Kỳ thị chống di dân: Tình cảm chứ không phải là lý trí


Lê Mạnh Hùng



Hầu hết những người bảo thủ tại Anh cũng như tại Mỹ đều có khuynh hướng chống lại những người di dân mặc dầu những lợi ích kinh tế của vấn đề di dân đó có lợi cho xã hội đến mức nào chăng nữa.

Một trường hợp điển hình là trường hợp của ông George Kennan, có thể nói là nhà ngoại giao tài ba nhất của nước Mỹ trong thế kỷ vừa qua, người đã đề xướng ra chiến lược ngăn chặn chống lại thế giới cộng sản mà cuối cùng đã đưa nước Mỹ đến chiến thắng trong cuộc Chiến Tranh Lạnh. Nhưng tập nhật ký của George Kennan mới được xuất bản gần đây cho thấy ông cũng là một người cực kỳ bảo thủ, có thể nói là phản động. Ông không tin vào chế độ dân chủ và khả năng của kỹ thuật, thù ghét những thành phố lớn và tìm mọi cách để làm sao giữ được cho nước Mỹ một nền văn hóa Thiên Chúa Giáo Tin Lành qua việc chống lại không những những người di dân mà còn “quan hệ kinh tế tài chánh với những dân tộc khác.”


Ðiều này cho thấy những quan điểm phản động có thể vẫn hấp dẫn được những người thông minh tài giỏi. Và hiện nay tại Anh quan điểm này đang được ủng hộ bởi một nhà chính trị mới nổi, tuy rằng đang đứng ngoài vòng chính của chính trị Anh quốc, ông Nigel Farage, lãnh tụ đảng Ðộc Lập Anh quốc (UK Independence party-UKip).


Trong vấn đề di dân, một vấn đề đang là đề tài nóng bỏng trong chính trị Anh, ông Farage đã lấy có một lập trường khác với những người bảo thủ chống di dân khác. Thay vì cố gắng tìm cách chứng minh – và thất bại – rằng những người di dân đến làm hạ thấp thu nhập của những người bản xứ, ông đã nói thẳng rằng sự chống đối này không dính líu gì đến kinh tế. Ông nói, thà là có một nước Anh nghèo đi còn hơn là một nước Anh ngày một thay đổi. Và trong khi những người khác lo đi đếm số lượng người đến và đi tại nước Anh, ông nói thẳng rằng ông không quan tâm đến con số chính xác về chuyện này. Ðiều ông và những người ủng hộ quan tâm, quan trong hơn nhiều: đó là sự tan rã của một lối sống vốn đã có từ nhiều thế kỷ.


Ðó chính là nan đề khó giải quyết của đảng Bảo Thủ cầm quyền và Thủ Tướng David Cameron. Ông Nigel Farage, một nhà chính trị không hy vọng gì có thể lên nắm quyền và cũng không có tham vọng lên nắm quyền, có thể đưa cho các cử tri một sú-páp an toàn để giải tỏa những bất mãn của mình, trong khi chính phủ, bị buộc phải giải quyết vấn đề di dân bằng một phương cách có tính lý trí, bao gồm cả những tính toán về kinh tế cũng như là pháp luật. Kết quả là không có một chính sách nào đưa ra có thể thành công. Cố gắng cuối cùng của chính phủ Cameron, chỉ tiêu là làm sao giảm số dân nhập cư ròng vào nước Anh xuống mức hàng chục ngàn đã thất bại thê thảm. Trong năm 2012-13, số di dân ròng vào Anh đã tăng lên đến trên 200,000. Và mặc dầu thất bại trong việc ngăn chặn số di dân, chính phủ Cameron vẫn bị chỉ trích là đã làm ảnh hưởng đến tương lai của nước Anh khi một phúc trình của Thượng Viện Anh vừa được công bố cho thấy số sinh viên nước ngoài đến học tại Anh đã bị giảm sút trong năm 2013 lần đầu tiên kể từ nhiều năm nay vì những cố gắng hạn chế di dân của chính phủ.


