Đại hội đảng CSVN và khát vọng Đổi Mới

Hiếu Chân/Người Việt

Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung Ương thứ 15 của đảng CSVN bế mạc vào sáng ngày 23 Tháng Mười Hai, 2025. Đây là hội nghị cuối cùng của khoá 13, chuẩn bị nội dung và danh sách nhân sự cho Đại Hội Toàn Quốc ĐCSVN thứ 14, tổ chức ở Hà Nội từ ngày 19 đến 25 Tháng Giêng, 2026. Sự kiện chính trị mỗi năm năm một lần này thu hút sự quan tâm không chỉ của đồng bào trong nước mà cả những nhà đấu tranh và quan sát chính trị Việt Nam ở ngoại quốc. Có người so sánh Đại Hội 14 sắp tới với Đại Hội 6 năm 1986 và hy vọng Đại Hội 14 sẽ mở ra cơ hội cải cách để đưa đất nước tiến lên. Thật không?

Quang cảnh Hội Nghị Trung Ương 15. (Hình minh họa: Gia Hân/Tuổi Trẻ)

Từ Đại Hội 6 năm 1986

Đại Hội 6, Tháng Mười Hai, 1986, của ĐCSVN, sau cái chết của Tổng Bí Thư Lê Duẩn vào Tháng Sáu, 1986, được cho là mở ra một cánh cửa hướng tới một trật tự kinh tế linh hoạt hơn, gọi là thời kỳ Đổi Mới. Bối cảnh của Đại Hội 6 là một nước Việt Nam trên bờ vực phá sản: cả nước đói vàng mắt một phần do các chính sách kinh tế phản động, sa lầy trầm trọng trong cuộc chiến tranh ở Cambodia và cuộc chiến với Trung Quốc ở biên giới phía Bắc (kéo dài đến năm 1989) và bị cô lập trên trường quốc tế.

Để tự cứu lấy mình, ĐCSVN buộc phải thay đổi: các “lão thành cách mạng” đầu óc xơ cứng như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ bị buộc phải lùi vào vị trí “cố vấn,” thực quyền được trao cho một thế hệ mới, đại diện cho xu thế cải cách: Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt. Đây là lần đầu tiên và có thể là duy nhất, phe cộng sản miền Nam thực tế và thực dụng hơn, đã vượt qua được lực cản giáo điều của phe cộng sản miền Bắc để rồi chỉ vài năm sau xu thế đó lại bị đảo ngược khi Đỗ Mười lên lãnh đạo năm 1991.

Thay đổi quan trọng mà Đại Hội 6 mang lại liên quan đến quyền sở hữu tài sản. Chủ nghĩa cộng sản không thừa nhận tư hữu, nhưng khi kinh tế sụp đổ, người dân đói khát, mầm mống chống đối tăng mạnh, ĐCSVN buộc phải nới lỏng “giáo điều,” công nhận “kinh tế nhiều thành phần,” cho phép tư nhân – trước tiên là nông dân – được sở hữu và kinh doanh nhỏ lẻ. Ngoài sở hữu nhà nước (quốc doanh) và sở hữu tập thể (hợp tác xã, nông trường) vẫn là chủ đạo, ĐCSVN bắt đầu công nhận quyền sở hữu của tư nhân, của nhà đầu tư nước ngoài và chấm dứt chính sách quốc hữu hoá, tịch thu tài sản tràn lan, tuỳ tiện.

Có thể nói, đường lối Đổi Mới của ĐCSVN năm 1986 – thực hiện 10 năm sau khi đảng Cộng Sản Trung Quốc dưới quyền Đặng Tiểu Bình có sự thay đổi chính sách tương tự – bước đầu đã mang lại kết quả tích cực. Từ một nước đói kém, Việt Nam bắt đầu xuất cảng gạo vào năm 1989 và bắt đầu thu hút vốn đầu tư ngoại quốc từ năm 1990, xuất hiện hàng trăm khu chế xuất, khu công nghiệp, du nhập vốn liếng, công nghệ và quản trị của ngoại quốc để làm hàng hoá xuất cảng, mở ra một mô hình kinh tế dựa vào xuất cảng.

Nhưng sự sụp đổ của đế chế cộng sản Liên Xô năm 1990 làm cho các nhà lãnh đạo ĐCSVN lo sợ. Trong cơn hốt hoảng, họ chạy sang Thành Đô van nài Bắc Kinh nối lại quan hệ, chấp nhận làm “đàn em,” chấp nhận rút quân khỏi Cambodia và nhượng đất đai ở biên giới phía Bắc. Ở trong nước, cánh cửa Đổi Mới đột ngột khép lại, kinh tế thị trường bị gắn thêm cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa,” xác định “kinh tế quốc doanh” là chủ đạo dù vẫn ưu ái cho tư bản ngoại quốc. Về chính trị, cuộc đàn áp những tiếng nói đối lập – được nới lỏng một phần và trong một thời gian ngắn trước ngày Liên Xô tan rã – gia tăng cường độ trở lại, nhất là sau khi người dân bày tỏ sự phẫn nộ trước các chính sách của đảng.

40 năm sau Đại Hội 6, Việt Nam không còn là một quốc gia đói kém mà trở thành nền kinh tế đang phát triển cỡ trung bình, với tổng sản lượng hằng năm (GDP) khoảng $500 tỷ, xếp thứ tư trong ASEAN (sau Indonesia, Thái Lan và Singapore). Việt Nam cũng không còn là một quốc gia cộng sản thuần thành như thời Lê Duẩn mà đã biến thái thành một thể chế độc tài đảng trị có màu sắc phong kiến tập thể, cai trị trên nền một thể chế kinh tế tư bản thân hữu, bè phái dựa trên địa tô và sức lao động giá rẻ.

Thời cuộc đã khác xưa

Việt Nam năm 2026 không còn là Việt Nam năm 1986. Nhưng những trở ngại của con đường phát triển vẫn còn đó mà ĐCSVN dường như chưa, hoặc không, muốn thay đổi; thậm chí còn trở nên phản động hơn trước.

Những chính sách thúc đẩy kinh tế giai đoạn sau 1986 đã hết động lực. Cho đến nay, sau 40 năm Đổi Mới, hoạt động chủ yếu của kinh tế Việt Nam vẫn là làm “gia công” cho tư bản ngoại quốc. Chính ông Tô Lâm, tổng bí thư ĐCSVN hiện nay, cũng phải thừa nhận: “Xuất cảng công nghệ của Việt Nam chỉ là mồ hôi và ô nhiễm môi trường!” Một nền kinh tế dựa chủ yếu vào nước ngoài mà không đặt căn bản trên nội lực của người dân tất nhiên không bền vững và có nguy cơ sụp đổ khi môi trường kinh doanh quốc tế thay đổi, chẳng hạn như chính sách thuế quan (tariff) của chính quyền Donald Trump hiện nay.

“Định hướng xã hội chủ nghĩa” tạo môi trường thuận lợi cho chủ nghĩa tư bản thân hữu, trong đó các nhà tài phiệt tư nhân câu kết chặt chẽ với quan chức chính trị để trục lợi. Trong các vụ án đình đám gần đây, sau lưng các bị cáo là quan chức cao cấp luôn có bóng dáng các tài phiệt “cá mập” và ngược lại, đến mức người dân coi đó là hiện tượng tất nhiên. Bộ Chính Trị ĐCSVN dưới thời Tô Lâm mới đây đã ban hành Nghị Quyết 68, chuyển trọng tâm phát triển sang khu vực kinh tế tư nhân nhưng ai cũng biết, “tư nhân” trong nghị quyết không ai khác hơn là các tài phiệt cá mập, không phải là các nhà công nghiệp, thương gia trong môi trường kinh tế tự do.

Bây giờ thì người Việt không còn nhai hạt bo bo gãy cả răng như thời 1986, nhưng nỗi đói khát vẫn còn đó: đói tinh thần, đói tự do, đói nhân quyền. Cuộc mở cửa năm 1986 có phần nào “mở mắt” để người dân nhìn ra thế giới chung quanh. Sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, của mạng toàn cầu Internet và trào lưu du lịch nước ngoài đã giúp một bộ phận dân chúng biết thân biết phận, biết mình đang đứng ở đâu trên thế giới này. Những lập luận tuyên truyền tẩy não về sự ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa trở thành đề tài châm biếm; nhiều sự thật lịch sử xưa nay bị che giấu, bị xuyên tạc, lần lượt được phơi bày.

Lựa chọn của đảng CSVN

Nếu có một điểm chung giữa Đại Hội 6 và Đại Hội 14 sắp tới là sự bất mãn của người dân; người ta hoàn toàn mất niềm tin vào vai trò lãnh đạo đất nước của ĐCSVN. Và càng ngày người ta càng thấm thía thân phận bị tước quyền công dân, bị làm khán giả bất đắc dĩ trong các sự kiện tranh giành quyền lực ở thượng tầng chế độ, không được lên tiếng nói, không có quyền lựa chọn.

Cũng như năm 1986, người dân đã mệt mỏi và thất vọng, họ kỳ vọng một sự thay đổi. Nhưng đối mặt với khát vọng tự do và pháp quyền, đảng ĐCSVN chọn phương pháp đàn áp thay cho đối thoại và hoà giải. Hội Nghị 15 vừa kết thúc cho phép dự đoán, Đại Hội 14 ĐCSVN sẽ suy tôn ông Tô Lâm; ông Tô Lâm sẽ tiếp tục ngồi chiếc ghế tổng bí thư mà ông ta đã ngồi suốt năm qua sau ngày ông Nguyễn Phú Trọng qua đời.

Quan lộ của Tô Lâm cho thấy, kỳ vọng đại hội này sẽ đặt căn bản cho một cuộc Đổi Mới lần thứ hai – đổi mới thể chế chính trị – là hoàn toàn không tưởng. Sử dụng bộ máy an ninh làm công cụ, ông Tô Lâm dùng nhiều thủ đoạn thâu tóm quyền lực, đưa người của mình (Công An, Hưng Yên) vào các chức vụ quan trọng nhất, sáp nhập các tỉnh thành để bảo đảm Đại Hội 14 chỉ gồm các đại biểu trung thành với ông ta và manh nha thiết lập chế độ “chấm điểm công dân” để siết chặt việc quản lý toàn xã hội, phát hiện và trấn áp ngay lập tức những mầm mống chống đối của người dân.

Thay vì chọn đổi mới thể chế chính trị, thực hành dân chủ để lấy lại niềm tin của người dân, từ đó huy động sức mạnh trí tuệ và của cải của dân tộc vào công cuộc phát triển đất nước, ĐCSVN quyết chọn một “bàn tay sắt” đối đầu với toàn dân.

Chọn ông Tô Lâm làm người lãnh đạo cao nhất, ĐCSVN đã chọn con đường đối lập với nhân dân, cai trị dựa trên sự sợ hãi, kiểm soát và trấn áp mà không đặt căn bản trên sự đồng thuận dân chủ. Với lựa chọn này, đảng CSVN có thể tiếp tục duy trì độc quyền cai trị như một thế lực chiếm đóng thêm một thời gian nữa nhưng khi mô hình công an trị được đẩy lên cực điểm, chỉ còn đàn áp và cưỡng chế, không còn đối thoại và hòa giải thì đó có thể là điểm tận cùng của chế độ. [dt]

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT