Lê Mạnh Hùng
Năm 2014 là năm kỷ niệm một trăm năm Thế Chiến Thứ Nhất. Cách đây ba mươi năm người ta không lưu ý bao nhiêu đến cuộc chiến này. Nhưng những năm gần đây sự chú ý của các sử gia và những nhà nghiên cứu đối với cuộc đại chiến thế giới đầu tiên của nhân loại đã ngày càng nhiều, đặc biệt là tại các nước thuộc Bắc Âu và thế giới nói tiếng Anh. Các cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan đã đóng góp nhiều vào việc làm hồi sinh những chú ý này. Ngoài ra thế giới càng ngày càng trở nên tương tự với thế giới – ít nhất là tại phương Tây – của năm 1914, không còn là một thế giới bị phân chia giữa hai siêu cường vũ trang đến tận răng các vũ khí hạch tâm mà là một thế giới đa cực trong đó Hoa Kỳ đóng vai Anh và Trung Quốc đóng vai Ðức.
Giống như thế giới hiện nay, kể từ sau năm 1945 thế giới sống trong một tình trạng tương đối thái bình, phương Tây, trong gần một trăm năm kể từ trận đánh Waterloo chấm dứt cuộc chiến tranh Napoleon, cũng sống trong một tình trạng tương đối thái bình. Cố nhiên là không phải hoàn toàn. Trong thời gian này có một cuộc nội chiến khủng khiếp tại Mỹ, một số cuộc chiến tranh ngắn ngủi tại Châu Âu như cuộc chiến Pháp – Phổ cũng như là vài cuộc chiến xâm lược thuộc địa tại Châu Á, nhưng nói chung hòa bình là tình trạng phổ biến.
Bên cạnh đó, tiến trình toàn cầu hóa và tiến bộ kỹ thuật – máy điện thoại, hỏa xa, tàu chạy hơi nước – đã cắt giảm mạnh thời gian di chuyển và nối liền các vùng của thế giới với nhau. John Maynard Keynes đã mô tả hình ảnh huy hoàng của một người dân Luân Ðôn vào lúc đó “uống ly trà buổi sáng trên giường” và đặt mua “những sản phẩm khác nhau của toàn thế giới” để được giao đến trước cửa nhà mình giống như chúng ta hiện nay mua hàng của Amazon.com vậy. Và ông cũng coi chuyện này như là “chuyện bình thường, chắc chắn và vĩnh cửu” chỉ có cải thiện chứ không giảm sút. Và người dân Luân Ðôn này của ông Keynes chắc hẳn là trên đầu giường còn có cuốn sách -lúc đó đang được lưu hành mạnh mẽ- của Norman Angell “The Great Illusion” vốn biện luận rằng Châu Âu không thể nào còn xảy ra chiến tranh được vì nền kinh tế của các nước này đã quyện vào nhau đến nỗi một cuộc chiến là vô ích.
Thế nhưng chỉ trong vòng một năm, cả thế giới bị rơi vào một cuộc chiến tranh khủng khiếp. Nó làm chết 9 triệu con người chưa kể hàng chục triệu người khác chết vì những hậu quả mà nó để lại, từ việc thành lập ra Liên Bang Xô Viết tại Nga, việc vẽ lại bản đồ vùng Trung Ðông và sự nổi lên của Hitler. Thay vì mang lại tự do hạnh phúc, kỹ thuật trở thành công cụ của tàn bạo, giúp một thiểu số có thể nô lệ hóa và tàn sát con người ở một mức độ lớn hơn nhiều so với thời xưa. Các hàng rào được lập ra trên khắp thế giới, đặc biệt là trong thời Ðại Khủng Hoảng của những năm 1930. Tiến trình toàn cầu hóa mà Keynes ca tụng chỉ trở lại vào đầu những năm 1990 khi thế giới Xô Viết sụp đổ và những cải cách của ông Ðặng Tiểu Bình bắt đầu có kết quả tại Trung Quốc.
