Lâm Hoài Thạch/Người Việt
WESTMINSTER, California (NV) – Đông đảo cựu chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và đồng hương đến dự Đại Hội Trực Thăng Toàn Cầu kỳ IV, do các cựu Không Quân Trực Thăng Nam California tổ chức tại nhà hàng Diamond Seafood Palace 3, Westminster, sáng Thứ Năm, 3 Tháng Bảy.

Ban tổ chức cho hay, kể từ Đại Hội Trực Thăng Toàn Cầu kỳ III tại Dallas, Texas, năm 2019, sau một thời gian dài nhận thấy nhu cầu họp mặt của anh em Trực Thăng rất cần thiết, nên các niên trưởng quyết định giao cho Không Quân Nam California tổ chức đại hội kỳ IV.
Theo ban tổ chức, ngành Trực Thăng Không Quân VNCH được thành hình trong ba giai đoạn: Giai đoạn 1: Năm 1960, sau khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, họ bàn giao vài loại Trực Thăng H-19 và Alouette cho Không Quân VNCH. Giai đoạn 2: Từ năm 1961 đến 1970, Không Quân VNCH sử dụng các loại Trực Thăng UH-1 của Hoa Kỳ. Duy chỉ có Phi Đoàn 219 vẫn tiếp tục giữ lại Trực Thăng H-34 để thi hành các phi vụ đặc biệt của Nha Kỹ Thuật, thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH. Giai đoạn 3: Từ năm 1970 đến 1975, Không Quân VNCH bành trướng và cũng là giai đoạn chiến tranh hóa Việt Nam cho đến khi kết thúc cuộc chiến, với các loại Trực Thăng UH-1 (A, B…H).
Về cách cấu trúc, ngành Trực Thăng gồm hai yếu tố: Thứ nhất là mã số Phi Đoàn bắt đầu bằng con số 2. Ví dụ như các Phi Đoàn 211, Phi Đoàn 213, Phi Đoàn 215, Phi Đoàn 217 và cứ tiếp tục như thế.
Yếu tố thứ hai gồm các danh xưng của các phi đoàn. Ví dụ như Phi Đoàn 211 là Thần Chùy, Phi Đoàn 213 là Song Chùy, Phi Đoàn 215 là Thần Tượng… Và cứ thế được tiếp tục cho đến phi đoàn được thành lập cuối cùng là Phi Đoàn 257 Tản Thương.
Ngoài ra, các Biệt Đội Tản Thương 259 từ A… đến H cũng được thành lập để yểm trợ cho các Khu Chiến Thuật.

Sau phần đốt pháo mừng đại hội, cô Đặng Tuyết Mai, ái nữ của cố Đại Tá Đặng Văn Phước, nguyên không đoàn trưởng Không Đoàn 51 Chiến Thuật, Sư Đoàn 1 Không Quân VNCH, trao tặng ban tổ chức bánh sinh nhật mừng Đại Hội Trực Thăng Toàn Cầu kỳ IV.
Sau nghi thức khai mạc, Không Quân Đặng Quỳnh (Phi Đoàn 219), trưởng ban tổ chức, ngỏ lời chào mừng và cám ơn các chiến hữu bạn và gia đình của Không Quân VNCH đến tham dự.
Từ năm 1960 đến 1975, Quân Chủng Không Quân VNCH có tổng cộng 24 Phi Đoàn Trực Thăng, trong đó có bốn Phi Đoàn Trực Thăng Chinook CH-47 là loại trực thăng vận tải hạng nặng. Mỗi phi đoàn được một phi đoàn trưởng điều hành.
Cựu Không Quân Nguyễn Văn Mai, điều hợp chương trình, nói: “Có Trực Thăng mà không có người điều khiển, thì chưa nói hết cấu trúc của ngành Trực Thăng. Đó là tôi muốn nói đến các Hoa Tiêu Trực Thăng. Tại hội trường này, tôi xin mời tất cả anh em thuộc ngành Trực Thăng Không Quân VNCH, xin các chiến hữu hãy đứng lên ngay tại chỗ cho tôi được xin thưa vài điều.”
“Chiếc áo bay mà các anh mặc hôm nay, đã được cất kỹ trong một góc tủ nào đó trong suốt hơn 50 năm, đến bây giờ mới có dịp ‘Đập cổ kính ra tìm lấy bóng/ Xếp tàn y lại để dành hơi.’ Hơi là mùi hương của thuốc súng, mùi hương của chiến trường của thuở nào. Tôi xin mượn hai câu thơ đó của thi sĩ Nguyễn Gia Thiều để nói lên điều này,” ông Mai nói thêm.

Sau đó, ông Mai mời quý phu nhân của các cựu chiến sĩ Trực Thăng đứng bên cạnh người chồng yêu quý, hoặc là người tình năm xưa. Họ là những người hùng đã một thời khuấy động không gian, một thời vào sanh ra tử.
Rồi ông nói tiếp: “Thưa quý phu nhân, sau cuộc chiến tàn khốc vào những năm 1960-1975, các anh giờ vẫn còn đây. Sau những tháng năm tù đày khổ nhục trong các ngục tù của Cộng Sản Việt Nam, các anh giờ vẫn còn đây. Và sau hơn 50 năm biệt xứ, các anh giờ vẫn còn đây. Thưa quý chị, các anh thật là loài chim quý hiếm còn sót lại trên trái đất này. Xin quý chị trân quý cho.”
“Thưa các cựu chiến sĩ đồng môn, ngồi bên các anh là những người tình, người vợ hiền đã cùng các anh suốt cuộc đời đồng cam cộng khổ, và đã trải qua biết bao thăng trầm của cuộc đời, qua những câu ca dao vẫn còn véo von trong hồn quê dân tộc: ‘Con cò lặn lội bờ sông/ Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non.’ Đó là những hình ảnh đi thăm nuôi chồng trong các trại cải tạo Cộng Sản trong những ngày tù đày của các anh. Vì thế, các anh còn nợ các chị nhiều lời tạ ơn,” cựu Không Quân Nguyễn Văn Mai nói thêm.

Chương trình văn nghệ được mở đầu liên khúc “Không Quân Hành Khúc” và “Chiến Sĩ Vô Danh” do toàn ban văn nghệ của Trực Thăng Không Quân VNCH hợp ca. Sau đó là nhiều tiết mục đơn ca, song ca, hợp ca với những tiếng hát của các chiến hữu Không Quân cùng gia đình trình diễn. Đặc biệt với những tiếng hát của các ca sĩ Carol Kim, Phương Hồng Quế, Trang Thanh Lan, Leon Vũ, Chế Tùng, Ban AVT Không Quân và ban nhạc Trung Nghĩa.
Những “Chim Sắt UH-1” của Phi Đoàn 219 với công tác hằng ngày như liên lạc, tiếp tế, tải thương, đổ quân, bốc quân. Các Gunship với nhiệm vụ hộ tống và yểm trợ tác xạ cho tất cả các đơn vị bạn của Quân Lực VNCH, đôi khi họ còn phải bắt sống địch quân mang về cho những đơn vị đặc biệt khai thác. Với lòng gan dạ và dũng cảm đó nên phi đoàn này còn có danh xưng “Kingbee 219.”
Không Quân Đặng Quỳnh, cựu Sinh Viên Sĩ Quan Khóa 7/68 Không Quân, đơn vị cuối cùng là hoa tiêu của Kingbee 219, cho biết cuối năm 1974, Phi Đoàn 219 đổ quân qua vùng Hạ Lào gồm hai chiếc chở quân và hai chiếc Gunship. Đổ quân xong về đậu trực thăng tại phi trường nhỏ ở Bản Đôn để chờ lệnh bốc quân về.

Lúc đó ông Đặng Quỳnh lái Gunship. Có một chiếc L19 đáp xuống báo cho biết là thấy một đoàn công voa của Cộng Sản đang di chuyển trên đường mòn tại gần biên giới Hạ Lào.
Ông Quỳnh kể: “Nghe tin, hai chiếc Gunship chúng tôi xin lệnh cấp trên lên đường đánh đoàn công voa của địch, vì nơi này cũng gần điểm mình vừa thả quân hồi sáng. Chiếc L-19 bay trước hướng dẫn hai chiếc Gunship. Lúc đó ngay buổi trưa trời trong sáng, nên từ xa chúng tôi thấy bụi đang bay mờ cả một vùng rất dài, đó là đoàn công voa của địch đang di chuyển ban ngày, gần nơi vùng Tam Biên, cách Bản Đôn trên 10 cây số về phía Tây. Hai chiếc Gunship chia ra hai bên để tác xạ xuống đoàn công voa của địch đang di chuyển. Chúng tôi bắn rocket và đại liên Minigun ồ ạt xuống đoàn công voa của địch, thì đoàn xe của chúng ngừng lại, địch quân lao xuống đường có một số băng vào rừng để ẩn trốn.”
Cũng theo ông, hai chiếc Gunship bay một vòng rồi trở lại đánh địch lần thứ hai. Đến lúc này, địch quân đã chuẩn bị nhiều súng phòng không. Lúc hai chiếc Gunship hạ thấp xuống để bắn địch thì địch đã bắn đạn phòng không lên như mưa.

Trong lúc trực thăng của ông Đặng Quỳnh đang đâm xuống để tránh lằn đạn của địch, thì ông nghe một tiếng nổ lớn bên tai. Trực thăng của ông đã trúng đạn của địch! Đạn trúng ngay đế của cây Minigun và nhiều nơi khác, đế này rất dày nên không phá được tàu, hai xạ thủ thì đã tử trận vì trúng đạn của địch, còn hai cây Minigun cũng bị văng mất, kiếng trước mặt của phi công cũng không còn.
Ông Đặng Quỳnh nhớ lại: “Hai xạ thủ đại liên đã hy sinh và thân của họ đã che đạn cho hai phi công. Nhưng chân phải của tôi thì cũng bị trúng đạn máu ra đầm đìa. Nhưng may, tàu vẫn còn nổ máy và tôi cố đưa tàu ra khỏi vòng chiến. Tôi thấy một cầu vòng màu đỏ trước mắt tôi thì phi công phụ của tôi là Nguyễn Hùng Lực mới nói với tôi là máu từ trên trán của tôi bắn ra một tia nhỏ mà tôi cứ ngỡ đó là cầu vồng, và thân tôi đã bị thương rất nhiều chỗ.”
“Sau đó, phi công Lực cố gắng đưa tàu về đến Trung Đoàn 45, Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Anh em mới chở thẳng tôi về bệnh viện Ban Mê Thuột. Bác sĩ cho biết tôi bị mất máu rất nhiều. Cũng may trong phi đoàn có anh Dương Ngọc Như máu O+ nên anh cho máu nào cũng được. Chính máu của chiến hữu Nhu đã cứu sống tôi. Sau đó, tôi được đưa về bệnh viện Nguyễn Huệ, Nha Trang. Cuối cùng tôi được đưa về Quân Y Viện Cộng Hòa Sài Gòn cho đến cuối Tháng Tư, 1975,” ông Quỳnh cho biết thêm.

Hiện diện trong đại hội có chiến sĩ Không Quân Chung Tử Bửu, thuộc Phi Đoàn Kingbee 219, từ Houston, Texas về.
Ông kể: “Vào ngày 22 Tháng Hai, 1971, trực thăng của tôi bị địch bắn rớt lúc bay vào căn cứ 31 của Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù. Tôi bị kẹt lại căn cứ này cho đến ngày 25 Tháng Hai, 1971, thì căn cứ này bị cộng quân tràn ngập và tôi bị địch bắt. Sau đó địch giải tôi về Bắc Việt. Tôi bị ở tù của Cộng Sản Bắc Việt hết 13 năm, tám tháng, một tuần thì họ mở thả tôi về miền Nam. Đến năm 1990, tôi được sang định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO 3. Sau đó tôi được làm việc cho Học Khu Los Angeles 18 năm. Năm 2009, tôi di chuyển về Houston, Texas, cho đến bay giờ. Hiện giờ, tôi phục vụ cho Chúa với chức vụ là mục sư.” (Lâm Hoài Thạch) [qd]


































































