Tuy nhiên ngay cả nếu chỉ tiêu được nêu trên có đạt được chăng nữa, hầu như chắc chắn nó cũng không làm giảm sự thu hút của UKip đối với các cử tri bảo thủ Anh. Một số những vấn đề không thể nào dùng con số để thuyết phục. Các loại tội phạm đã giảm sút một cách đều đặn tại Anh kể từ giữa những năm 1990, nhưng nhận thức của người ta thì vẫn không đổi. Trong những vấn đề có liên quan đến bản thể và những giá trị cơ bản, người ta không hề để cho thực tế ảnh hưởng đến niềm tin.


Một dữ kiện thích thú đáng chú ý nhất trong các cuộc khảo sát về di dân tại Anh cho thấy con số những cử tri ủng hộ chính sách của chính phủ Bảo Thủ thì cũng bằng con số những người cho rằng chính sách đó không thành công. Nếu có một kết luận nào có thể giải thích được sự kiện này thì đó là các cử tri không chờ đợi một sự thành công trong việc giảm số di dân đến Anh. Họ muốn điều đó, nhưng họ không tin ở khả năng có thể thực hiện điều đó của những nhà chính trị. Ðiều họ mong muốn là một sự đồng tình từ phía những nhà cai trị đối với quan điểm cho rằng vào một thời điểm nào đó trong quá khứ, nước Anh khá hơn nhiều so với hiện nay, vốn trở thành một nơi mà mọi nền văn hóa hỗn hợp xáo trộn lẫn nhau và còn không công bình nữa.


Không một nhà chính trị nào ở dòng chính có thể cho họ được sự đồng tình đó. Một phần là vì họ được nuôi dưỡng bởi lý trí. Ông Cameron cũng như hầu hết những đồng liêu của ông không có bao nhiêu nhạy cảm với những vấn đề bản thể và văn hóa. Và một phần khác là vì họ biết rằng tinh thần dân tộc cảm tính không phải là một điều tốt cho một nhà chính trị dù rằng có thể tận đáy lòng họ cũng nghĩ như vây. Khi còn làm lãnh tụ đảng Bảo Thủ, ngoại trưởng hiện nay, ông William Hague có lần buột miệng tuyên bố nước Anh đang từ từ trở thành một “xứ lạ.” Thế là vai trò lãnh đạo của ông vốn đã suy yếu nay đổ sụp. Ngược lại ông Farage có đủ tự do để tuyên bố bừa bãi mà không bị ảnh hưởng vì ông có được độc quyền thị trường hoài niệm quá khứ.


Những người chống lại di dân – tại Anh cũng như tại Mỹ – nói rằng họ bị chèn ép bởi những đối thủ của họ vì mỗi lần họ nói đến vấn đề này là bị tố cáo là kỳ thị chủng tộc. Tại Anh, vấn đề kỳ thị chủng tộc chỉ là một phần vì đại đa số những người di dân không phải da mầu hoặc là ngoại đạo mà cũng là người da trắng theo đạo Thiên Chúa từ các nước Châu Âu khác đến. Nhưng như ta đã thấy ở trên, chống di dân là một vần đề tình cảm.


Nó dính dáng đến nỗi sợ của những thay đổi và nhu cầu hội nhập. Nói một cách khác nó có tính cách phản động và hoài niệm quá khứ một cách lãng mạn. Căn cứ vào những dữ liệu khảo sát, nó tập trung trong một tầng lớp tuổi và giai tầng xã hội nào đó, thành ra như một sức mạnh chính trị nó sẽ tàn lụi dần dần trong những thập niên tới. Nhưng hiện nay nó đang là một ngọn triều và các đảng phái dòng chính không thể nào thắng thế được bằng những lý luận có tính lý trí và hiện thực.

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT