Chung Tử Bửu và nhóm ‘bạn tù’ ở Bắc Việt

Chu Dũng Sĩ/Người Việt

LITTLE SAIGON, California (NV) – Sau khi nhóm tù binh bị đưa đến Hợp Tác Xã Vĩnh Linh, họ bị CSBS xúi dục đám học trò tới ném đá vào những người tù binh. Ông Chung Tử Bửu nói: “Đúng là Việt Cộng thì đủ trò. Chúng tôi nằm ở nhà kho đó cho tới tối và họ không cho ăn gì hết. Tới tối chúng dẫn chúng tôi ra ngoài theo hàng dọc. Rồi đem một đống còng của chúng nó tới. Chèn ơi! Không biết thời Trung Cổ người ta có làm còng giống như vậy không.”

Phi Công Chung Tử Bửu. (Hình: Chung Tử Bửu cung cấp)

“Họ sử dụng hai thanh sắt, loại làm cốt sắt đúc bê-tông, lớn khoảng ngón tay trỏ. Chúng rèn, uốn hai vòng vừa hai cổ tay, một đầu đập dẹp, khoan lỗ, đầu kia cũng đập dẹp, khoan lỗ để móc cái ổ khóa vô. Khi nó bấm ổ khóa, mèn ơi! Đôi còng sắt siết cổ tay đau quá đau, vì cái vòng của còng nhỏ hơn cổ tay. Chưa từng thấy còng nào kinh hoàng như cái còng của Việt Cộng.” 

Sau khi còng tay xong, họ dẫn nhóm tù binh ra ngoài. Dân trong vùng đã đứng sẵn hai bên từ lúc nào. Mấy người đàn bà, nhìn thấy cảnh tù binh bị còng, có vẻ thương tâm. Một bà nói, “Thôi, ngoan cố làm chi để bị người ta còng, tội nghiệp thế kia.” Ông Bửu nghe vậy bèn lên tiếng, “Chúng tôi có ngoan cố gì đâu bà. Họ còng tôi chứ tôi có làm gì đâu.” Sau nầy, khi ở Hà Nội nhớ lại cảnh ấy, ông Bửu tin ý mấy bà là, “Thôi! đừng còng người ta, tội nghiệp.” Phụ nữ thường có tính nhân từ.

Sau đó, nhóm tù binh bị đưa lên xe Molotova không có mui. Lúc đó nhóm bạn tù phải đứng trên xe. Nhưng lần này chắc tiêu đời, vì họ bị còng cả hai tay. Tối hôm trước, khi đi xe từ Trường Sơn ra tới Vĩnh Linh, nhóm tù binh chỉ bị trói sơ sơ. Nhưng lần này thì khác, vì bị còng hai tay luôn. May mắn là xe chạy trên Quốc Lộ 1, đường không đến nỗi quá xấu. Tối hôm đó dưới ánh trăng, xe chạy ngang qua Đồng Hới nên nhìn rõ cảnh tượng. Cả thị trấn Đồng Hới bị đánh tan tành, không còn gì cả. Nhà cửa dọc hai bên đường đổ nát, chỉ còn lại vài bức tường xiêu vẹo. Một thành phố hoang tàn đúng nghĩa. 

Tù binh bị đưa đến Hà Tỉnh

Sáng hôm sau thì xe đến Hà Tĩnh, nhưng không vào thị xã mà rẽ vào đường phía Tây. Đây là một tuyến đường núi, không phải Quốc Lộ 1. Xe chạy thẳng vào vùng đồi rừng chồi và dừng lại ở một hợp tác xã. Nhóm tù binh ở đó một ngày một đêm. Lần nầy không bị trói, được tháo còng và cho nằm ngủ trên lớp lá chuối khô. Ban đêm, họ luộc khoai lang và khoai mì cho ăn. Mà củ khoai mì vùng đó nhỏ xíu, chỉ bằng ngón chân cái, chắc do đất khô cằn. Tới giờ ăn, họ có nấu cơm, nhưng thật ra chẳng ai buồn ăn gì. Vì mệt và đói nên không ai muốn ăn.

