liệu, hoá chất, bột nêm độc hại… thế nhưng các thứ đó làm cho chuyện bếp núc trở nên đơn giản… Có một số quán ăn, tiệm ăn bình dân, công cộng lại có các nàng tiếp viên, tiếp thị và các nàng phục vụ chạy bàn… khỏa thân 100% trần truồng như nhộng để câu khách… và họ được phép làm như vậy… Thế là Việt kiều và các du khách ngoại quốc rủ nhau, kéo nhau về VN để hưởng các cảnh hoan lạc, thú vui nhục dục của thiên đường hạ giới Saigon!

Cứ xem TV thì biết. Người nào người nấy già trẻ lớn bé mặt mũi bóng lưỡng, hí hửng chụp giựt nước uống thức ăn, nhảy nhót mừng vui tưng bừng mọi nơi mọi lúc!

Saigon bây giờ cận thị quá trời! Trẻ con nứt mắt đã cận thị. Mẫu giáo tiểu học cận thị tùm lum. Tiệm kiếng mở ra tràn ngập, góc nào cũng có… “Chỗ nào rẻ hơn trả lại tiền!” Ấy cũng nhờ vi tính, game online, TV… các thứ ngày càng hấp dẫn. Thế giới nhỏ trong lòng bàn tay. Trẻ con sướng như tiên. Đồ chơi trên trời dưới biển khắp hang cùng ngõ hẹp…

Thỉnh thoảng kêu có hóa chất độc hại. Khi biết thì mọi thứ đã muộn rồi… Kể cả thuốc “cam” nổi tiếng một thời nay gây ngộ độc chất chì không thuốc chữa. Lạ là người ta vẫn cứ tin và vẫn cứ nhắm mắt uống càn, uống ẩu tả, mặc kệ nó! Các loại sữa “thông minh” dành cho trẻ con ngày càng nhiều, khiến các bà mẹ không muốn cho con bú sữa mình nữa. Rõ ràng các thế hệ trước đây không được uống sữa thông minh nên có vẻ kém… thông minh?!

Saigon bây giờ loãng xương hơi nhiều. Đi ngoài đường thấy người ta lố nhố, tụ tập, tưởng gì, hóa ra đang túm tụm đo xương! Có người tử tế, vì sức khỏe cộng đồng, đem máy đo mật độ xương ra ngoài đường đo cho ông đi qua bà đi lại.

Ai cũng loãng xương kẻ ít người nhiều! Sau đó ai cũng mua một vài hộp sữa, một vài loại thuốc chống loãng xương là xong.

Saigon bây giờ đua nhau sửa sắc đẹp. Ai cũng sửa được, không cần phải học. Ai cũng nên sửa, từ cô hoa hậu đến ca sĩ, người mẫu, cô hàng xén, anh doanh nhân. Bơm vú bơm mông, cắt mắt, xẻ mũi, chẻ cằm rào rào… Ai cũng thành người mẫu, ca sĩ Hàn Quốc. Nhan sắc rộ lên khiến các nhà thơ bí lối , bí nguồn cảm hứng, không còn làm thơ được nữa!

Saigon bây giờ trẻ con bỗng dậy thì sớm….. Không dậy thì sớm cũng uổng! Mọi thứ kích thích nhục dục, tình dục cứ rần rật chung quanh. Phim ảnh, internet, sách báo, phim dâm, phim con heo 3-4x… các thứ đầy dẫy khắp nơi… Thức ăn thức uống béo bổ các thứ… Khí hậu nóng lên, nhiệt khí cơ thể lúc nào cũng nóng sôi lên, đòi hỏi, thèm khát tình dục… Bởi vậy tỷ lệ phá thai của các vị thành niên gia tăng một cách đáng lo ngại… Các thanh thiếu niên phần nhiều đua nhau sống cuồng, sống vội, sống ẩu tả, bừa bãi, vô văn hoá, vô giáo dục, sống lăng loàn, ma túy, bất cần đời…

Tình trạng vô sinh cũng nhiều. Ly dị cũng gia tăng nhiều và mau. Người ta đua nhau mổ đẻ cho đúng giờ hoàng đạo. Các trẻ sanh non, suy hô hấp, thiếu dưỡng khí não, thiếu chăm nom, săn sóc tốt nên lớn lên bị các chứng bệnh tâm thần cả đống, cũng bộn!

Tóm lại, sức khỏe và các đường lối, các phương cách giáo dục cộng đồng ở Saigon bây giờ có nhiều điều đáng suy gẫm…. Saigon đẹp lắm nay còn đâu!

(Nguồn: [email protected]; qua [email protected])


Tranh của họa sĩ Lê Thiết Cương.

Chút nghĩa thầy cô

Tuấn Khanh

Đầu tuần này, lớp học tình thương của một nhóm thiện nguyện tại quận 3, Sài Gòn, bắt đầu ngày học của mình bằng giờ tập vẽ, làm thiệp chúc mừng ngày thầy cô giáo 20-11.

Lớp học loi nhoi tiếng hỏi han cách thức, đòi thêm giấy, viết màu của nhau. Khó khăn lớn nhất của những đứa trẻ đó là viết được lời chúc đàng hoàng để tặng cho người dạy mình. Một đứa khều khều, hỏi nhỏ “con chúc cô giáo ăn nhiều có kỳ không?”

