Bác Sĩ Đặng Trần Hào tốt nghiệp bác sĩ y khoa Đông Phương tại Samra University, Los Angeles, năm 1987, và được mời tham dự hội đồng State Board về Châm Cứu và Đông Dược. Mục này giúp cho ai muốn tìm hiểu về Đông Dược và muốn góp ý cho kho tàng Đông Dược phong phú hơn để phục vụ bệnh nhân. Quý vị có thể liên lạc bác sĩ qua email: [email protected] hoặc điện thoại (714) 714-0564 office và (714) 553-6183 cell.
Bác Sĩ Đặng Trần Hào

Mỗi tháng trước khi hành kinh thường đại tiện ra máu một hay hai ngày, kinh ra ít hay không có kinh. Người xưa gọi là rối loạn kinh nguyệt, do huyết dồn vào đại trường mà kinh ra sai đường.
Vì gan huyết hư gây ra hư nhiệt, mà nhiệm vụ của gan là tồn huyết, gan hư nên không tồn huyết được, huyết ra bừa bãi do những nguyên nhân sau:
Do hư nhiệt
Một khi âm suy hay huyết suy gây ra hư hỏa, thường hỏa phải qui nguyên, nghĩa là hỏa phải giáng xuống chân và âm phải thăng lên đầu mặt. Vì âm suy nên hỏa không qui nguyên được nên bốc lên trên đầu và mặt.
Nữ giới bị bệnh sắc mặt trắng hoặc hơi vàng, thường hay ửng đỏ hai gò má, nhức đầu, chóng mặt, ù tai, buồn bực, dễ giận, miệng và cổ họng khô, nhức mỏi chân tay, đêm ngủ không yên giấc, đi tiểu nhiều lần về đêm, chiều mỏi mệt hơn sáng, đôi khi mắt mờ, đại tiện ra máu trước khi hành kinh. Lưỡi khô, đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng. Mạch huyền sác.
Chủ trị: Bổ huyết, thanh nhiệt, giáng hỏa.
Bài thuốc “Bảo Âm Tiễn” (Cảnh Nhạc):
-Sinh địa 9 gram
-Thục địa 9 gram
-Tục đoạn 6 gram
-Hoàng cầm 6 gram
-Hoài sơn 6 gram
-Bạch thược 9 gram
-Hoàng bá 6 gram
-Cam thảo 3 gram
Gia:
-Cát căn 9 gram
-Cúc hoa 9 gram
-Câu đằng 6 gram
-Toan táo nhân 9 gram
-Viễn trí 9 gram
-Ích trí nhân 9 gram
-Tang phiêu tiêu 6 gram
Nhiệm vụ các vị thuốc:
-Sinh địa, thục địa, bạch thược: Bổ âm huyết và thanh hư hỏa.
-Tục đoạn, hoàng bá, hoàng cầm: Thanh nhiệt và hóa thấp.
-Cát căn, cúc hoa, câu đằng: Trị nhức đầu, chóng mặt.
-Hoài sơn: Bổ tỳ và thận.
-Toan táo nhân, viễn trí: An tâm, ngủ ngon.
-Ích trí nhân, tang phiêu tiêu: Bớt tiểu đêm.
-Cam thảo: Phối hợp các vị thuốc.
Do huyết nhiệt
Do ăn uống nhiều chất béo, cay và nóng, nhiệt uất trong nội tạng, hay uất ức, giận hờn, lo âu tích tụ nhiều ngày làm tổn hại đến âm lạc mà gây ra.
Nữ giới bị bệnh mặt hồng, môi đỏ, hay hờn dỗi, khô họng, ráo miệng, thích uống nước lạnh, cơ thể nóng, nước tiểu vàng, đại tiện bón, da khô. Lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng khô. Mạch huyền sác.
Chủ trị: Thanh nhiệt, lương huyết và chỉ huyết.
Bài thuốc:
-Sinh địa 15 gram
-Xuyên khung 9 gram
-Địa du (sao cháy) 9 gram
-Đương quy 9 gram
-Tần giao 6 gram
-Hòe hoa (sao cháy) 9 gram
-Hoàng cầm 6 gram
-Địa cốt bì 9 gram
-Mẫu đơn bì 9 gram
Nhiệm vụ các vị thuốc:
-Sinh địa, địa cốt bì, mẫu đơn bì: Bổ huyết và lương huyết.
-Đương quy, xuyên khung: Hoạt huyết và bổ huyết.
-Hoàng cầm: Thanh thấp nhiệt.
-Hòe hoa, địa du, bạc hà: Chỉ huyết.

Can, tỳ và thận hư
Can hư không tàng trữ được huyết, tỳ hư không thống được huyết và thân hư không thu nạp được huyết, do đó huyết không quy nạp phải chay sai đường.
Nữ giới bị bệnh này sắc mặt trắng, đầu váng, mắt hoa, tai ù hoặc điếc, tim đập nhanh và hồi hộp, hoảng sợ, thở hụt hơi, tinh thần mệt mỏi, mỏi đùi và đau lưng, trước khi hành kinh đại tiện ra máu rất nhiều, đại tiện lỏng, tiểu tiện nhiều lần. Lưỡi lợt không rêu. Mạch hư tế.
Pháp trị: Bổ tỳ, tư thận, liễm can, dưỡng huyết, chỉ huyết.
Bài thuốc “Thuận Kinh Dưỡng An Thang”:
-Nhân sâm 9 gram
-Thục địa 15 gram
-Mạch môn đông 6 gram
-Thăng ma 12 gram
-Sơn thù du 6 gram
-Bá kích nhục (sao vàng) 6 gram
-Bạch truật 15 gram
-Hắc kinh giới 9 gram
-Bạch thược (tẩm rượu sao) 15 gram
Nhiệm vụ các vị thuốc:
-Bạch truật, nhân sâm: Bổ tỳ khí.
-Thục địa: Bổ thận âm.
-Mạch môn đông: Bổ phế âm.
-Thăng ma: Thăng khí.
-Bá kích thiên: Bổ thận dương.
-Sơn thù du: Liễm can.
-Hắc kinh giới: Chỉ huyết. [qd]





















































