Lực đẩy dẫn đến thảm trạng này là tham vọng của Ðức vốn vào những năm đầu của thế kỷ 20 đã vượt quá Anh về phương diện kinh tế trở thành cường quốc kinh tế lớn nhất Châu Âu. Tham vọng của Ðức là bằng mọi cách – kể cả chiến tranh – làm sao đạt được địa vị chi phối Châu Âu. Nhưng bên ngoài Ðức, sự tự mãn và thiển cận của các nước khác cũng đóng một phần quan trọng. Quá nhiều người, tại Luân Ðôn, Paris và những nơi khác tin rằng vì Anh và Ðức là hai nước bạn hàng lớn nhất của nhau không có một lý luận kinh tế nào cho phép chiến tranh xảy ra cả. Như Keynes viết “Những dự án và ý tưởng chính trị của chủ nghĩa quân phiệt, đế quốc, về những tranh chấp chủng tộc, văn hóa, của sự độc quyền và ngăn cấm mà sẽ đóng vai con rắn trong vườn Ðịa Ðàng… chỉ bị coi như là những mẩu chuyện vui trong báo hàng ngày của người dân Luân Ðôn.”
Người ta có thể học được từ những lỗi lầm của quá khứ như những phản ứng đối với cuộc khủng hoảng vừa qua vốn sử dụng những bài học rút ra được từ những lỗi lầm của thời Ðại Khủng Hoàng. Ngoài ra, sự khủng khiếp của một cuộc chiến toàn diện hiện đại với các vũ khích hạch nhân là một cản trở quan trọng đối với những ý đồ tham vọng vốn dẫn đến việc hy sinh một thế hệ thanh niên Châu Âu ngoài bãi chiến trường.
Nhưng những tương tự giữa hiện nay và quá khứ vẫn là những điều đáng lo ngại. Hoa Kỳ đóng vai Anh Quốc, một siêu cường đang trên đà đi xuống không còn đủ mạnh để chi phối toàn bộ an ninh thế giới. Bạn hàng lớn nhất của Mỹ, Trung Quốc, đóng vai trò Ðức Quốc, một cường quốc kinh tế đang lên tràn đầy những tham vọng quốc gia và ước muốn tẩy rửa những tủi nhục của quá khứ. Nhật Bản là Pháp, một đồng minh của nước bá quyền và có những cựu thù với nước có tham vọng bá quyền mới. Những tương tự này cố nhiên không toàn bộ chính xác. Trung Quốc còn chưa có một ai như Hoàng Ðế Ðức Wilhelm II và ngân sách quân sự của Mỹ vượt xa hơn ngân sách của đế quốc Anh, nhưng nó cũng gần giống đủ để làm người ta e ngại.
Ðiều tương tự làm người ta quan ngại nhất giữa năm 1914 và hiện này là tình trạng tự mãn. Những nhà doanh nghiệp hiện nay cũng giống như những nhà doanh nghiệp thời đó, quá bận rộn làm tiền để có thể để ý đến những con rắn đang thè lưỡi nhỏ nọc độc ở dưới chân họ. Các nhà chính trị đang chơi trò chơi nguy hiểm khơi dậy tinh thần dân tộc giống như họ đã làm cách đây 100 năm. Trung Quốc đang khích động tinh thần bài Nhật, dùng nó như là chiêu bài để cải tổ kinh tế trong khi Nhật cũng đang dùng nguy cơ Trung Hoa vào mục tiêu tương tự.
Có nhiều hy vọng rằng những sự tương tự đó không dẫn thế giới đến một cái gì tương đương với những khủng khiếp của năm 1914. Những khùng điên, dù rằng phát xuất từ những lý do chủng tộc, hoặc tôn giáo thông thường cuối cùng cũng bị khuất phục bởi lý trí. Nhưng khi chúng thắng thế, chúng dẫn đến những tai họa khổng lồ, thành ra nếu cứ nhất nhất cho rằng lý trí sẽ chiến thắng là một sơ suất nghiêm trọng. Và đó là bài học của cuộc chiến xảy ra cách đây một trăm năm.




















