Hầu hết những đứa nhỏ học lớp vẽ đó đến từ những gia đình rất nghèo. Còn lại thì là những những đứa không biết một mái nhà là gì, từ lúc ra đời đến giờ. Cô giáo Sa, một trong những thiện nguyên giáo dục đường phố nói rằng nhiều đứa trẻ như vậy đã thân thuộc với vỉa hè, gầm cầu… vì khi ra đời cho đến khi lớn lên, bầu trời là mái nhà. “Nhà” đôi khi rất khủng khiếp, vì đó là những nơi chúng bị bắt về, bị buộc đóng các loại tiền gì gì đó theo chính sách… sau những đợt thu gom của chính quyền để làm “sạch đường phố.” Nhưng với thầy cô là một chuyện rất khác. Những gương mặt đầy giận dữ, tinh ranh…  ngày thường trên vỉa hè của chúng tức thì dịu lại, khi thấy thấp thoáng bóng dáng thầy hay cô xuất hiện. Có cái gì đó rất kỳ diệu trong nghĩa thầy trò vừa mong manh, vừa vĩ đại này. Những đứa trẻ Việt Nam dù ở hoàn cảnh nào, vẫn thầm lặng mang trong lòng mình một không gian kính ngưỡng dành cho người dạy dỗ mình, thậm chí còn đậm sâu hơn nhiều đứa trẻ đeo khăn quàng và được giáo dục trong mái trường xã hội chủ nghĩa.

Rất nhiều người đau đớn nói rằng thế hệ trẻ hôm nay đã hỏng tất cả, khi mỗi ngày nhìn thấy chuyện trò đánh thầy, trò vây đánh trò…  mỗi lúc càng ghê sợ. Nhưng phải đi và đến những điểm tận cùng của cuộc sống, nhìn thấy của những đứa trẻ chơ vơ ấy, chứng kiến chúng khao khát được gọi tiếng “thầy-cô,” khao khát được nhìn nhận như một học trò, có thể mới hiểu rằng mọi vấn nạn đều sinh ra từ nhà trường, từ chính sách, từ xã hội… Chúng chỉ là những nạn nhân. Những nạn nhân mỏng manh của người lớn. Một thằng bé không chịu nói tên, chăm chút vẽ ngôi trường của nó và tô toàn bộ là một màu đen. Mấy đứa bạn cười ngặt nghẽo, nói nhìn là biết ngay là trường bị cúp điện. Đứa khác nói vì hết màu nên nó tô đại màu đen. Nhưng có thể tác giả của cái thiệp thì biết rõ hơn ai hết, trường của nó chỉ là tưởng tượng, đêm đến, hết làm việc thì nó được học ở ngoài trời, khi các thầy cô thiện nguyện đến.

Những năm cuối thập niên 70, cái đói hoành hành toàn miền Nam. Nơi nơi người ta phải nấu hạt bo bo dành cho ngựa và bò, được viện trợ từ Liên Xô, để ăn ngày hai bữa. Cô giáo tiểu học của tôi, lúc đó đi dạy luôn mang theo chuối nấu và bánh kẹo để bán chịu cho học trò, nhằm có thêm chút tiền sinh sống. Cuối năm, tặng quà Tết cho cô, mẹ tôi cứ đắn đo giữa việc tặng quà hay đưa tiền mặt. Cuối cùng nắm chặt bì thư nhét vào tay cô giáo kèm một lời xin lỗi, mẹ tôi về kể lại với ánh mắt buồn buồn rằng cô giáo đã ôm mẹ tôi, nói rằng cô cám ơn vì mẹ tôi đã rất thực tế giữa buổi khốn khó đó. Hôm nay thì chuyện nhét ít tiền vào túi thầy cô đã không còn lạ, rất thông tục – thậm chí không có là không xong. Nhưng tôi thì nhớ mãi phút giây mẹ tôi cứ đau đáu vì sợ làm tổn thương người dạy học, thành phần được vô cùng kính trọng trong nền văn hóa giáo dục của miền Nam cũ.

Trong tập truyện kể Những Tâm Hồn Cao Thượng (Les Grands Coeurs) của Edmond De Amicis mà mẹ tôi tặng cho tôi khi vào lớp 3, như một cẩm nang sống, câu chuyện vị tướng quân quay lại ngôi trường cũ, cúi đầu trước người thầy già luôn làm tôi cảm động rơi nước mắt. Tình người và nghĩa thầy trò mới cao đẹp làm sao.

Bơi lặn trong cuộc đời, nhìn thấy những điều quặn lòng trong đời Việt, tôi luôn nhớ câu chuyện nhỏ đó như để ủi an cho mình. Tôi đọc những câu chuyện có thật về trò giết thầy rồi nhơn nhơn tự đắc như chuyện của Vũ Quang Hùng, chuyện hiệu trưởng dụ dỗ học trò vào đường cùng như Sầm Đức Xương… cho đến nhan nhản những chuyện trò nghèo không có kịp tiền đóng học phí, bị thầy cho bêu tên làm nhục dưới cột cờ, cô giáo thẳng tay đuổi học trò vì bị mẹ phê bình…  Tôi hiểu cuộc sống hôm nay không đẹp như ngày xưa nữa, nghĩa thầy trò cũng phai nhạt theo thời gian. Tôi luôn nhớ câu chuyện của Edmond De Amicis mà dặn lòng, rồi sẽ có một ngày, người Việt sẽ dựng xây lại đất nước này với những điều tốt đẹp nhất – như thế hệ tôi từng biết.

Trong học vấn kém cỏi của mình, tôi chỉ có hai người thầy hiếm hoi, bao dung nổi tính cách ngang ngược của mình. Một là người thầy trong Nhạc Viện, và người thầy môn Anh Văn. Thầy dạy Anh Văn là một người uyên bác lạ kỳ, ông biết năm thứ tiếng và đặc biệt là tiếng Latin, nên thường được chính quyền cậy nhờ làm việc mỗi khi đối thoại, thư từ với Vatican trong thời cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Người thầy dạy nhạc với hơn 30 năm tuổi đảng thì dặn tôi phải lớn khôn và đừng bao giờ trở thành người Cộng Sản. Người thầy dạy chữ thì khó tính và lặng lẽ, nhưng lại dạy cho tôi hiểu biết rất nhiều về thế giới không Cộng Sản.

Tôi nhớ hoài một cánh tay của ông bị liệt, nên khi dạy luôn phải dùng tay này đỡ tay kia. Sức khỏe ông yếu nên mỗi ngày cần phải uống một viên multivitamin. Nhưng loại thuốc đó thì rất khó tìm trong thời tôi đi học. Nhiều năm sau khi ra đời, chuyến đầu tiên ra nước ngoài, tôi đã chạy tìm mua mấy hộp multivitamin để mang về cho thầy. Nhưng về, thì thầy đã mất. Sức ông yếu, lại trải qua nhiều năm trong trại tù – gọi là trại học tập cải tạo nên đột quỵ, gượng phục hồi sau khi bị liệt nửa người, nhưng rồi suy nhược dần.

Ngày 20/11 luôn nhắc tôi nhiều điều. Dịp đến thăm lớp học tình thương của những đứa trẻ nghèo lại càng gợi lên trong tôi nhiều kỷ niệm. Tôi không đo được nghĩa thầy cô trong lòng những đứa trẻ được giáo dục trong mái trường xã hội chủ nghĩa hôm nay như thế nào, nhưng với thế hệ tôi, đó là điều thiêng liêng khôn tả, nó giống như sự kính trọng và thương mến thầy cô mà tôi nhìn thấy ở những lớp học tình thương đó.

Nhìn tấm thiệp tô mái trường đen ngòm của đứa trẻ, tôi chợt nhận ra rằng đời khốn khó không bao giờ có thể giết chết được nghĩa thầy cô. Mà chỉ khi nghĩa thầy cô cao cả ấy bị bóp chết trong một xã hội nhiễu nhương, bởi một chính quyền với nền giáo dục nhiễu nhương, ấy mới chính là lúc tất cả chúng ta và mai sau đang có một cuộc sống rất đỗi đen ngòm.

(Nguồn: https://nhacsituankhanh. wordpress. com/2015/11/19/chut-nghia-thay-tro/; qua http://khaiphong. net/showthread.php?30151-Ch%FAt-ngh%26%23297%3Ba-th%26%237847%3By-c%F4)


Thơ Hoa Nguyên

Ta như

Nào phải đâu vó câu
Chỉ là mành khua nhau
Những âm thanh buồn bã
Rớt thành hồ mắt sâu

Ta như con ngựa khều lóc cóc
Bên tàu.. lá mướt hãy còn xanh!
Chuyến xe thồ… giờ sợ dốc
Có tháo gông… nào khó thể phi nhanh!

Bản hùng ca, ngựa bỗng nhớ về biên ải
Màu rừng xanh đã rờn rợn vây quanh
Đường gươm đao cũng hóa nhiều hoang dại
Ta ngại ngùng một thuở đã niên thanh

Những người lính cùng thời chiến sử
Còn lại gì trong mỗi bước nghi dung
Ta nhớ gì trong những điều quên lãng
Vết sẹo nào tàng tích của chiến thương

Ai về từng vẻ y nhung
Thương trong loạn lạc kiếm cung buổi nào

(Nguồn: sangtao@org)


Thơ Luân Hoán

Có là một đoạn bi ca?
Quà cuối tiễn Nguyễn Đức Bạt Ngàn (1948-2019)

Nguyễn Đức Bạt Ngàn
bạn đã đi xa thật sao?
bàng hoàng đọc tin từ Thiếu Khanh
gọi hỏi Song Thao Lưu Nguyễn
chưa ai biết
định gọi tiếp Hoàng Xuân Sơn Hồ Đình Nghiêm
nhưng thôi
đã hơn 11 giờ đêm
lên giường lim dim ngủ

ta ngủ được ư?
chập chờn những đêm nhậu
loáng thoáng tiếng nhau cười
những Trang Châu Võ Kỳ Điền
Bắc Phong Phan Ni Tấn
Nguyễn Vy Khanh Lê Quang Xuân…
đâu mấy đứa
chúng ta không ai mày tao
cái thân của tình cầm bút
bạn ở xa chúng tôi
tận Edmonton
nhưng vẫn là Canada
cùng quê hương mới
nhưng dẫu ngoài đất lá phong
những người chơi trò trồng chữ
vốn đã là anh em

bạn đến thăm chúng tôi nhiều lần
sách tặng qua cho lại
trong sách không chỉ có tình
còn nuôi chung hy vọng
hương phở hương cơm bò chiên…
mùi cà phê
mùi khói
chẳng ai bảo ai
chúng ta ăn không vì đói
chúng ta nhai nuốt tiếng cười
thuộc lòng từng giọng nói

con gái bạn
ở thành phố cùng chúng tôi
bị tai nạn giao thông thập tử nhất sinh
trời nghe tiếng khóc của vợ chồng bạn
đất hiểu lòng người cha lưu vong
cả đời làm thơ như nghề nghiệp chính
bạn ở nuôi cháu trong thời gian dài
rất dài
nhưng giấu chúng tôi
cho đến ngày cháu sắp sửa bình phục
bạn ăn mừng một chầu cà phê
chúng tôi lại hùn tiền
ăn chia vui cùng bạn một bữa tối
chẳng ghé thăm cháu một lần
dù rất gần
Montreal General Hospital..
(xin dành lại một đoạn)
…vậy sao hôm nay bạn đi
71 tuổi đâu là gì
với thời đại chúng ta được có mặt
Lưu Nguyễn nói bạn bị ung thư thời kỳ cuối
nơi cung cấp hơi thở làm người
bạn mệt đã gần cả năm
nhưng bạn dặn giấu giúp
để làm gì?
chúng ta tuy gọi là thân
nhưng cái tình cầm bút
ở xa xa
mấy khi gọi nhau
đôi khi ở cùng một thành phố