Tới sáng, sau khi nhóm tù binh rửa mặt xong, có một phái đoàn đến. Họ dắt nhóm tù binh ra khu rừng chồi và xếp hàng dọc. Họ ra lệnh giơ hai tay lên và bước đi để họ quay phim. Ông Bửu nói: “Tôi hiểu đây là chúng dựng cảnh bắt được tù binh để tuyên truyền. Chúng hét, ‘Cúi mặt xuống.’ Nhưng tôi không nghe lời chúng, cứ ngước mặt lên trời, bước đi và nhăn răng cười.” Tên quay phim hét: “Cái thằng đó cúi mặt xuống.” Nhưng tù binh Bửu vẫn ngước mặt lên nhe răng cười, không cúi xuống. Vì vậy, khi họ phát lại cảnh phim tuyên truyền về chiến dịch “Đường Chín Nam Lào,” đoàn quay phim cắt bỏ đoạn có ông Bửu cười. Nhưng trong phim vẫn có cảnh tù binh bị dẫn đi ở Hà Tĩnh.

 Tù binh bị đưa đến Thành Phố Vinh

Tối hôm đó, sau khi ở lại một ngày tại khu núi đồi Hà Tĩnh, lúc đó là ngày thứ mười kể từ hôm bị bắt, họ lại bắt nhóm tù binh lên xe, lần này xe chạy suốt đêm. Toán áp tải nhóm tù binh là dân quân địa phương của Hà Tĩnh. Đến sáng, họ dừng lại khoảng nửa đường, bịt mắt tù binh bằng vải màu trắng ngà dệt hơi thưa. Chạy đến chiều thì tới thành phố Vinh. Tại Vinh, nhóm tù binh bị đưa vào một căn nhà xây bằng xi măng, khá kiên cố. Dù không tiện nghi gì, nhưng so với mấy ngày trước thì cũng đỡ hơn nhiều, ít ra nằm không bị cấn dưới lưng.

Ông Bửu kể: “Tới chiều tối, họ cho chúng tôi ăn cơm với thịt heo kho. Mỗi người được hai ba miếng thịt nhỏ xíu, tôi nghĩ thầm, ‘Có lẽ đây là những miếng thịt heo cuối cùng trong đời mình. Không biết rồi mình có sống nổi qua năm tháng trong tay tụi nó hay không.’ Lần đầu tiên được ăn cơm với thịt heo kho sau khi bị bắt. Thịt có chút xương, tôi cũng nhai luôn. Răng còn tốt nên nhai nát xương, nuốt hết. Lúc đó, toán tù binh vẫn còn được mang giày.”

Phi Đoàn 219 thả toán Biệt Kích Lôi Hổ tại Hạ Lào. (Hình: Chung Tử Bửu cung cấp)

Ông cho biết thêm: “Những toán tù binh về sau thì bị chúng bắt cởi giày hết vì sợ trốn. Còn toán của tôi thì chúng chưa có kinh nghiệm nên vẫn cho mang giày jungle boots. Tối đến, chúng dẫn chúng tôi ra ga xe lửa. Khi ra khỏi nhà, dân ở chung quanh đó xúm lại xem mặt tù binh. Họ nhìn chúng tôi, thấy chúng tôi mang giày jungle boots thì trầm trồ, ‘Ôi, phải chi có mấy đôi giày như ri đi rừng thì tốt biết mấy!’ Giọng Nghệ An rõ ràng, nhưng tôi vẫn hiểu. Giày của Quân Đội Miền Nam quá đẹp, dép râu của Việt Cộng làm sao so bì được. Khoảng gần nửa đêm, tàu bắt đầu chạy từ ga Vinh. Trước đó, từ Hà Tĩnh ra Vinh, tụi tôi đi bằng xe vận tải Molotova. Vinh là tỉnh lỵ của Nghệ An, và từ đây bắt đầu hành trình bằng tàu lửa ra Hà Nội. Chúng lùa chúng tôi lên một toa bít bùng sàn dính than đen thui.”

Trên toa có một binh sĩ Biệt Động Quân (BĐQ) còn trẻ bị thương, không được chữa lành nên các vết thương bắt đầu nặng mùi. Đại Úy Lê Đình Châu nói với người lính BĐQ, “Em thông cảm cho bọn anh nhé. Em chịu khó ngồi hay nằm ở cuối toa vì vết thương của em có mùi. Không phải bọn anh ghê tởm gì em đâu. Chúng ta đồng chung một số phận cả. Em thông cảm nhé!” Cậu lính Biệt Động Quân tội nghiệp đó rất biết điều, nằm một mình ở xó toa. Đến ngày thứ mười hai kể từ hôm bị bắt, chuyến tàu hỏa chở nhóm tù binh vào ‘kiếp lưu đày’ dừng ở ga Thường Tín.

