Thiện Lê/Người Việt
HOLLYWOOD, California (NV) – Thập niên 2000 có nhiều phim chiến tranh luôn được nhớ đến vì những cảnh hành động gay cấn và những câu chuyện bắt khán giả phải suy nghĩ.

Nhiều đạo diễn trong thập niên 2000 vẫn giữ được những yếu tố làm phim chiến tranh của các thế hệ trước thành công, cho khán giả thấy được nhiều câu chuyện trong chiến tranh thảm khốc, giúp họ thấy được những đức tính và những suy nghĩ đáng sợ nhất của con người, còn đào sâu vào tâm lý của những người từng sống qua chiến tranh.
Những yếu tố đó giúp phim chiến tranh của thập niên 2000 vô cùng đáng nhớ, và khán giả phải tìm xem những phim dưới đây.
Downfall
Một phim chiến tranh phải nói là vô cùng độc đáo trong thập niên 2000 là “Downfall” của Đức, công chiếu vào năm 2004, với chủ đề là những ngày cuối cùng trong đời của Adolf Hitler.
Đây là một tác phẩm hiếm thấy về chủ đề Đức Quốc Xã. Các phim khác của chủ đề này thường cho khán giả nhìn qua mắt các binh sĩ Đồng Minh hay những người Do Thái phải chịu cảnh đày đọa, diệt chủng, nhưng phim này cho khán giả thấy được nội bộ của Đức Quốc Xã trong những ngày tàn vào năm 1945 ra sao.
Dựa theo câu chuyện của nhân vật có thật ngoài đời là bà Traudl Junge, phim này bắt đầu vào lúc bà được tuyển làm thư ký cho Adolf Hitler vào năm 1942.
Sau đó, “Downfall” lập tức nhảy qua những ngày cuối của Đệ Nhị Thế Chiến hồi năm 1945, lúc thủ đô Berlin của Đức đang bị Liên Xô tấn công.
Với sự thể hiện của tài tử Bruno Ganz trong vai Adolf Hitler, phim cho khán giả thấy được tâm trạng của Hitler trong những ngày Berlin sắp thất thủ. Ông từ một người tự tin, cho rằng mình chinh phục cả Âu Châu, rồi trở thành một người hoang tưởng, vẫn nghĩ Đức có thể đánh bại phe Đồng Minh.
Tuy là phim chiến tranh, nhưng nét độc đáo của “Downfall” là không có những cảnh chiến trận thảm khốc, chỉ nói về cuộc sống của Hitler và các tướng lãnh dưới hầm chống bom, đến giờ phút cuối vẫn không chịu đầu hàng.

Inglourious Basterds
Đạo diễn Quentin Tarantino thường mang cách nhìn vừa mỉa mai vừa hài hước vào phim, và phim chiến tranh “Inglourious Basterds” chiếu năm 2009 cũng có thể hiện đó tuy là phim chiến tranh.
Phim có bối cảnh trong năm đầu tiên sau khi Đức Quốc Xã chiếm Pháp trong Đệ Nhị Thế Chiến. Một trung úy của phe Đồng Minh tuyển một số binh sĩ gốc Do Thái để trả thù, và phải hợp tác với nhiều người để thực hiện nhiệm vụ đó.
Điểm làm “Inglourious Basterds” nổi bật là cách nhìn giả tưởng của đạo diễn Quentin Tarantino về Đệ Nhị Thế Chiến, có nhiều cảnh hài hước mỉa mai và không thể thiếu những cảnh bạo lực quen thuộc của vị đạo diễn này.
Phim có một cảnh xảy ra trong một rạp phim ở Paris, khi một phim tuyên truyền của Đức Quốc Xã kết thúc đột ngột và rạp phim bị đốt cháy, làm nhiều tướng lãnh của Đức bị giết trong đám cháy đó. Đây là nội dung giả tưởng và suy nghĩ về cách chiến tranh có thể kết thúc ra sao của đạo diễn Tarantino, làm “Inglourious Basterds” trở thành một phim vô cùng quan trọng trong thể loại phim chiến tranh.

Letters from Iwo Jima và Flags of our Father
Vào năm 2006, đạo diễn Clint Eastwood công chiếu đến hai phim về Đệ Nhị Thế Chiến và có cùng một chủ đề, chỉ nói về hai phía khác nhau, nên có thể nói hai phim như một. Hai phim đó là “Flags of Our Father” và “Letters from Iwo Jima” chiếu cách nhau hai tháng.
“Flags of Our Fathers” có bối cảnh vào Tháng Hai và Tháng Ba, 1945. Lúc đó, Hoa Kỳ đang đối đầu với Nhật trong trận chiến vô cùng quan trọng trên đảo Iwo Jima. Sau nhiều trận đánh, một số binh sĩ dựng được cờ Mỹ trên núi, và bức ảnh họ dựng cờ trở thành một biểu tượng của chiến thắng cho nhiều người Mỹ đang mệt mỏi vì chiến tranh. Những binh sĩ dựng cờ đó được coi là anh hùng, nhưng không phải người nào cũng sống sót sau chiến tranh.
“Letters from Iwo Jima” thì nói về câu chuyện gần như không ai biết của những binh sĩ Nhật trên đảo Iwo Jima. Vai chính là Trung Tướng Tadamichi Kuribayashi, do tài tử gạo cội Ken Watanabe đóng, ông biết mình và các binh sĩ không thể nào sống sót được trong các trận chiến sắp tới, nhưng vẫn dùng khả năng lãnh đạo để tử thủ đảo Iwo Jima.
Cả hai phim về đảo Iwo Jima của Clint Eastwood đều được đánh giá rất cao vì cho khán giả thấy được suy nghĩ của các binh sĩ của cả hai phe Mỹ và Nhật, còn có những suy nghĩ của họ sau chiến tranh, nhưng “Letters from Iwo Jima” là phim được khen ngợi nhiều hơn vì tính thực tế về những câu chuyện của các binh sĩ người Nhật, còn được đề cử tranh Oscar phim ngoại ngữ hay nhất.

The Hurt Locker
Hầu hết phim chiến tranh thành công, trong đó có phim của thập niên 2000, thường nói về Đệ Nhị Thế Chiến, và điều đó làm “The Hurt Locker” công chiếu năm 2008 đặc biệt vì thể hiện một cuộc chiến xảy ra cách đây không quá lâu là chiến tranh Iraq.
Phim đưa khán giả đi theo một tiểu đội chuyên phá bom ở Iraq, nhưng người dẫn đầu là một trung sĩ có cách chỉ huy đầy nguy hiểm, dẫn đến nhiều xung đột trong tiểu đội, tạo ra nhiều căng thẳng trong cuộc chiến đầy nguy hiểm.
Tuy không thể hiện chính xác hết được những gì xảy ra ở Iraq và bị chỉ trích vì những điểm không chính xác, nhưng “The Hurt Locker” đã dựng lại được nhiều phần sự thảm khốc của chiến tranh Iraq. Tác phẩm này trở thành nguồn cảm hứng về cách dựng cảnh và về ý nghĩa cho nhiều chiến tranh nói về các cuộc chiến đương đại.
Điều đó giúp đạo diễn Kathryn Bigelow trở thành phụ nữ đầu tiên đoạt giải Oscar đạo diễn xuất sắc nhất.

The Pianist
Những khán giả thích xem phim chiến tranh chắc chắn sẽ vô cùng cảm động khi xem “The Pianist” chiếu năm 2001, nói về một người Do Thái tìm mọi cách để sống còn khi Đức Quốc Xã xâm chiếm Ba Lan.
Dựa theo sách hồi ký cùng tên, bộ phim này nói về nghệ sĩ dương cầm Wladyslaw Szpilman, người Ba Lan gốc Do Thái. Ông sống cả đời chỉ biết âm nhạc, không hề lao động chân tay.
Khi Đức chiếm Ba Lan, ông bị giam trong khu phố giam lỏng người Do Thái ở Warsaw, vừa nghèo đói vừa phải làm việc nặng nhọc. Sau đó, những người Do Thái được đưa vào trại tập trung và không bao giờ quay trở lại. Tuy nhiên, ông Szpilman may mắn được một số người giúp đỡ và phải trốn ở tàn tích của Warsaw để tìm cách sống còn.
Trong những lúc khó khăn, ông không bao giờ quên được tình yêu mình dành cho cây đàn dương cầm cũng như nhạc cổ điển, và điều đó cứu sống ông.
“The Pianist” cho khán giả thấy được sự tàn ác của Đức Quốc Xã đối với người Do Thái, nhưng cũng thể hiện được nhiều cái đẹp và điều tốt trong của con người tuy đang trong thời chiến tranh. Từng giây phút của tuyệt phẩm này đều thể hiện được điều đó.
Tài tử Adrien Brody gần như phải “lột xác” thành nhân vật Szpilman, vì phải tập đánh đàn dương cầm, phải nhịn ăn rất lâu để đóng được vai một người chịu nhiều đau khổ trong thế chiến. Nhờ vậy, ông thắng giải Oscar vai nam chính hay nhất của năm 2003. (Thiện Lê) [qd]
—–
Liên lạc tác giả: [email protected]




































