thôi đã xong rồi một đời người
tôi hết nghe bạn lặp lại lời khen tôi nhiều lần
“anh có lòng với anh em”
nghĩ lại tôi thật sự thẹn
cả đêm đã thẳng lưng
tôi trằn trọc không tìm được câu thơ nào
dù chỉ là lục bát
dẫu không ngại bị chê cùn nhão
nhưng quá buồn tìm mãi không ra

ba giờ sáng một phút
dậy gõ những dòng này
ý nghĩ bảo ngón tay cầm cây bút chì ngược
nhất dương chỉ được chăng
câu chữ đứt khúc
những tình tôi không vần điệu
nhưng bạn có đọc được nữa đâu
tôi viết cho chính tôi mà
khúc truy điệu

vậy là thêm một người quen
thuộc hàng thân mến vừa băng hà rồi
tôi nằm nhắm mắt tay xuôi
giả như bạn hết đang lười làm thơ
tôi nằm cố gắng tỉnh bơ
quyết không rục rịch ai ngờ khó ghê
muốn học ông Bính chân quê
khóc mỹ nhân dẫu chưa hề biết qua

nhà thơ có lẽ cũng là
mỹ nhân của cõi thi ca trên đời
tôi xoay thơ ra nhiều lời
vẫn không ra chữ tiễn người cùng chơi

“cây cho hoa nở ra đời
mang hương tinh khiết dâng trời đất thơm
tôi chia lộc hưởng tay ôm
mở lòng dạo giữa nắng còn thanh xuân”

định viết vậy để chuyển lần
qua lời đưa tiễn lâng lâng ngậm ngùi
thế mà thơ thẩn của tôi
còn hồn lạc vía đâu rồi bạn thân

tiễn bạn đâu có động chân
thả tâm theo mắt lên tầng mây cao
tay không ngang mày để chào
kiểu nhà binh đỡ nao nao lòng buồn

bạn đi thật rồi, đi luôn
tôi thương tiếc đủ nén hương vừa tàn?
úp bàn tay lên mặt bàn
da nhăn gân nổi nhẹ nhàng thở ra…
4h15 | 28-9-2019

(Nguồn: Tác giả gửi qua sangtao@org)


Thơ Thụy Du

Thì thầm cùng mùa thu
Em đừng trách! Hạ qua nhiều sầu tủi
tím bằng lăng xa xót những đợi chờ
đời là thế – có ngọt bùi
cay đắng
ai trong đời
không ươm những ước mơ?
Nếu có mệt! Em hãy ngồi mà nghỉ
nhìn cỏ cây
hoa lá tốt xanh màu
Thu đã đến
yêu thương đang gõ cửa
người với người sống để thương nhau.
Mỉm cười nhé! Rồi ngày qua sẽ ổn
nắng vàng mơ
rải lối bước chân về
gió nũng nịu hát lời ca âu yếm
đời sẽ hồng như ánh mắt say mê…

Ngày buồn tênh
Ai đem
ướp nhớ vào ngày
Cho hanh hao nắng
cho cay mắt chiều
Đường làng
xô lệch dáng xiêu…
Gió lay chiếc lá
mà hiu hắt buồn.
Nhập nhằng
suối lệ
trào tuôn
Yêu thương
hờn tủi
khéo luồn vào nhau
Nợ trầu cau
mối tình đầu
Chiều vương khói bếp
bạc màu giấc mơ
Đa đoan
cất những đợi chờ
Mùa qua
mùa lại
dại khờ
khát khao…
Thuyền tình lạc bến
sông sâu
Mơ dài nhuộm đắng
úa nhàu ngày xanh.

Tự tình thêu dệt đa đoan…
Rồi một ngày
chẳng còn bước chung đôi
tình yêu kia tự khi nào nhạt dần rồi lịm tắt
đường anh đi – vàng hoa trải lối
đường em đi – mưa gió bão bùng.

Nhìn mây trời lơ lửng
mông lung
chân bước đi hoang hoải buồn
nhung nhớ
nhoi nhói trong tim
réo rắt câu duyên nợ
thoáng tự tình
dư vị đắng trào dâng…

Tưởng đã quên!
em bất chấp chẳng cần
bàn tay nắm
bờ vai người sau đến
tự đan tay
vỗ về ru ngày tháng
em mệt nhoài trò cút bắt tình yêu.

Cố thêm đau!
ngày chua chát quá nhiều
ngoảnh nhìn lại – em chỉ là phận gái
thương đa đoan
lưới tình giăng mắc mãi
chiều buông dần trên lối vắng chênh vênh…

Chớm Thu
Thu đang nhẹ bước qua vùng nhớ
Vướng víu chân trần dõi mắt mơ
Trót lỡ sa chân vào bến mộng
Lối về lấp loáng một đường tơ…

Ðợi
Giọt nhớ vừa loang đẫm cả chiều
Ai còn mãi đợi ở vườn yêu
Tay đan chiếc nhẫn vòng hoa cỏ
Khúc nhạc tiêu sầu bến tịch liêu

Chênh vênh
Mưa chiều ngang lối nhỏ
Xanh xao dáng hao gầy
Nhạt nhòa trong làn gió
Mắt buồn đượm men cay

Người đã không trở lại
Thương nhớ hoài chênh vênh
Kỷ niệm xưa mê mải
Lòng sóng xô dập dềnh

Nỉ non đêm khóc thét
Mầm xanh khuất lưng đồi
Hạnh phúc ơi! Mắc kẹt
Tận nơi nào xa xôi?