Ông Bửu nhớ lại: “Dọc đường đi, chúng tôi chẳng biết đâu là đâu. Bởi vì toa xe thì bít bùng, hầu hết tù binh người Miền Nam đều không biết địa thế hay tên địa phương của các khu vực mình đi qua, chỉ nhìn ra các khe hở thấy mấy cảnh quan thì đoán mò. Đại Úy Lê Đình Châu bị gãy tay, vốn là người Bắc, cứ nằm một chỗ. Anh em nhìn ra khe hở rồi thông báo khi thấy bảng có chữ, quang cảnh hay một kiến trúc đặc biệt nào đó. Tôi nhìn ra ngoài thấy nhiều rặng núi đá vôi, hỏi anh Châu. Anh Châu nói, ‘Ninh Bình đấy.’ Khi xe lửa ngừng lại hơi lâu ở một ga. Chúng tôi nhìn ra thấy mặt tiền một nhà thờ Công Giáo lớn, báo cho anh Châu. Anh Châu nói, “Nam Định đấy’.” Sau khi đã rời Nam Định khoảng hai ba giờ, nhìn ra thấy bảng có chữ Bình, báo anh Châu, anh nói, “Ga Bình Lục, Phủ Lý đấy! Sắp tới Hà Nội rồi đấy.”

Sau này, ông Bửu nghe anh Phương kể lại mới biết chính anh Châu tự băng tay rồi tự bắn vào tay mình để giả vờ do Việt Cộng bắn làm anh bị thương, hy vọng tụi nó thấy thương mà thả. Nào ngờ, vẫn bị tụi nó bắt dẫn đi và giải ra quê hương cũ của anh ở ngoài Bắc.

Trại thẩm vấn tù binh Ngã Tư Sở, Hà Nội

Vào chiều ngày thứ 12, có người nhìn ra thấy cái bảng có chữ thì quay vào báo anh Châu, hình như là Thường Tài. Anh Châu nói, “Ga Thường Tín Hà Đông đấy, Không phải Thường Tài. Không có ga Thường Tài nào hết.” Ông Bửu kể tiếp: “Vậy là đã tới ga Thường Tín, thuộc khu vực Hà Đông, tức ngoại ô Hà Nội. Nửa đường Hà Tĩnh tới Vinh, chúng tôi đã bị bịt mắt. Lúc đến Vinh, chúng tháo bịt mắt ra. Nhưng trước khi xuống tàu ở Thường Tín, chúng tiếp tục bịt lại. Lần nầy đám áp tải là dân quân thành phố Vinh. Họ lấy vải trắng dệt khá thưa cho nên, dù bị bịt mắt, chúng tôi vẫn nhìn thấy hết. Tuy vậy, tôi thấy người nào cũng giả bộ, vờ vịt, quờ quạng như không thấy gì. Tuy không ai bảo ai nhưng đều diễn xuất quá giỏi, nếu không nói là xuất sắc.”

Phi Đoàn 219 tại phi trường Dakto. (Hình: Chung Tử Bửu cung cấp).

Ông Bửu cho biết thêm: “Chúng tôi là toán sĩ quan tù binh đầu tiên của trận Hạ Lào bị đưa ra tới Hà Nội. Có lẽ họ đã có thông báo hay đồn miệng mà dân chúng bu quanh xem đông lắm. Nghe rất nhiều tiếng bàn tán lao xao, không nghe rõ họ nói gì. Chỉ nghe loáng thoáng vài người chửi, ‘Đồ quân ác ôn…’ Còn các bà phụ nữ, con gái thì reo lên, ‘Úi giời! Mấy thằng sĩ quan ngụy lịch sự quá nhỉ!’ Lịch sự theo lối nói xưa nghĩa là đẹp trai. Họ dòm thấy sĩ quan miền Nam mặt mày sáng sủa, dù bị bắt, quân phục vẫn oai phong gọn gàng, không bị nhăn nhúm dù bị dầm mưa dãi nắng, khác hẳn quân phục Việt Cộng. Nhìn thì biết chúng tôi là dân văn minh. Càng ở lâu ngoài Bắc càng thấy đàn ông hầu hết đều răng hô. Rất ít người mặt mày sáng sủa đẹp trai. Cho nên, đàn bà Hà Đông thấy sĩ quan Miền Nam mặt mày quá đẹp, họ không ngẩn ngơ sao được.” [dt]

(còn tiếp)

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT