Tinh gọn để tăng hiệu năng hay bịt miệng truyền thông?

*Chuyện Vỉa Hè
*Đặng Đình Mạnh

Trong tiến trình phát triển hiện đại, truyền thông, bao gồm truyền hình và báo chí luôn đóng vai trò trung tâm trong việc phản ánh đời sống xã hội, cung cấp thông tin và kiến tạo diễn đàn công luận và đặc biệt, một “kênh” phòng chống tham nhũng hữu hiệu.

Thậm chí, ở nhiều quốc gia phương Tây, truyền thông còn được thừa nhận rộng rãi như quyền lực thứ tư bên cạnh các quyền lực quốc gia truyền thống như lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Một trong những sạp báo trên lề đường ở Hà Nội. Tất cả mọi tờ báo được phép xuất bản tại Việt Nam đều có một “cơ quan chủ quản” là cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương. Báo tư nhân bị cấm tuyệt đối. (Hình: Nam Nguyễn/AFP/Getty Images)

Ở Việt Nam, từ năm thập niên qua, truyền thông vừa là “cơ quan ngôn luận của Đảng”, vừa là “diễn đàn của nhân dân”, theo đúng định nghĩa trong Luật Báo chí. Tuy nhiên, khi ông Tô Lâm bước lên vị trí Tổng Bí thư, phác họa ra “kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” bằng chính sách dẹp bỏ, sáp nhập hàng loạt cơ quan truyền thông nhân danh mục tiêu “tinh gọn bộ máy, tập trung nguồn lực”. Theo đó, bộ mặt truyền thông của nước nhà đã thay hình, đổi dáng một cách cơ bản.

Vấn đề đặt ra rằng, đây có thực sự là một cuộc cải cách hành chính nhằm tiết kiệm ngân sách, hay chỉ là một biện pháp chính trị nhằm thắt chặt kiểm soát dư luận?

Bối cảnh và xuất phát điểm

Thật ra, chủ trương sắp xếp lại hệ thống truyền thông của chế độ đã có từ năm 2019 dưới thời Nguyễn Phú Trọng. Thế nhưng, đến nay, sau khi kế nhiệm chức vụ Tổng Bí thư, thì Tô Lâm đã mạnh tay thi hành chủ trương này.

Khi ấy, Ban Tuyên giáo Trung ương đã ban hành “Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí đến năm 2025”, theo đó hệ thống báo chí Việt Nam sẽ giảm đáng kể về số lượng: các tạp chí, báo in, đài phát thanh, truyền hình địa phương buộc phải sáp nhập, chỉ giữ lại một số cơ quan chủ lực.

Con số trên thực tế rất đáng chú ý, từ gần 900 cơ quan truyền thông, trong đó, hơn 800 cơ quan báo chí từ các ngành, đoàn thể, hội nghề nghiệp, cùng 64 đài phát thanh, truyền hình địa phương. Bộ máy này bị chế độ đánh giá là vừa cồng kềnh, lại vừa tốn kém khi phụ thuộc nặng nề vào ngân sách nhà nước.

Trong bối cảnh ngân sách thâm hụt, EVN và nhiều tập đoàn quốc doanh lỗ hàng chục nghìn tỷ đồng, việc tinh gọn để thực hiện tiết kiệm bằng cách thu hẹp truyền thông báo chí được xem là giải pháp.

Mặt khác, dưới con mắt “nhà nghề” của một Tổng Bí thư xuất thân từ ngành an ninh, việc triển khai chính sách này còn mang một sắc thái khác, vì lẽ, nó được đặt trong tổng thể chiến lược “an ninh hóa mọi lĩnh vực xã hội”, từ văn hóa, giáo dục cho đến truyền thông.

Lập luận chính thức: “Tinh gọn để mạnh hơn”

Các văn bản tuyên truyền của chế độ về việc tinh gọn bộ máy truyền thông đã nhấn mạnh ba điểm chính:

1. “Giảm trùng lặp thông tin”. Tránh tình trạng hàng chục tờ báo cùng thuộc một sở, ngành nhưng đưa tin y hệt nhau.

2. “Tiết kiệm ngân sách”. Một số đài truyền hình cấp tỉnh chỉ hoạt động cầm chừng, trong khi chi phí duy trì hàng trăm tỉ đồng mỗi năm.

3. “Tập trung nguồn lực xây dựng cơ quan chủ lực”. Thay vì phân tán, sẽ có vài “đầu tàu truyền thông” như VTV, VOV, Thông tấn xã Việt Nam, các báo đảng như Nhân Dân hoặc Sài Gòn Giải Phóng.

Trên giấy tờ, đó là một lý lẽ hợp lý. Vì hệ thống truyền thông cồng kềnh so với một ngân sách hạn hẹp, thì việc cần tinh gọn là điều cần thiết.

Hệ lụy xã hội và sự thu hẹp không gian thông tin

Tuy nhiên, thực tế lại phơi bày những hệ quả đáng lo ngại, vì lẽ:

– Thu hẹp đa dạng tiếng nói: Khi hàng trăm cơ quan bị giải thể, chỉ còn vài báo “chính chủ” của đảng Cộng Sản tồn tại, tiếng nói xã hội sẽ trở nên đồng giọng, thiếu phản biện. Cho thấy, thực chất không phải giảm trùng lặp thông tin, mà là giảm sự đa dạng thông tin.

– Nguy cơ thất nghiệp hàng loạt: Theo thống kê của Hội Nhà báo Việt Nam, lực lượng báo chí hiện nay có hàng chục nghìn phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên. Sáp nhập đồng nghĩa với khả năng hàng chục nghìn người mất việc, trong khi thị trường báo chí độc lập ở Việt Nam bị cấm đoán hoàn toàn. Rõ ràng, nhân sự trong hệ thống truyền thông bị tinh gọn không còn “cửa thoát”, ngoại trừ tự tìm nghề khác.

– Mất cân bằng giữa báo chí chính thống và mạng xã hội: Siết chặt truyền thông chính thức, người dân sẽ phải tìm nguồn thay thế từ truyền thông phi chính thức từ mạng xã hội, như Facebook, X, TikTok, YouTube… những nền tảng truyền thông ngoài vòng kiểm duyệt trong nước. Thay vì kiểm soát tốt hơn, chính quyền có nguy cơ mất hẳn khả năng định hướng dư luận.

– Khủng hoảng niềm tin: Khi công chúng cảm nhận truyền thông chính thức chỉ còn là “loa phát ngôn” cho chính quyền, mọi thông tin từ báo chí sẽ bị nghi ngờ. Niềm tin xã hội vốn đã lung lay, sẽ càng sụp đổ nhanh hơn.

Góc nhìn an ninh trị

Để hiểu đúng động cơ, cần đặt chính sách tinh gọn truyền thông của Tô Lâm vào chiến lược tổng thể, đó là sự củng cố quyền lực cá nhân (Tô Lâm) và phe nhóm (Hưng Yên, Công an) thông qua việc kiểm soát chặt chẽ truyền thông.

– Xuất thân từ an ninh, Tô Lâm nhìn truyền thông không như một kênh phản ánh xã hội, mà như một công cụ an ninh. Bởi vậy, chính sách tinh gọn thực chất là thu hẹp đầu mối để dễ kiểm soát hơn mà thôi.

– Trong bối cảnh nội bộ Đảng còn chia rẽ sâu sắc sau các biến động nhân sự, hạ bệ hàng loạt quan chức cao cấp như Nguyễn Xuân Phúc, Võ Văn Thưởng, Vương Đình Huệ, Trương Thị Mai… báo chí trở thành chiến trường quan trọng. Việc sáp nhập, dẹp bỏ cũng đồng nghĩa với việc giải tán các “ổ nhóm lợi ích” trong truyền thông vốn gắn với các phe chính trị khác.

– Đại hội XIV năm 2026 đang đến gần. Kiểm soát truyền thông đồng nghĩa với kiểm soát dư luận, ngăn ngừa mọi tiếng nói bất lợi cho quá trình củng cố quyền lực.

So sánh quốc tế

– Trung Cộng: Từ năm 2018, Bắc Kinh đã sáp nhập hàng loạt báo, đài vào Tân Hoa xã, CCTV, Nhân dân Nhật báo, hình thành các “tập đoàn truyền thông nhà nước khổng lồ”. Hệ quả, báo chí bị đồng hóa thành công cụ tuyên truyền, công chúng quay sang WeChat, Weibo để tìm sự thật, tạo ra “thế giới thông tin ngầm” mà chính quyền càng lo ngại.

– Các quốc gia dân chủ phương Tây: Báo chí tự do, tự chủ tài chính. Chính quyền chỉ giữ vai trò giám sát tuân thủ luật pháp (ví dụ, luật chống độc quyền truyền thông ở Mỹ, luật bảo vệ tự do báo chí ở Pháp). Dù có hiện tượng tập trung truyền thông vào tay các tập đoàn lớn, song vẫn tồn tại báo chí độc lập, đa dạng quan điểm, nhờ vậy lòng tin xã hội được duy trì.

Bài học rút ra từ chính sách truyền thông của Trung Cộng và các quốc gia dân chủ cho thấy: Mô hình Trung Quốc giúp kiểm soát trong ngắn hạn nhưng gây khủng hoảng niềm tin lâu dài; mô hình phương Tây tạo cạnh tranh và minh bạch, dù có khó khăn nhưng đảm bảo báo chí là “quyền lực thứ tư” thật sự.

Đánh giá tổng quát

Có thể nói, chủ trương của Tô Lâm mang tính chiến thuật ngắn hạn hơn là cải cách mang tầm nhìn chiến lược.

Về phương diện xã hội, nó tạo ra sự đồng nhất cưỡng bức, thu hẹp tính tích cực là sự đa dạng tiếng nói của truyền thông chính thức, đẩy người dân sang “thị trường” truyền thông phi chính thức.

Về phương diện chính trị, nó phản ánh tư duy an ninh trị. Trong đó, thông tin bị xem như mối đe dọa, chứ không phải nguồn lực phát triển.

Trong ngắn hạn, Tô Lâm có thể đạt mục tiêu kiểm soát dư luận, đặc biệt khi Đại hội XIV tới gần. Nhưng về dài hạn, hệ quả là khủng hoảng niềm tin công chúng, mất khả năng cạnh tranh thông tin quốc tế, và xa rời xu hướng tự do báo chí toàn cầu.

Ba nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng (bên phải), Nguyễn Tường Thụy (bên trái) và Lê Hữu Minh Tuấn (phía sau) bị lôi ra tòa kết án ngày 5 Tháng Giêng 2021 từ 11 đến 15 năm tù vì làm tờ báo “Việt Nam Nhật báo” không xin phép, lại còn đăng tải các bài viết đả kích chế độ. (Hình: VNA/AFP/Getty Images)

Chưa kể rằng, công chúng quay lưng với truyền thông chính thức và chỉ đón nhận thông tin từ truyền thông phi chính thức, mà ở đó, chế độ hầu như không thể quản lý nổi, nhất là những mặt trái của truyền thông phi chính thức như tin giả, thuyết âm mưu và cực đoan…

Giải pháp, nhưng bất khả thi

Về phương diện kinh tế, nếu chỉ vì lý do chính thức được chế độ nêu ra rằng tinh gọn truyền thông để thực hiện tiết kiệm ngân sách, thì có lẽ giải pháp không quá khó khăn. Chỉ cần giải tư, tức tư nhân hóa truyền thông, để các đài truyền hình, báo chí tự chủ về tài chính là đủ. Khi ấy, họ có thể tự sinh, tự diệt mà không ảnh hưởng gì đến ngân sách nhà nước cả.

Khi ấy, chính khán thính giả của truyền hình, độc giả của báo chí mới là giám khảo quyết định sự tồn tại của từng đài truyền hình, hoặc tờ báo trong hệ thống truyền thông.

Thế nhưng, sự đời không đơn giản. Chính những toan tính về an ninh của chế độ, với mục tiêu hạn chế các tiếng nói đa chiều (mặc dù đều của chế độ), đã khiến mọi giải pháp đều trở nên bất khả thi. Ngoại trừ sự ngoan ngoãn phục tùng chủ trương tinh gọn.

Tóm lại, việc tinh gọn truyền thông hiện nay không chỉ đơn giản là “tinh gọn bộ máy”. Nó là dấu hiệu cho thấy Việt Nam đang đi sâu hơn vào con đường độc tài thông tin, nơi mà những ích lợi tích cực của truyền thông hoàn toàn bị triệt tiêu, điều còn lại, truyền thông chỉ còn chút ít giá trị, như một bản tin của tổ dân phố mà thôi.

Đặt trong bối cảnh quốc tế, nơi đang bùng nổ thông tin vì các nền tảng truyền thông, thì đây là một bước thụt lùi nghiêm trọng so với xu thế dân chủ hóa và đa dạng hóa truyền thông. Về bản chất, chính sách này không nhằm phát triển báo chí mạnh hơn, mà chỉ nhằm củng cố quyền lực chính trị của Tô Lâm và nhóm cầm quyền.

Trước nay, truyền thông trong nước đã bị tước đoạt mất chức năng phản biện xã hội, phòng chống tham nhũng, nay lợi ích nhỏ nhoi cuối cùng là sự đa dạng thông tin cũng bị tước đoạt hẳn. Điều nguy hiểm nhất không phải là các đài truyền hình đóng cửa, vài tờ báo bị sáp nhập, mà là công chúng tìm kiếm sự thật qua những kênh truyền thông phi chính thức.

Khi đó, chính quyền sẽ phải đối diện với một nghịch lý: Càng siết chặt truyền thông, càng mất kiểm soát dư luận.

Hoa Thịnh Đốn, ngày 23 Tháng Tám 2025
Đặng Đình Mạnh

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT