Ngu Yên đã dành phần cuối cùng của “Ý Thức Sáng Tạo Thơ” để bàn về một vấn đề hoàn toàn mới, nếu tôi không lầm, đối với độc giả Việt Nam: Tái Tạo Bằng Tái Dụng Tái Lập.
Nhóm từ nghe hơi lạ. Thực ra, nó chỉ có nghĩa là “sửa chữa và tái tạo một văn bản văn chương,” nói gọn là sửa-tạo. Nghệ thuật sửa tạo văn bản vốn là công việc thường xuyên do chính tác giả hay nhà xuất bản thực hiện, chú trọng vể sửa đổi và điều chỉnh, trước khi tác phẩm được in ấn và phát hành. Nhưng hiện nay, ở thế kỷ 21, “văn học bắt đầu quan tâm đến tái tạo văn bản đã có,” (453) nghĩa là quan tâm đến việc quy luật hóa nó.
Ngu Yên cho biết, sửa đổi và tái tạo không phải là chuyện bên lề, mà là “hành động văn học, là nghệ thuật sáng tác.” Dẫn lại từ Hannah Sullivan trong “The Work of Revision,” Ngu Yên nhấn mạnh: việc sửa tạo văn chương đương đại đồng nghĩa với “đọc lại trong tinh thần phê duyệt” (critical re-reading) đi đến chỗ “sáng tác thông minh” (intelligent writing).
Với văn xuôi, đây là điều đương nhiên, không cần bàn cãi. Tuy nhiên, với thơ, người ta vấp phải thái độ ngập ngừng. Tại sao? Cho đến nay, nhiều người làm thơ vẫn bị thống trị bởi một loại “huyền tưởng” cho rằng “mơ hồ là bản sắc của thơ,” (473) rằng thơ mang bản chất tinh túy của ngôn ngữ, thi hứng. Họ quan niệm “thơ là một sản phẩm tinh hoa của cảm xúc và trí tuệ, đôi khi mang tính siêu nhiên.” Sửa đổi và tái tạo sẽ làm mất đi tính “xuất thần” của bài thơ, xúc phạm đến “thần khí nguyên sơ” của nó. (479)
Thực ra, theo Ngu Yên, trong quá trình sáng tác, hầu hết các bài thơ làm ra đều đã có ít nhiều sửa tạo. Điều đó đã là “một phần trong bản tính của nhà thơ” (479). Sự sửa tạo có thể bắt nguồn từ sự khen chê của độc giả, nhưng “thông thường là từ lời phê bình ngấm ngầm của bản thân [nhà thơ] khi đọc lại tác phẩm [của mình].” (483)
Cho nên, để có thể sửa tạo thơ, điều trước tiên là phải thay đổi quan điểm. Phải bỏ qua cái mà Ngu Yên gọi là “hội chứng Vương Bột” là thứ hội chứng bắt chước Vương Bột, nhà thơ thời Sơ Đường, theo đó, một bài thơ khi đã viết xong được xem như xuất thần, tự hoàn chỉnh, không cần phải tái xét, sửa chữa gì nữa và vội vã cho công bố, một mặt. Và mặt khác, cũng phải bỏ đi quan niệm cho rằng “những gì viết xuống, in rồi không thể sửa chữa.” Đó là một quan điểm lỗi thời, cản trở sự tiến bộ, theo Ngu Yên. (500)
Ngu Yên nhấn mạnh nhiều lần về vai trò của vô thức trong sáng tác và ý thức trong sửa tạo. “Hành trình Sửa Tạo Văn Bản mang vai trò ý thức sáng tác lên ngang hàng hoặc vượt qua uy lực của vô thức sáng tác đã ngự trị trong thế kỷ 20.” (454)
Nói khác đi, tái tạo là công việc chủ yếu do ý thức điều khiển. Vì ý thức được trang bị kiến thức, kinh nghiệm và đời sống hơn vô thức. Những khám phá vào cuối thế kỷ 20 cho thấy phần “ngẫu nhiên” của trí nhớ và vô thức cần phải được kiểm duyệt bởi “bộ nhớ dài hạn” là ý thức.
Ngu Yên khẳng định, “Trong lãnh vực sáng tác văn chương, nếu vô thức là chủ động khi sáng tạo, ý thức chủ động khi sửa tạo” (474). Ngu Yên cho biết là hiện nay, chưa có một công trình nghiên cứu quy mô về công việc sửa tạo, do đó, chưa có một nguyên tắc hay một quy luật nào rõ ràng. Nhưng nhất định một công trình như thế sẽ thành hình vì thơ cần phải thay đổi theo nhịp sống của thế kỷ 21 và khuynh hướng đó đang trở thành một nghệ thuật. (456-457)
Tái tạo là làm ra cái mới từ cái cũ trong lúc sửa đổi chỉ là làm mới cái cũ (463). Sửa tạo được Ngu Yên ví như một hình thức “nhai lại” của loài bò và xem hình thức đó là ẩn dụ sáng tác và tái tạo văn chương. (458)
Về phương diện thực hành, “sửa tạo bài thơ khác với sửa tạo các văn bản khác.” Vì sao? Vì phạm vi bài thơ ngắn và cô đọng nên “mỗi chữ cao hơn nặng hơn chữ trong các bài văn.” Thay một chữ trong thơ đôi khi có thể thay đổi cấu trúc toàn bài. Phải tùy theo độ ngắn, dài mà sửa tạo. “Sửa tạo bài thơ ngắn là kiểm soát lại cấu trúc. Sửa tạo bài thơ dài là tái kiến trúc ý tứ và mô hình diễn đạt” (478). Ngu Yên cho rằng sửa tạo phải được xem là một “diễn trình tu tập” đòi hỏi hai yếu tố rèn luyện sửa tạo là “sở học” và “sở thích.”
Không những thế, Ngu Yên còn nhấn mạnh, đối với người sáng tác, “sửa tạo là học thuật.” Vì “Quá trình sửa tạo sẽ gia tăng kiến thức và kinh nghiệm về sáng tác” (482). Quá trình đó là “một diễn trình dài hạn về học thuật văn chương và bản thân. Nhà thơ đối diện với sửa tạo là đối diện với bản ngã, sở học, kinh nghiệm tài năng và lòng yêu mến thơ. Họ vừa đóng vai tác giả, độc giả, vừa kiêm luôn vai phê bình.” (508)
***
Nhưng một vấn đề không thể không đặt ra: một bài thơ sẽ phải được sửa tạo đến bao giờ? Ngu Yên trả lời: “Việc sửa tạo sẽ tiếp tục sau khi bài thơ tái tạo hoàn tất và kéo dài cho đến khi tác giả hài lòng.” Theo Ngu Yên, sửa tạo là một hành trình liên tục trên hai phương diện:
-Sửa tạo bài thơ (mới) sáng tác rồi tiếp tục sửa tạo bài thơ đã sửa tạo cho đến khi nhà thơ vừa ý và không muốn thay đổi nữa.
-Tiếp tục sửa tạo nhiều bài thơ (cũ); nhiều lần sửa tạo về sửa tạo sẽ gia tăng khả năng sửa tạo. (510)
Điều quan trọng mà Ngu Yên muốn nhấn mạnh ở đây không phải là chuyện làm cho bài thơ trở thành hay nhất, tuyệt nhất mà là sự tận lực trong việc sáng tác bài thơ. “Tận lực là niềm tự hào duy nhất trong sáng tác,” Ngu Yên kết luận.
Ngu Yên dành phần cuối cùng của tập sách dài hơi này đề bàn về nghệ thuật tái tạo. Ngu Yên cho rằng tái tạo là cao điểm của sửa tạo. Anh khuyên những nhà thơ nên phiêu lưu và khám phá thơ tái tạo từ những bài thơ cũ của chính mình. Thường thì không mấy ai ưa đọc lại những vụng về, non nớt, lỗi lầm, khiếm khuyết… của chính mình, nhất là khi đã lỡ in thành sách hay đưa lên mạng. Điều đó không đúng.
“Một bài thơ cũ dù dở hoặc hay vẫn là chứng tích văn chương, bóng hình ngoại sử, một phần đời sống của nhà thơ,” theo Ngu Yên. Chúng khiến ta bồi hồi xúc cảm vì những nỗi buồn, niềm vui hay bi phẫn của một thời đã qua; không những thế, chúng còn là “bản học tập” cho bất kỳ nhà thơ nào muốn học hỏi về sáng tác. Nhưng Ngu Yên cũng lưu ý: không nên tái tạo bài thơ nào mà mình đọc lại không còn gây xúc cảm; chỉ tái tạo bài nào thấy còn hay, nhưng chưa đủ hay. (564-565)
Và cuối cùng, tôi lưu ý đến một trong những điểm mà Ngu Yên muốn nhấn mạnh là vấn đề chân lý. Theo Ngu Yên, khi làm thơ, nhà thơ “Đừng nghĩ đến chân lý, đừng nỗ lực truy tầm sự thật, vì không có” (542). Nói cách khác, “Người nghệ sĩ chân thật là người thật thà về sự vắng mặt của chân lý.” Vì sao? Những gì mà người nghệ sĩ thành đạt, cho dù lớn lao đối với xã hội đến đâu, thực ra, “chỉ là những mảnh rời trong toàn khối bí mật mà họ suốt đời tìm kiếm.” Do đó, nếu “Những nhà thơ dừng lại ôm chặt những mảnh rời như huân chương, bằng danh dự, họ sẽ hóa thân thành những bức tượng biết thở và thơ của họ từ đó như bầy bò mạ vàng rống lên kêu gào bất tử.”
Tôi hoàn toàn tâm đắc với nhận định này của tác giả. Nghe thật đã!
***
Ngu Yên hiện sống ở Houston, Texas, Hoa Kỳ. Các tác phẩm đã xuất bản:
-Thơ: Hóa ra nét chữ lên đàng quẩn quanh, Tựa đề bên trong, Hỡi ơi, Hãy cho ta sống giùm đời nhau, Chấm hết, Cuối cùng là thơ, Thở.
-Tùy luận (và thơ): Thi sĩ và thơ, Thơ tóc bạc, Nháp và Nốt.
-Thơ dịch: Federico Garcia Lorca, Thơ tuyển Phi Châu.
-Biên khảo, nghiên cứu và nhận định: Ý thức về dịch thuật… Ý thức sáng tác thơ. (Trần Doãn Nho)
—–
Ghi chú:
(1) “Ý Thức Sáng Tác Thơ,” Ngu Yên biên soạn, “Insperative Esquisse Press” xuất bản, phát hành Tháng Chín, 2019. Liên lạc: [email protected] hay Phung Dang, 5202 Contour Pl., Houston, Texas 77096.
(2) Những con số để trong ngoặc đơn là để chỉ số trang.
[jwplayer RgksDyxc]




























































