Bạc nâu sồng áo mẹ
Trắng đợi chờ tóc cha
Em vô hồn lặng lẽ
Bước qua tuổi ngọc ngà

Đời khổ đau – dâu bể
Vật vờ bấu víu đêm
Mơ màng câu chuyện kể
Lả lơi theo ngọt mềm…

Cảm ơn Mẹ

Cảm ơn mẹ đã mang nặng đẻ đau
Nuôi anh lớn thành người trai ấm áp
Bước chân đi, nhiều khi con chậm chạp
Anh song hành chẳng một phút lìa xa
Sóng gió đời đôi lúc đã thổi qua
Căn nhà nhỏ vẫn ngập tràn tiếng trẻ
Bi bô nói… nụ cười anh thật nhẹ
Ngẩn ngơ nhìn – con hiểu rõ mình yêu
Khói bếp thơm cơm canh dẻo sớm chiều
Khi mệt mỏi anh luôn chìa tay nắm
Con thơ đau anh thức khuya bồng ẵm
Chẳng nề hà – luôn san sẻ kề bên
Có anh rồi – những khúc nhạc buồn tênh
Chẳng cơ hội vùi sâu vào con nữa
Bạn bè gọi, dăm hôm… vài ba bữa
Chén rượu cùng… con tựa cửa chờ anh
Mẹ an vui sống ngày tháng yên lành
Đừng nghĩ ngợi lo đứa này đứa khác
Những bàn tay vỗ đều tuôn nốt nhạc
Khúc hát tình vang vọng đến ngày sau…

(Nguồn: [email protected])


Điểm sách ‘Văn Học Việt Nam’ của Trần Bích San

BS Trần Văn Tích

Chúng ta đã có nhiều công trình biên khảo về nền văn học dân tộc của Dương Quảng Hàm, Nghiêm Toản, Phạm Thế Ngũ, Hà Như Chi, Phạm Văn Diêu v.v… Đó là chỉ nói về Miền Nam, dưới chế độ quốc gia. Ở Miền Bắc cũng có nhiều tuyển tập văn học sử, phần lớn do một tập thể biên soạn.

Các tác giả sáng tác theo tinh thần quốc gia chỉ nhắm mục đích là cung cấp cho giới đọc sách một cái nhìn tổng quát về văn học sử Việt Nam. Đến lượt mình,Trần Bích San nêu rõ tâm nguyện khi chấp bút nơi trang 25 sách Văn học Việt Nam: “Sách này được soạn thảo với mục đích bảo tồn sự trung thực của lịch sử văn học Việt Nam.” Như vậy, khác hẳn các nhà nghiên cứu văn học sử tiền bối, Trần Bích San không những là một người biên khảo văn học mà còn là một người lính chống Cộng.

Tác phẩm Văn Học Việt Nam phát hành cuối năm 2018, dày1200 trang, in chữ cỡ 12, do Nhà Xuất Bản Cỏ Thơm ấn loát và tác giả cùng thân nhân phát hành. Sách gồm 31chương, bắt đầu với Chương 1-Nguồn Gốc Văn Học Việt Nam rồi qua các Chương 2-Chữ Việt Thượng Cổ; Chương 3-Chữ Hán-Chữ Nho; Chương 4-Chữ Nôm, Chương 5-Chữ Quốc Ngữ; kế tiếp là các Chương 6-Giáo Dục Nho Học, Chương 7-Giáo Dục Pháp Thuộc, Chương 8-Giáo Dục Quốc Gia; Chương 9-Giáo Dục Cộng Sản; rồi đến các Chương 10 về Nho Giáo, Chương 11-Quan Niệm Quân Tử-Đại Trượng Phu; Chương 12-Mẫu Người Kẻ Sĩ, Chương 13-Danh Vị Tam Nguyên; Chương 14-Học Vị Phó Bảng. Từ Chương 15-Văn Khảo Khái Luận,qua các Chương 16-Phương Pháp Biên Soạn Văn Học Sử; Chương 17-Sai Lầm, Nghi Vấn Trong Văn Học Sử; Chương 18-Trở Ngại Biên Khảo Nho Nôm, sách trình bày cung cách và tầm nhìn văn học sử cùng với những vấn đề tồn nghi. Lịch sử văn học dân tộc được ký thác trong các Chương 19-Trương Vĩnh Ký; Chương 20-Đông Dương Tạp Chí và Nam Phong Tạp Chí; Chương 2-Tự Lực Văn Đoàn, Chương 22-Các Nhà Văn Nữ Chữ Việt; Chương 23-Trào Lưu Văn Chương Lãng Mạn; Chương 24-Khuynh Hướng Trào Phúng; Chương 25-Thơ Văn Yêu Nước; Chương 26-Thi Ca Dục Ái. Phần cuối gồm những Chương 27-Câu Đối; Chương 28-Phê Bình Văn Học; Chương 29-Truyện Ngắn; Chương 30-Phóng Sự-Tùy Bút và Chương 31-Ca Dao. Sách chấm dứt với ba Phụ Lục: Các Nhà Văn Nữ Chữ Quốc Ngữ, Mục Lục Tác Gia, Nhân Vật và Tiểu Sử Tác Giả.

Sáng tạo: Chương 2-Chữ Việt Thời Thượng Cổ là một chương mới, các sách viết về văn học sử dân tộc trước kia không có. Chương này trình bày các luận cứ nhằm chứng minh là người Việt có văn tự riêng từ đời thượng cổ căn cứ vào các di tích khảo cổ học

Các chương dành riêng cho hai vấn đề danh vị Tam Nguyên và học vị Phó Bảng là những chương chỉ giáo quí báu và khoa học, chúng được trình bày một cách có hệ thống về hai học vị thời phong kiến kèm theo danh tính và tiểu sử các vị tam nguyên (Lê Quý Đôn, Trần Bích San, Nguyễn Khuyến, Vũ Phạm Hàm cùng với giai thoại văn học) và một số vị phó bảng (như Nguyễn Văn Siêu, Hoàng Diệu, Kiều Oánh Mậu, Phan Chu Trinh, v.v…). Riêng đối với Kiều Oánh Mậu, sách Văn Học Việt Nam chỉ ghi nhận ông là tác giả Bản Triều Bạn Nghịch Liệt Truyện. Thực ra Kiều Oánh Mậu còn là một nhân vật văn học sử rất quan tâm đến nền văn học chữ Nôm nên đã diễn nôm các truyện Tỳ Bà, Hương Sơn Quan Thế Âm. Đáng nói hơn nữa, Kiều Oánh Mậu đã tiến hành chú thích rất công phu Truyện Kiều của Nguyễn Du, phân biệt rõ ràng các bản phường, bản kinh và trả lại tên gọi chính thức Ðoạn Trường Tân Thanh cho Truyện Kiều.

Chương 17-Sai Lầm, Nghi Vấn trong Văn Học Sử có thể được xem như một bản tập đại thành về những vấn đề còn tồn nghi liên quan đến thành phần chính thức của Tự Lực Văn Đoàn, đến năm sinh năm mất của một số nhân vật, đến hành trạng tiểu sử của một vài khuôn mặt, đến tác giả đích thực của một số tác phẩm văn học, v.v…

Ca dao đã được đề cập đến ở Chương1 nhưng chương cuối, Chương 31 lại cũng mang tên Ca Dao. Đúng ra nó phải mang tên “Ca Dao Lịch Sử” vì chương này trình bày ca dao thời Nguyễn triều và nhất là ca dao thời hiện đại, ca dao đả kích chế độ Cộng Sản, gồm từ trang 997 đến trang1023 với những tiểu mục Sau Tháng Tư Đen, Đổi Tiền, Học Tập Cải Tạo, Hợp Tác Xã, Đi Kinh Tế Mới, Đào Kinh, Phí Phạm Công Quỹ, Vượt Biên, Vượt Biển, Cuộc Chiến Biên Giới Việt-Trung năm 1979, Việt Kiều, Khối Cộng Sản Tan Rã, Đổi Mới, Chế Độ, Dân Biểu Nghị Gật, Lãnh Tụ, Cán Bộ Cao Cấp, Đường Lối Cai Trị, Tham Nhũng Thối Nát, Phẩm Chất Việt Xuống Thấp, Bán Nước.

Kèm theo những phần do chính tácgiả phụ trách viết, có những phần gọi chung là “Bài Đọc Thêm,” những phần này góp công vào việc giải thích chi tiết hơn, chu đáo hơn, cụ thể hơn những điều đã được ký thác trong văn bản chính

Thiếu sót: Có những chi tiết tác giả chưa biết để nêu ra trong thành quả trí tuệ của mình. Không những chỉ có Nam Phong được chuyển toàn bộ vào sáu dĩa DVD (tr. 644) mà Bách Khoa cũng được tàng trữ nguyên vẹn tại Thư Viện Quốc Gia của Quốc Hội Hoa Kỳ và thư viện Đại Học Yale; mới đây tạp chí này còn được Diễn Đàn Thế Kỷ bên Mỹ số hóa toàn bộ và 426 số báo đã được điện tử hóa, qua công trình của nhà nghiên cứu văn học Phạm Phú Minh.

Trần Thanh Mại đã tìm ra khuê danh của Bà Huyện Thanh Quan là Nguyễn thị Hinh. Chữ “hinh” viết với bộ “hương” trong chữ Hán nghĩa là mùi thơm lan tỏa mạnh và xa, như nói hinh hương đảo chúc nghĩa là đốt hương cầu khấn; thùy hinh thiên tự nghĩa là để lại tiếng thơm ngàn năm. Khi Hiệp Khách Hành của Kim Dung sắp chấm dứt, người đọc có dịp làm quen với nhân vật nữ tên họ là Mai Văn Hinh, Văn Hinh có thể chuyển sang Anh ngữ thành Literary Perfume, một cái tên thực đẹp.

Trong tác phẩm của mình, tác giả Trần Bích San chỉ có thể trình bày những kiến giải tưởng chừng đã ổn định nhưng thực ra không phải hoàn toàn chính xác. Ví dụ, đối với Kinh Dịch, tác giả chấp nhận là đã được “Khổng Tử giải nghĩa” (tr. 290). Đó là một phần nội dung thuyết tác dịch tam thánh của Trịnh Huyền đời Đông Hán, theo thuyết này, truyền thuyết cho rằng Phục Hy chế ra quẻ, Chu Văn Vương viết Quái Từ và Khổng Tử viết Thập Dực. Tuy nhiên theo khảo chứng của các tác giả gần đây, thuyết này không đáng tin vì Phục Hy là một nhân vật hư cấu, huyền thoại, không có thật; vả lại Kinh Dịch không phải là tác phẩm do một nhân vật viết trong một thời đại. Chu Dịch đã được nhiều tác giả chuyển sang Việt ngữ, như Phan Bội Châu, Ngô Tất Tố, v.v…

Nơi trang 125, tác giả cho rằng Thuyết Văn Giải Tự của Hứa Thận soạn có 9,353 chữ. Sự thực lịch sử phức tạp hơn. Hứa Thận căn cứ vào kinh điển cổ văn cùng các sách Sử lựu thiên và Thương Hiệt thiên để biên soạn thành bộ tự điển Thuyết Văn Giải Tự vào năm Kiến Quang nguyên niên đời Hán An đế (121). Công trình trước tác đòi hỏi 23 năm. Nguyên bản sách này đã bị tàn khuyết, triều Nam Đường thời Ngũ Đại,Từ Huyền hiệu đính xác định văn bản thu chép được 10,516 chữ, trong đó có 1,163 chữ trùng lắp, còn lại 9,353 chữ. Năm 1963, sách được Trung Hoa Thư cục xuất bản. Trong lịch sử qua các triều đại, các bản chú thích Thuyết Văn Giải Tự có rất nhiều, ảnh hưởng lớn nhất là Thuyết Văn Giải Tự chú của Đoàn Ngọc Tài đời Thanh do Thượng Hải Cổ tịch Xuất bản xã phát hành năm 1981.

Chế độ quốc gia vốn quan tâm rất lớn đến kho tàng văn học chữ Hán nên đã có nhiều cống hiến rất đáng biểu dương và trân trọng như thành lập Ủy Ban Dịch Thuật thuộc Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa với người đứng đầu cơ quan là Mai Thọ Truyền, kế đó lại thành lập Trung Tâm Học Liệu với trụ sở ở đường Trần Bình Trọng. Ngoài ra còn có những tổ chức dịch thuật từ Hán sang Việt khác như Ủy Ban Phiên Dịch của Viện Khảo Cổ Saigon, Ủy Ban Phiên Dịch Sử Liệu Việt Nam của Viện Đại Học Huế, Hội Việt Nam Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu,… Riêng Ủy Ban Dịch Thuật của Phủ Quốc Vụ Khanh qui tụ nhiều ban ngoài Ban Hán, Ban Nôm còn có các ban Trung Hoa học, Anh, Pháp, Nhật, Đức,… Mỗi ban lại chia ra nhiều tổ chuyên môn như Ban Hán Văn có các tổ Sử, tổ Địa, tổ Triết. Đội ngũ dịch giả khá đông đảo, dễ đến hơn trăm người, nhiều người có danh vọng và uy tín như Đoàn Trung Còn, Lê Xuân Giáo, Lê Mạnh Liêu, Hoàng Khôi, Lê Xuân Mai, Tạ Quang Phát. Những dịch phẩm đã hoàn tất bao trùm các lĩnh vực văn, sử, triết, luật, địa, kinh… Xin liệt kê vài tác phẩm đáng để ý vì có giá trị đặc biệt về văn học lịch sử,do từng cá nhân hoặc do Phủ Quốc Vụ Khanh phụ trách dịch thuật, ấn loát và phát hành:

Quốc Triều Hình Luật do Cao Nãi Quang dịch, xuất bản năm 1956;

An Nam Chí lược, do Ủy Ban Phiên Dịch Sử Liệu Việt Nam Viện Đại Học Huế xuất bản năm 1961;

Ô Châu Cận lục do Bùi Lương dịch, xuất bản năm 1961;

Sử ký Tư Mã Thiên, Nhượng Tống dịch, xuất bản năm 1964;

Ức Trai tập, Hoàng Khôi dịch, xuất bản năm 1972,…

Ngoài ra Công Dư Tiệp Ký của Vũ Phương Đề, Vân Đài Loại Ngữ, Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quí Đôn, Lịch Triều Hiến Chương loại chí của Phan Huy Chú… cùng với Tứ Thư Ngũ Kinh của Nho Giáo cũng được Trung Tâm Học Liệu tổ chức dịch thuật và ấn loát, phát hành trong khi Truyện Kiều bản Chiêm Vân Thị in tại nhà in Tương Lai, đường Võ Tánh, Saigon cũng được đích thân Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên tái bản năm 1973 với phần chữ Nôm in rất mỹ thuật. Các tài liệu tham khảo này in và đóng thành sách với trang giấy cỡ lớn, văn bản ít lỗi ấn loát và nhất là với ưu điểm nổi bật mà chỉ có sách dịch dưới chế độ quốc gia mới làm được, đó là việc in nguyên văn chữ Hán chữ Nôm kèm theo ở phần sau hoặc xen kẽ với phần dịch. Công việc in nguyên văn Hán tự không những giúp phổ biến rộng rãi các tác phẩm cổ mà các nguyên bản chữ Hán đính kèm dịch phẩm còn có tác dụng giúp người đọc có phương tiện và cơ hội thẩm tra lại những chỗ còn nghi vấn khi cần thiết hoặc cung cấp thêm tài liệu cho giới nghiên cứu tiến hành khảo dị.

Bổ túc: Chúng tôi trộm nghĩ sách Văn Học Việt Nam cần được bổ túc bằng một chương riêng liên quan đến thi loại từ trong văn học Việt Nam.

Tất cả các tài liệu văn học sử Việt Nam từ trước đến nay không có tài liệu nào trình bày về thi loại từ. Trường Đại Học Văn Khoa Hà Nội trước1954 và Trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn trước 1975, cả hai trường đều không có một giờ nào giảng về từ cho sinh viên. Thậm chí Giáo Sư Văn Khoa Trần Trọng San còn cho rằng: “Trong văn học Việt-Hán chỉ có độc nhất một bài từ: bài này làm theo điệu Vương Lang Qui do Đại Sư Ngô Chân Lưu tặng sứ thần nhà Tống Lý Giác ở thời Lê Đại Hành (năm 907); trong văn chương chữ Nôm chỉ có mấy bài từ làm theo điệu Tây Giang Nguyệt trong truyện Sơ Kính Tân Trang của Phạm Thái ở đời Hậu Lê.” Đến lượt mình, tác giả Trần Bích San chỉ có một lần duy nhất đan cử thể từ nơi trang183 một cách ngắn ngủi, nguyên văn: “Các bài từ của Phạm Thái.”

Từ là một thể loại thi ca cổ điển của Trung Hoa. Từ manh nha thời Nam triều, trưởng thành vào đời Đường, thịnh hành ở thời Tống. Từ sản sinh sớm nhất trong dân gian, gốc gác của nó vốn là chốn thanh lâu và các chuyên viên trình diễn từ đầu tiên là giới kỹ nữ. Từ là tổng hòa thi và nhạc bởi vì mỗi bài từ đều được viết theo một nhạc phổ mà thuật ngữ chuyên môn gọi là từ phổ và công việc đặt lời ca cho từ phổ được gọi là điền từ.

Bài ca của Đại Sư Ngô Chân Lưu sáng tác để tống tiễn sứ thần Lý Giác thực ra làm theo điệu Nguyễn lang qui chứ không phải Vương lang qui. Nhà Trần tiếp sứ Nguyên là Trần Phu đã cho cử nhạc gồm các điệu Trang Chu Mộng Điệp, Bạch Lạc Thiên, Mẫu Biệt Tử, Vi Sinh, Ngọc Tiêu, Đạp Ca, Thanh Ca, Giáng Chân Long, Nhập Hoàng Đô, Yến Giao Trì và Nhất Thanh Phong. Đó là những khúc hát đã được Lê Quí Đôn ghi lại trong Kiến Văn Tiểu Lục, dựa theo Giao Châu Thi Tập của Trần Cương Trung; rất có thể đây là những điệu từ. Điệu Đạp Ca chẳng hạn có lẽ là điệu Đạp Ca từ. Bài từ cuối cùng là của Tản Đà, đó là bài Tống Biệt viết vào năm1917 theo điệu Hoa Phong Lạc.

Giữa hai thời điểm 907 và 1917- hơn mười thế kỷ – thỉnh thoảng cũng có tác gia vận dụng thể từ. Về phái nữ có Liễu Hạnh tiên chúa với những bài theo các điệu Bộ Bộ Thiềm, Xuân Quang Hảo, Cách Phố Liên, Nhất Tiễn Mai; Trương Quỳnh Thư trong Sơ Kính Tân Trang với hai điệu Tây Giang Nguyệt và Nhất Tiễn Mai; Hồ Xuân Hương với điệu Xuân Đình Lan.

Về nam giới có thể kể chúa Trịnh Cương với điệu Kiều Dương Cách; Ngô Thì Sĩ với điệu Tô Mộ Già; Tùng Thiện Vương với rất nhiều điệu tập hợp trong từ tập Cổ Duệ Từ như Hoãn Khê Sa, Thanh Bình Lạc, Dương Châu Mạn, Mô Ngư Nhi, Giải Bội Lệnh, Lưỡng Đồng Tâm, Kim Nhân Bổng Ngọc Bàn, Pháp Khúc Hiến Tiên Âm; Đào Tấn với gần hai mươi điệu trong Mộng Mai Từ Tập: Mãn Giang Hồng, Bồ Tát Man, Nhất Lạc Sách, Ngư Phủ Từ, Lâm Giang Tiên, Trường Tương Tư, Giá Cô Thiên, Ức Vương Tôn, Ức Giang Nam, Hậu Đình Hoa, Ỷ La Hương, Ngu Mỹ Nhân,Tiểu Trùng Sơn, Như Mộng Lệnh, Điệp Luyến Hoa, Chuyển ứng Khúc, Bốc Toán Tử,… Thi hào Nguyễn Du cũng có ít nhất một bài theo điệu Hành Lạc Từ và mười lăm bài theo điệu Trúc Chi Từ (mà tác giả Truyện Kiều gọi là Trúc Chi Ca). Ngoài ra các nhân vật hư cấu truyện Nôm như Vương Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Tô Hữu Bạch trong Ngọc Kiều Lê tân truyện của Lý Văn Phức cũng đều có điền từ.

Phần “Bài Đọc Thêm” của Chương này sẽ giới thiệu vài ba bài từ kinh điển, quen thuộc chữ Hán của các tác gia Trung Hoa nổi tiếng bên cạnh các bài từ cùng điệu bằng chữ Hán hay chữ Nôm của nam nữ từ gia Việt Nam.

Khoa văn học sử có nhiệm vụ nghiên cứu các hiện tượng văn học, các phong trào văn học, các tác giả văn học. Văn học sử tìm hiểu quá trình phát triển của nền văn học dân tộc, khám phá những qui luật nội tại của văn học giúp áp dụng những qui luật ấy vào công việc phê bình và đính chính văn học.Văn học sử cố gắng giải thích những điều kiện lịch sử trong đó nền văn học dân tộc đã hình thành và tồn tại.

Văn học của một dân tộc có những đặc điểm không giống với văn học của các dân tộc khác và nhiệm vụ của văn học sử là nghiên cứu những đặc điểm liên hệ; ví dụ một đặc điểm của nền văn học Việt Nam là sự phát triển song song của nền văn học viết bằng chữ Hán và nền văn học viết bằng chữ Nôm trong khung thời gian dài nhiều thế kỷ, hoặc một đặc điểm khác là sự chống đối mãnh liệt giữa hai nền văn học tạm gọi nôm na là văn học Việt Quốc và văn học Việt Cộng.

Ra đời trong bối cảnh lưu vong, Văn Học Việt Nam của Trần Bích San đáp ứng được phần lớn nhiệm vụ mà văn học sử đã ủy thác cho nó. Nó là một trân phẩm hiện đại, khoa học, nhân bản, khai phóng; nó đáng được xem là của gia bảo đối với những ai còn nặng lòng với tiếng Việt, chữ Việt.

BS Trần Văn Tích (Bonn, CHLB Đức)
(Nguồn
[email protected]; qua[email protected])

Chú thích của Quán Văn: Trần Bích San, tác giả cuốn sách này không phải là Trần Bích San (1840–1877) trong sử sách xưa của nước ta. Xin xem https://www.facebook.com/NguoiNamDinhNoiTieng/posts/387078024729792:0;

Địa chỉ mua sách: Tiến Sĩ Trần Gia Thái, Ph.D. hoặc Trần Ngọc Châu, P.O.Box 740248, New Orleans, LA 70174, USA; ĐT: (504) 615-5606, (504) 263-5661; E.mail: [email protected];

Giá bán sách: $50. Độc giả ở Hoa Kỳ được miễn bưu phí. Tất cả tiền bán sách dùng tặng quỹ yểm trợ Thương Phế Binh VNCH.

[jwplayer V0z7CmaT-YzmDPLlM]

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT