LTS: Nhật báo Người Việt mở mục “Độc Giả Viết” nhằm mời gọi quý độc giả “cùng làm báo” với Người Việt, chia sẻ những rung cảm, ý tưởng, quan niệm, hồi ức, kiến thức, kinh nghiệm… về đời sống và xã hội. Để tham gia, quý độc giả vui lòng gởi email: [email protected].
Thanh Lê

“Đầu năm có điều gì rất lạ
Níu không đành, buông chẳng nỡ buông”
(Mường Mán)
Tháng Giêng về, người Việt tha hương có yêu hương vị Tết cách mấy, thì dường như chỉ gói ghém Tết trong Mùng Một, Mùng Hai, rồi sau đó thì:
“Giao Thừa xông đất, mời người đến
Mồng Ba đóng cửa, tiễn người ra.”
(Tôn Thất Phú Sĩ)
Qua đến Mùng Ba rồi thì coi như hết Tết. Cho dẫu hoa trong bình vẫn còn lộng lẫy, tươi cười khoe sắc, và trái cây trên bàn vẫn còn tươi mát hương Xuân.
Mùng, mền gì cũng được xếp lại. Mọi người lại phải vội vã, tất bật “một ngày như mọi ngày” trở lại với công việc, với lo toan trong cuộc sống.
Nhưng ở Việt Nam thì “Tháng Giêng là tháng ăn chơi.” Tháng Giêng về, đó là lúc vạn vật vươn vai, trở mình sau một giấc ngủ Đông. Trời Xuân hoa lá đâm chồi, nảy lộc, tươi nở. Trời đất xôn xao, lòng người nôn nao. Mùa Xuân như khoác lên vạn vật một tấm khăn voan đầy sắc màu rộn ràng, tươi trẻ.
“Ồ, những người ta đi hóng Xuân;
Cho tôi theo với, kéo tôi gần!
Rộn ràng bước nhịp, hương vương gót,
Nhựa mạnh tuôn trào, tưởng dính chân.”
(Huy Cận)
Sau ba ngày Tết ở nhà cúng quẩy, chúc mừng, lì xì, rượu chè no say, người Việt Nam mình lại nhộn nhịp với những chuyến hành hương, du Xuân về thánh địa Mẹ La Vang, đức mẹ Fatima, hay với những buổi náo nức hành hương về vùng đất Phật Yên Tử. Từng đoàn, từng đoàn người, không chỉ là các cụ cao niên, các bậc cha mẹ tất bật đi nhà thờ, đi chùa, mà ngay đến cả các nam thanh, nữ tú cũng nao nức, chộn rộn ơi ới rủ nhau với những chuyến du Xuân xuất hành đầu năm.
Khi tôi còn ở Việt Nam, khi ấy cuộc sống còn rất khó khăn, cái “thời bao cấp” người dân tấm gạo không có mà ăn, miếng mỡ không có mà ráng. Chưa du thử, du thực là may lắm rồi, chứ có rửng mỡ đâu mà nói chi đến hành hương với du Xuân. Nhưng tôi đã có được một chuyến viếng thăm chùa Hương, mà có lẽ trong suốt cuộc đời tôi không thể nào quên được.
Năm ấy, tôi nhận được giấy báo đậu đại học, đúng vào lúc mẹ chuẩn bị hành trang ra miền Bắc thăm bố. Và tôi đã được mẹ cho tháp tùng, quảy túi, quảy thùng đi thăm bố ở tận trại Hoàng Liên Sơn, rồi qua lại Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
Sau những chuyến đi với những “phương tiện giao thông tối tân bậc nhất” thời bấy giờ, giằng xóc hết xe lửa, rồi lại xe đò, xe ngựa, xe bò, người kéo, người vác… Cuối cùng thì hai bao tạ quà cũng được chuyển giao cho bố và các chú cùng trại.
Hai mẹ con lại quầy quả trở về Hà nội, ghép nhóm với dì và các bác thẳng tiến Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội để viếng cảnh chùa Hương. Từ Hà nội đi chùa Hương đường không xa lắm, khoảng 50- 65km (chỉ khoảng hai giờ đồng hồ thôi). Lễ hội chùa Hương từ Tháng Giêng đến hết Tháng Ba Âm Lịch, nên khi chúng tôi đi, bấy giờ là vào khoảng Tháng Tám-Tháng Chín, không vào đúng dịp lễ hội.
Khởi đầu, ai cũng tiếc là không đi được vào dịp lễ hội, để vui chơi không khí sôi động, náo nhiệt của mùa trẩy hội, nhưng bây giờ ngẫm ra, hoá ra, không đi vào ngày hội lại hay hơn… Nhờ không phải đi vào dịp lễ hội, nên tôi mới thấy được nét trầm mặc, cổ kính của chùa Hương và nét sơ khai, thanh thoát của động Hương Tích.
Xe cơ quan của các bác đưa chúng tôi đến bến Đục. Mẹ và dì đứng bên bờ ghe xuồng, yên ắng, đôi mắt dõi xa xa nhìn hàng nước, hàng cây xanh thẩm, tối dần trong ánh chiều tà. Cái hoang vu, cô độc của miền rừng núi, cái lạnh mát của cơn gió chiều tháng chín đã làm cho buổi chiều thêm cô quạnh. Mỗi người một tâm sự, lặng lẽ, yên ắng.
Tôi, lúc bấy giờ chỉ là cô bé Sài Gòn, mới chớm bước sang tuổi 17, nên vẫn còn ngờ nghệch, ngơ ngác. Cho dù Sài Gòn bấy giờ đã được “giải phóng” thành “thành phố Hồ Chí Minh,” nhưng dẫu gì, Sài Gòn cũng bị “đế quốc Mỹ” thôn tính, đô hộ khá lâu, nên tôi đã quen với cái nhìn, cái sống ở Sài Gòn.

Nay nhìn cảnh quê hương sông nước, túm rơm, túm rạ nghèo nàn, nhìn thấy ngay được cả sự mỏi mệt, nghèo khổ, đè oằn lên khuôn mặt rám rịt của người dân miền Bắc. Tôi khóc cho đất nước tôi, tôi thương dân tôi, thương cả người Nam, Trung, hay người Bắc, cho dù là họ ở Sài Gòn, bến bãi Cà Mau, Huế, Hà Nội hay Cao Bằng, Lạng Sơn.
Tối hôm ấy chúng tôi ngủ lại Bến Đục. Sáng ra, cái lưng ê ẩm và thần trí mệt mỏi. Suốt đêm tôi không ngủ vì chưa quen sập ván gỗ. Nhưng chẳng sao, “gái 17 bẻ gẫy sừng trâu” mà. Tôi lại nhanh nhẩu phụ cô chủ nhà quay cối đá, xay gạo làm bún, bánh cuốn, bánh phở. Cứ đổ dầy, hấp chín là thành bánh phở, đổ hơi dầy là thành bánh ướt, và đổ mỏng là ra bánh cuốn.
Ăn sáng xong, chúng tôi đi gọi xuồng theo suối Yến vào chùa Hương Sơn. Mặt nước, mặt xuồng sâm sấp. Dòng suối Yến trôi chậm nhẹ nhàng, theo nhịp chèo. Suối Yến rộng như dòng sông nhỏ, lượn lờ dọc hai bên bờ núi rừng xanh lá. Mỗi một nhịp chèo của chị lái đò, là mỗi lần chị phải nắm lên một mớ rễ lục bình, và bèo vất sang bên. Hai tay tôi khuấy nước, vươn nắm những cọng lục bình khiến xuồng chao đảo. Tôi bị mắng vì mọi người sợ xuồng chìm.
Tôi hỏi chị lái đò: “Chị ơi, xuồng lật, nước ở đây có sâu không?” Chị lái đò lườm quýt tôi một cái dài hơn dãy Hoàng Liên Sơn, còn mọi người thì mắng tôi té tát. Xuồng đi ngang qua Đền Trình, nhưng vì mọi người ai cũng muốn vội vã vào Hương Sơn ngay, nên chúng tôi không ghé vào đền. Ghe chèo vừa đi một đỗi, thì cơn mưa từ đâu ập đến, rất nhanh và rất gọn:
“Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết
Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng vì đâu
Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau?”
(Nguyên Sa)
Ừ, sao mưa mà không bảo gì nhau, nên mọi người trên xuồng, ai cũng ướt nhọp nhẹp. Nhưng cái kỳ lạ, là có một ghe xuồng đi trước, họ vừa cập xuồng vào chùa trong, lại không trúng mưa. Chỉ cách xa một tầm mắt thôi, đã thấy được khác biệt. Mưa ở bên này, nhưng ráo tạnh ở bên tê rồi. Các bác nói rằng, tại vì “chúng ta không chịu vào trình” nên được cho một bài học nhè nhẹ, sương sương ướt nhẹp thôi.
Lúc bấy giờ, đường lên chùa không có mấy hàng quán. Chỉ ngay tại bến Đục mới có lơ thơ một hai hàng nước chè xanh với dăm quả chuối. Còn khi lên xuồng đi theo suối Yến lên chùa, thì không có hàng quán nào cả. Đường trên núi Hương Sơn còn hoang sơ, chưa có nhiều khách thập phương đến viếng, nhất là không phải vào ngày hội nên càng vắng vẻ.
Chung quanh ta là đất trời thiên nhiên trầm mặc. Đá chen lá, lá chen cây. Hương rừng nhè nhẹ thoang thoảng bên mỗi bước chân. Xa xa, hai chú vượn, nghe tiếng động của đoàn người vượt núi, sợ hãi, vội vã, khọt khẹt chuyền cành, thoát ẩn, thoát hiện rồi mất hút. Càng lên cao, phong cảnh càng hữu tình. Dòng suối nước róc rách, lượn lờ, len lỏi qua từng mấp đá. Đám dương xĩ dật dờ vươn mình theo dòng chảy. Ôi, tôi yêu thiên nhiên biết là dường nào.
Ở lại hai ngày ở chùa Thiên Trù, chúng tôi ngủ tại nhà khách của ban văn hoá. Mẹ tôi nhờ chị hậu cần mua và nấu cho nồi canh rau sắng. Bác canh thời bao cấp làm gì có tôm, có thịt. Nhưng chính vì vậy, chúng tôi mới tận hưởng được vị ngon, ngọt thanh khiết, thiên nhiên của cây rau sắng mọc chơi vơi bên sườn núi Hương sơn.
“Ai đi trẩy hội chùa Hương
Làm ơn gặp khách thập phương hỏi giùm
Mớ rau sắng, quả mơ non
Mơ chua, sắng ngọt biết còn thương chăng?”
(Ca dao)
Đúng vậy, rau sắng và mơ rừng là biểu tượng của Hương sơn. Chẳng thế mà thi sĩ Tản Đà cũng đã ngất ngây:
“Muốn ăn rau sắng chùa Hương
Tiền đò ngại tốn con đường ngại xa…”
(Tản Đà)
Lúc bấy giờ, chùa chiền và các sư thầy chưa được cho phép tu rộng rãi, nên trong chùa chỉ có sư trụ trì và một sư thầy, sư Khánh. Sư trụ trì đi về Hà nội họp, chỉ còn sư Khánh trông chùa.
Sư Khánh dẫn chúng tôi đi thăm viếng Chùa Thanh Sơn, chùa Long Vân, động Hinh Bồng, động Tuyết Sơn, đền Trấn Sơn, hang Dơi, chùa Giải Oan… và cuối cùng là động Hương Tích.
Đoàn chúng tôi, lúc khởi hành leo núi lên động Hương tích, thì còn chuyện trò, cười giỡn. Nhưng khi leo dần lên miệng hang, thì ai nấy cũng mệt nhoài.Trời cũng đang vào trưa, nhưng hơi sương lạnh trong động, lan toả che phủ cả miệng hang. Rêu phủ, lá cành nghiêng lơi bên cửa động. Vạn vật tĩnh lặng, chỉ nghe tiếng gió, tiếng lá lào xào bên vách đá.
Nếu như không có sư thầy Khánh và các bác hướng dẫn, thì chúng tôi chắc cũng phải e dè khi xuống động. Chờ một chút cho sương bay tan, chúng tôi dò dẫm, rồi làm quen từng bậc thang xuống động. Bên trong Hương tích, trên các bệ thờ, vỏn vẹn 5-6 bức tượng tróc vôi, bạc màu “trơ gan cùng tuế nguyệt.” Hai chú giữ động, đang đứng buồn tênh, thấy chúng tôi vội vàng bày xâu chuỗi xanh đỏ ra bán. Tôi thấy có cả những chuỗi hạt thánh giá, hình đức Mẹ, đức Chúa, xen lẫn tượng Quan Âm và Đức Phật. Chắc đức Phật, đức Chúa nơi hoang vắng tĩnh lặng thế này, cũng buồn, nên đề huề cho có bạn.
Sư Khánh dẫn chúng tôi xem động, và thuyết minh những hình ảnh trên vách đá, những thạch nhũ đổ xuống như vạt áo cà sa, hay gõ vào vách đá rỗng, âm vang dội lại gọi là tiếng chuông?
Sư Khánh chỉ chúng tôi “lối xuống âm phủ” nơi nước đang ngập trên đầu gối. Chúng tôi ai cũng từ chối. Vì chúng tôi đang sống ở men rìa của địa ngục rồi, nên cũng chẳng ai muốn xuống âm phủ để làm gì.
Hai ngày trên Hương Sơn, cho tôi cảm nhận được vẽ đẹp, sự tĩnh mặc, thanh thoát của đạo giáo. Hai ngày trên Hương sơn cho tôi một kỉ niệm đẹp bên Mẹ, bên người thân, và cho tôi được chiêm ngưỡng kỳ tích thiên nhiên “Nam Thiên Đệ Nhất Động” Hương Tích.
“Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái,
Lửng lơ khe Yến cá nghe kinh.
Thoảng bên tai một tiếng chày kình,
Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.”
(Chu Mạnh Trinh)
Và 20 năm sau, tôi thăm lại Hương Sơn. Tôi cũng may mắn được đi cùng cô Liên, cậu Lạn, chị Hiền, Trí… Nhưng, cảnh vật đã thay đổi. Chùa chiền được trùng tu, hàng quán xây dựng mọi nơi, mọi hướng. Đường lên núi thắt co, thắt chặt. Quay đi cũng thấy người, ngoảnh lại cũng thấy người. Bến Đục xưa, càng đục thêm. Nhà xây mới, quán xây mới. Dòng suối Yến đục ngầu bùn đất. Chẳng còn đám lục bình nào trôi,và cũng chẳng còn đám bèo nào lửng thửng bám nơi thanh chèo.
Lên đến chùa Thiên Trù, tôi không còn nhận ra nơi mình từng chiêm nghiễm sự trang nghiêm, thoát tục nơi cửa chùa. Hàng quán, khách sạn mọc lên như nấm, như nêm. Người là người, chen vai, thích cánh đốt hương, đốt vàng, đốt mã… Tôi không biết Phật tổ và các ngài ngồi trên bệ ấy có vui không. Riêng tôi nén tiếng thở dài, vội vã quay đi. Đến cửa động Hương Tích, tôi lùi lại sau đoàn người và cũng không buồn chen vai, chen chân bước xuống động. Trong tim tôi đã muốn vỡ oà:
“Sông kia rày đã nên đồng,
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai.
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai,
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.”
(Trần Tế Xương)
Ngày nay và những năm sau nữa, không, tôi sẽ không bao giờ quay lại chùa Hương, vì tôi không muốn nhìn thấy bụi trần làm lấm lem những ký ức đẹp trong tôi.
January, 2023






