Lâm Hoài Thạch/Người Việt
WESTMINSTER, California (NV) – Cựu Kỵ Binh Vũ Đình Lưu sinh năm 1946 tại Quận Phù Mỹ, Tỉnh Bình Định, thuộc vùng duyên hải Miền Trung. Năm 1968, trong lúc ông dạy học trường Trung Học Tư Thục Lê Bảo Tịnh, Sài Gòn thì có lệnh gọi tổng động viên. Ông nhập ngũ Tháng Tư, 1968 khóa 2/68 Trừ Bị Thủ Đức. Giai đoạn 1 ông học căn bản quân sự tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung ba tháng, và giai đoạn 2 ở Trường Bộ Binh Thủ Đức ba tháng.

Khóa 2/68 Trừ Bị Thủ Đức khoảng 2,000 Sinh Viên Sĩ Quan (SVSQ). Phân nửa được thụ huấn ở Quân Trường Thủ Đức, và số còn lại thụ huấn tại Quân Trường Đồng Đế, Nha Trang. Khóa 2/68 là khóa sĩ quan đầu tiên có tại Trường Đồng Đế Nha Trang. Tất cả các SVSQ/K2/68 của hai quân trường đều ra trường khoảng cuối Tháng Chín, 1968.
Sau đó tân Chuẩn Úy Vũ Đình Lưu được thụ huấn Khóa 23 Căn Bản Thiết Giáp trong khuôn viên Trường Bộ Binh Thủ Đức. Đầu năm 1969, ông ra trường Thiết Giáp.
Kể với phóng viên nhật báo Người Việt tại Westminster, Little Saigon, ông Lưu cho biết sau khi chấm dứt chiến dịch Toàn Thắng tại Cambodia vào năm 1972, là chuyện Chi Đoàn 2/5 Thiết Kỵ và ông giải cứu tiền đồn Xà Bang. Rồi sau đó, ông tham gia những trận đánh tại Long Khánh. Trong thời gian này, Cựu Đại Úy Vũ Đình Lưu là chi đoàn trưởng, Chi Đoàn 2/5 Thiết Kỵ.
Sau nhiều trận đánh ác liệt, Chi Đoàn 2/5 Thiết Kỵ tiếp tục tham chiến nhiều trận đánh trong những ngày của Tháng Tư, 1975, trong đó có trận tử chiến với Cộng Sản Bắc Việt tại Đồi Móng Ngựa.
Mở “đường máu” để thoát sự bao vây của địch
Trong trận đánh tại Đồi Móng Ngựa bị địch bao vây tứ phía, Đại Úy Lưu và Đại Úy Mừng liền nghĩ ngay một kế sách, là phải “mở đường máu” xuyên qua vòng vây của địch, và Đại Tá Dũng cũng đồng ý với kế sách này.
Đại Úy Lưu liền lệnh cho các Chi Đội kêu bộ binh lên xe, gần xe nào lên xe ấy. Họ quyết định “mở đường máu” về phía Tây vườn cao su để về ấp Bàu Hàm. Đây là một ấp nhỏ của người Nùng chuyên sống về nghề rẫy hoa màu phụ, trồng cây thuốc lá… Nơi này cách ngã ba Dầu Giây khoảng 7 km về hướng Tây Bắc. Ngay trong lúc này, họ đã nhìn thấy nhiều chiến xa địch xuất hiện trên Quốc Lộ 20 và bắt đầu tác xạ vào đội hình của các chiến sĩ VNCH.
Dựa vào hỏa lực mạnh, di chuyển nhanh của Thiết Giáp VNCH, và những yếu tố bất ngờ, đoàn quân lui binh đã xuyên phá vòng vây của địch.
Ba Chiến Xa M41 dẫn đầu, các xe M113 bố trí trái và cùng tiến về phía trước với đội hình “quả trám.” Cũng may vườn cao su non nên Chiến Xa dễ dàng cán rạp, đè bẹp hầm hố địch. Tất cả các loại súng liên tiếp nhả đạn, Đại Bác 76 ly của Chiến Xa M41 hạ thấp nòng bắn trước đầu xe bằng đạn nổ, xới tung từng hầm hố. Hàng chục khẩu Đại Liên 50 và Đại Liên 30, hàng trăm cây M79 và M16 thi nhau bắn xối xả về phía trước và bên hông xe để địch không ngóc đầu lên bắn B40 và Đại bác 75 ly.
Địch quân chống trả mãnh liệt, nhưng Thiết Giáp vẫn càn qua đầu địch mà tiến, chúng bung ra khỏi chốt, chạy tán loạn và bị bắn hạ. May mắn thay, Chi Đoàn có hai hạ sĩ quan trưởng xa và hai anh tài xế là người địa phương trước làm rẫy ở ấp Bàu Hàm. Họ đóng góp phần quan trọng vào việc dẫn đoàn quân thoát nhanh và chính xác ra khỏi vòng vây địch quân, vì các anh rành rẽ địa thế nơi này chỉ có một khoảng duy nhất của con suối rộng chừng 50 mét, để lúc trước cho xe bò, xe be băng qua khi chuyên chở hoa màu hay cây gỗ.

Vừa di chuyển vừa bắn cũng có nhiều trở ngại gặp phải, như suối sâu, đá to, gốc cao su lớn vừa cưa chưa mục, lởm chởm dễ dàng làm trật xích Chiến Xa. Mà bị trật xích trong tình huống hiểm nghèo này thì kể như chạm mặt với tử thần. Hỏa lực địch chống trả mạnh nhất trong bề dày 500 mét đầu, nhưng khi tới gần bờ suối của Bàu Hàm thì áp lực địch nhẹ dần.
Ông Lưu nhớ lại: “Hơn một giờ hành quân vượt thoát, lực lượng chúng tôi bắt tay được với Chi Đoàn 1/15B hổn hợp của Đại Úy Phạm Văn Bản, anh là bạn cùng khóa Thiết Giáp với tôi, và đang là Chi Đoàn Trưởng, thuộc Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh.
Đến gần ấp Bàu Hàm, chúng tôi bố trí phòng thủ trong một khu rừng chồi thưa thớt. Xa xa, về hướng ấp Nguyễn Thái Học lửa còn cháy đỏ cả vòm trời. Lúc đó là khoảng 8 giờ tối ngày 15 Tháng Tư, 1975, một ngày dài nhất trong cuộc đời binh nghiệp của tôi. Trên bầu trời hàng chục ánh hỏa châu treo lơ lửng cộng với khói và những áng mây trôi bàng bạc, tất cả quyện vào nhau tạo thành một thứ ánh sáng vàng vọt buồn phiền. Nơi đóng quân cây cối, xe cộ, bóng người lúc ẩn lúc hiện chập chờn ma quái.”
“Tôi mời Đại Tá Dũng ở lại xe, ăn cơm và nghỉ ngơi qua đêm. Ăn cơm gạo sấy nóng và cá Tuna. Thiết Giáp lúc nào cũng được ăn cơm nóng, chỉ cần đổ nước vào bịch gạo sấy, treo ở nắp bô xe là có cơm nóng ăn khi tới chỗ dừng quân. Một người lính của tôi bưng ra một nón sắt đầy nước mời Đại Tá Dũng và tôi rửa mặt. Hai người vội vàng bốc nước vào mặt để xóa bớt những bụi, khói và mồ hôi bám dầy từ sáng đến giờ, rồi ra tuyến phòng thủ,” ông kể thêm.
Lực Lượng Đặc Nhiệm 52 bị thất thủ
Sau khi mở “đường máu” để vượt thoát sự bao vây của địch, Đại Tá Ngô Kỳ Dũng và Đại Úy Vũ Đình Lưu đến từng Chi Đội để kiểm tra đôn đốc, và quan trọng là ngỏ lời khen ngợi để củng cố tinh thần anh em binh sĩ. Ở đây tất cả các y tá đều làm việc hết sức mình, do sự điều động của Bác Sĩ Nam, trưởng toán Đại Đội 183 Quân Y Tiền Phương. Cả hai dừng lại từng xa đội để thăm hỏi.
Ông Lưu tâm tình: “Trong lúc này, những cảnh tượng quá đau thương. Tim tôi nhói lên mỗi khi nghe những người lính Bộ Binh, Thiết Giáp và Pháo Binh rên rỉ. Tuy rằng, họ đã cố gắng chịu đựng những cơn đau nhức, và vết thương đã được băng bó tạm thời, nhưng rồi cũng làm cho họ vô cùng đau đớn. Lòng tôi quặn thắt trước những chiến hữu đã hy sinh vì tổ quốc nằm gọn trong chiếc poncho cuộn tròn buồn thảm. Trong các xe M113 còn rất nhiều thương binh. Nhưng trời đã tối và tình hình còn nguy hiểm nên không thể tản thương được. Tôi ngậm ngùi trở về xe chỉ huy với Đại Tá Dũng. Nhìn xa xa còn vài vòm lửa của xe cháy thuộc Lữ Đoàn III.”
Đại Tá Dũng và Đại Úy Lưu nhìn nhau rồi cúi mặt, cơm nuốt không vô mặc dù từ sáng sớm đến giờ, họ không có gì trong bụng ngoài một ly cà phê nóng, trong lòng dâng tràn nỗi nghẹn ngào. Lực Lượng Đặc Nhiệm 52 gánh vác một công việc quá lớn, quá tầm tay. Nhưng không được yểm trợ phi pháo, không được các đơn vị bạn tiếp cứu kịp thời.
Tổng kết quân số vô cùng đau đớn, 3/4 quân số bị thương và tử trận của Trung Đoàn 52 Bộ Binh, chỉ còn vỏn vẹn chỉ 200 chiến sĩ. Về Thiết Giáp, tám chiếc M113 và một Chiến Xa M41 bị tiêu hủy, với hơn một phần tư quân số bị loại ra khỏi vòng chiến chỉ trong 15 ngày đêm.
Ông Lưu ngậm ngùi kể: “Phải chăng đây là đỉnh tột cùng đau thương và nghiệt ngã đời lính? Chúng tôi không thể hình dung nổi ngày mai của cuộc chiến sẽ như thế nào, cho tôi và đồng đội thân yêu. Một tình huống đau thương xảy ra, đó là trong ngày 14 Tháng Tư, 1975, Đại Úy Hoàng Đình Đạt, trưởng Ban 4 của Trung Đoàn 52 theo trực thăng đến Chiến Đoàn để lo việc tiếp tế. Anh quyết ở lại mặc dù Đại Tá Dũng bảo anh về lại Long Bình ngay.
Anh chỉ vội viết vài hàng gởi cho vợ để báo tin là anh sẽ ở lại chiến trường, mà lúc đó là lúc đoàn quân sắp ‘mở đường máu’ để vượt thoát vòng bao vây của địch. Chính Đại Tá Dũng và tôi bảo anh lên xe chỉ huy, nhưng anh không chịu, để đi bộ cùng anh em trong toán tiếp liệu. Nhưng rồi, Đại Úy Hoàng Đình Đạt cùng cả toán đã bị hạ sát thảm thương trên đường lui binh.”

Thoát được vòng bao vây của địch
Trong cuộc lui binh này, những quân nhân của các đơn vị còn sống sót như Pháo Binh của Tiểu Đoàn Phó Thiếu Tá Trước, Công Binh, Hỏa Tiễn TOW, Đại Đội Phó 183 Quân Y- Bác Sĩ Nam và nguyên toán Quân Y, đã được Chi Đoàn 2/5 Thiết Kỵ đưa ra khỏi vòng vây hãm của địch.
Ngày 16 Tháng Tư, 1975, từ sáng sớm toàn bộ Chiến Đoàn 52 còn lại di chuyển ra hương lộ đất đỏ, nối liền Quốc Lộ 1 và ấp Bàu Hàm. Họ vừa đến cùng lúc với đoàn xe GMC và Hồng Thập Tự, để tản thương và đưa Trung Đoàn 52 Bộ Binh về Long Bình. Và kể từ giờ phút này đơn vị Trung Đoàn 52 của Sư Đoàn 18 BB xem như không còn nữa!
Ông Lưu nói: “Tôi tiễn Đại Tá Dũng đến tận xe jeep của ông, chào tạm biệt và bắt tay từ giả. Ông bắt tay tôi thật chắc, thật lâu và nói hy vọng chúng ta còn gặp nhau trên cùng một chiến trường và cảm ơn với giọng trầm buồn. Nhưng vận nước nổi trôi, từ đó đến giờ tôi và ông chưa một lần gặp mặt. Tôi trở lại và đứng nghiêm trên xe, và hầu hết Kỵ Binh của Chi Đoàn đều đứng nghiêm đưa tay chào khi đoàn xe bắt đầu chuyển bánh.”
Trước khi Chiến Đoàn 52 bị thất thủ hoàn toàn không có một quả bom hạng nặng nào được thả xuống để ngăn chặn địch quân. Trong khi đó, chỉ có hai quả bom BLU được thả xuống khu đồn điền cao su Bình Lộc cách ngã ba Dầu Giây khoảng 6 Km về hướng Đông Bắc vào sáng ngày 16 Tháng Tư, 1975.
Ông Lưu nói: “Chào vĩnh biệt các chiến sĩ Quân Lực VNCH, các anh đã anh dũng hy sinh vì tổ quốc để làm tròn nhiệm vụ của người trai trong thời chinh chiến. Bây giờ các anh đang được vui sống muôn đời, như trong Kinh Hòa Bình đã nói, ‘Chính lúc chết đi, là khi vui sống muôn đời.’ Xin chào tạm biệt các chiến sĩ đang còn được sống sót. Các anh đã hiên ngang chiến đấu, can trường xả thân vì dân tộc trong suốt 12 ngày đêm vừa qua cùng với Chi Đoàn 2/5 Thiết Kỵ. Nguyện cầu cho các anh gặp nhiều may mắn trong thời gian tới.”
Tất cả quân nhân của Chi Đoàn 2/5 Thiết Kỵ đều đứng nghiêm chào, cho đến khi đoàn xe khuất hẳn sau đám bụi đỏ mịt mù. [dt]



























































