Lê Phan
Trong những ngày gần đây trên các tạp chí, trên các tờ báo đứng đắn ở Tây phương đã có thấy xuất hiện một biện luận là trong cuộc tranh giành ở Biển Ðông, Trung Quốc đã thắng Hoa Kỳ.
Ðiển hình cho luận điệu này là một bài của chủ bút Á Châu của tờ Financial Times David Pilling, trong đó ông lý luận là Bắc Kinh đang tiệm tiến tạo ra một hiện trạng mới ở Á Châu, và qua cứ mỗi một vụ việc, Bắc Kinh đã thách thức Hoa Kỳ.
Sau khi đặt câu hỏi là những hành động đồng thời khiêu khích cả ba quốc gia láng giềng của Trung Quốc từ Nhật Bản ở phía Bắc đến Việt Nam và Philippines ở phía Nam, phải chăng Trung Quốc ngu hay là cực kỳ khôn ngoan, ông Pilling đã ngả sang khuynh hướng nghĩ là Trung Cộng hết sức khôn ngoan.
Dẫn lập luận của Giáo Sư Hugh White, giáo sư về nghiên cứu chiến lược của Viện Ðại Học Quốc Gia Úc, ông Pilling bảo là chẳng có gì đáng ngạc nhiên về những vụ việc mà Bắc Kinh đã gây nên gần đây. Ông White bảo là chẳng ông Tập Cận Bình đã đòi một “khuôn mẫu mới cho liên hệ cường quốc” đó sao. Ðiều đó ông Pilling giải thích có nghĩa là Bắc Kinh muốn không bị coi như là đàn em của Hoa Kỳ mà là ngang hàng, ít nhất là ở vùng Tây Thái Bình Dương. Ông White giải thích là trong cái trò chơi này thì một người thắng thì có người thua. Và để đạt được việc làm giảm uy thế của Hoa Kỳ thì Trung Quốc chọn những cuộc đấu tranh nhỏ nhưng có thể thắng được.
Theo lý luận này, trò chơi là “asymetric” (không cân xứng). Có nghĩa là để bảo vệ hiện trạng, Hoa Kỳ cần phải ngăn cản bất cứ một bước nào của Trung Quốc, một việc mà Hoa Kỳ không thể làm nổi. Trung Quốc theo lý luận này chỉ cần chọn một vài trận đánh nhỏ mà họ biết là Hoa kỳ sẽ không muốn tham chiến. Một vùng nhận diện phòng không Adiz ở đây. Một giàn khoan ở kia. Dĩ nhiên, ông Pilling mỉa mai, Hoa Kỳ có thể đặt lằn đỏ, nhưng như ông Obama đã khám phá ra, lằn đỏ có thể rất nhức đầu.
Và cứ từng bước một Bắc Kinh đang dựng lại hiện trạng mới ở chính hiện trường, hay đúng hơn trên biển và trong không gian. Cứ với mỗi một vụ mới thì họ lại thách thức vả vào mặt Hoa Kỳ. Liệu có đáng lâm chiến vì một cái tàu đánh cá của Việt Nam không? Nghĩ là không. Thế còn một bãi cạn của Philippines? Một hòn đảo không người ư?
Ông Pilling còn chỉ ra là ngay cả việc bảo là sự tấn công đồng loạt này sẽ làm cho các quốc gia láng giềng kết hợp lại, nhưng kết hợp khó lắm thay. Bằng cớ là Asean, nay chia làm hai, một bên là phe bị Trung Quốc tấn công, một bên là phe không bị Trung Quốc tấn công. Ðiều ông Pillings quên nhắc đến là quốc gia lớn nhất và quan trọng nhất của Asean, Indonesia nay đã không còn đứng bên rìa nhìn nữa. Hôm tuần rồi, Indonesia đã ký kết với Philippines một thỏa thuận về chia sẻ vùng đặc quyền kinh tế, một cử chỉ để khuyến cáo Trung Quốc là có cách giải quyết khác trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ.
Nhưng cái điều nực cười là chính những điều mà Trung Quốc đang làm cho Hoa Kỳ, các quốc gia nhỏ hơn trong vùng như Việt Nam, Philippines và ngay cả Indonesia cũng có thể làm cho Trung Quốc.
Nếu Hoa Kỳ có điểm yếu của mình thì Trung Quốc cũng có nhược điểm của họ. Trung Quốc đã quên mất Việt Nam trong tính toán về giàn khoan. Khi họ vác cái giàn khoan khổng lồ cao bốn tầng và rộng bằng một sân banh đến đậu ở khu vực thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam, họ không dè là Việt Nam lại phản ứng mạnh đến thế.
Mà Bắc Kinh bị bất ngờ cũng phải. Từ trước đến nay Hà Nội đã nhiều lần làm ngơ, giả vờ phản đối đôi chút rồi thì bỏ qua, trước những xâm lấn của Bắc Kinh. Khi Bắc Kinh uy hiếp ngư dân Việt Nam, phá thuyền, giành khu vực đánh cá của họ ở Hoàng Sa, Hà Nội chỉ phản đối qua loa rồi tiếp tục điều đình với Trung Quốc. Khi Bắc Kinh ra lệnh cấm đánh cá ở một vùng biển rộng lớn mà họ bảo nay thuộc quyền cai trị của huyện đảo Tam Sa, Hà Nội vẫn tiếp tục điều đình với Trung Quốc về biên giới trên biển. Trong lúc ngoài miệng lên tiếng đòi điều đình chung với Asean nhưng thực ra Hà Nội đã xé lẻ đi đêm với Trung Quốc. Chắc hẳn các nhà lãnh đạo ở Hà Nội lấy làm thích thú là mình khôn.
Nhưng khi Bắc Kinh đem giàn khoan vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đột nhiên Hà Nội phản ứng. Và bây giờ Bắc Kinh mới thấy là cuộc chơi không chỉ đơn giản giữa Hoa Kỳ và họ. Những quốc gia khác trong vùng mà Bắc Kinh muốn giành ra khỏi quyền kiểm soát này của Hoa Kỳ sẽ phản ứng và đối với họ, cũng như cuộc chiến bất cân xứng giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, những bước nhỏ có ảnh hưởng lớn.
Ðiều còn đáng lo ngại hơn nữa về lập luận của những người như Giáo Sư White là kết luận của ông về liên hệ Mỹ Trung. Trong cuốn sách “The China Choice: Why We Should Share Power,” người đã có thời là một viên chức cao cấp của Bộ Quốc Phòng Úc, lý luận là Hoa Kỳ và Trung Quốc đang trên đường đụng độ và có thể kết thúc là chiến tranh. Ðể tránh thảm họa chiến tranh, cả hai quốc gia phải đổi hướng. Mỗi quốc gia cần công nhận là họ không thể độc tôn chế ngự Á Châu. Thay vì vậy, hai bên cần phải đạt được một thỏa thuận ngầm chia sẽ quyền lực.
Lập luận của ông White còn nguy hiểm hơn nữa vì ông bảo là Hoa Kỳ sẽ phải là quốc gia đi trước. Tuy bảo ông không coi sự chế ngự của Hoa Kỳ trước đây là một điều xấu, nói là chính Hoa Kỳ đã tạo cho Á Châu một thời đại hoàng kim, nhưng ông bảo thời của Hoa Kỳ đã đến lúc kết thúc rồi. Viện dẫn những dự đoán là trong vòng thập niên tới Trung Quốc sẽ thành nền kinh tế lớn nhất thế giới, ông bảo là thời đại Hoa Kỳ độc tôn đang đến hồi kết thúc. Nhưng vì Trung Quốc chưa thể thay thế hoàn toàn Hoa Kỳ được nên đó mới là vấn đề.
Lập luận rằng, “Bất cứ một cố gắng nào từ cả Bắc Kinh lẫn Washington để chế ngự sẽ dẫn đến những tranh chấp chiến thuật kéo dài và gay go, áp đặt những chi phí vĩ đại về kinh tế và nguy cơ của một cuộc chiến thảm khốc.” Nhưng ông lý luận là Hoa Kỳ, dưới triều của Tổng Thống Barack Obama đã rõ ràng quyết định tái khẳng định sự tối cao của mình ở Á Châu. Ông tin là một chính sách như vậy là vô cùng nguy hiểm và phải tính lại.
Và ông đề nghị một chính sách hai bên dung nhượng. Tuy ông công nhận là vì những lý do lý tưởng và chính trị Hoa Kỳ sẽ không bao giờ chấp nhận là “vai trò lãnh đạo độc nhất của họ sẽ không còn nữa.” Nhưng ông đã không thấy là nếu và khi nào Trung Quốc có một nền kinh tế rõ ràng lớn hơn Hoa Kỳ, giới lãnh đạo của nước này lại lặng lẽ chấp nhận chia sẻ quyền lãnh đạo Á Châu với Hoa Kỳ.
Khuôn mẫu của một “cuộc đại hòa tấu” các cường quốc của Á Châu (ông bao gồm cả Nhật Bản và Ấn Ðộ) là Âu Châu sau sự sụp đổ của Napoleon vào năm 1815. Nhưng, rất tiếc là cái ngày một số các chính khách có thể chia thế giới thành vùng ảnh hưởng đã qua rồi. Ngay cả lãnh tụ Trung Quốc ngày nay cũng phải sống trong một thế giới ồn ào dư luận, email, Baidu, và truyền hình vệ tinh.
Vả lại ông White cũng quên mất là những quốc gia nhỏ láng giềng của Trung Quốc sẽ không chịu đầu hàng vì như ông nói họ đã quá lệ thuộc vào kinh tế của Trung Quốc. Ðến ông Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam mà còn tức tối nói, “Chúng tôi luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị, nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó.”
Thay vì việc chia sẻ quyền hành như ông White lý luận, việc duy trì hòa bình ở Á Châu sẽ phải dựa trên môt tập hợp của khả năng hạt nhân, quyền lợi kinh tế và chính trị thăng bằng quyền lực, với Hoa Kỳ tập hợp lại những nước láng giềng đang rất lo ngại của Trung Quốc thành một đối trọng với Trung Quốc. Có thể sự thăng bằng này rất mong manh nhưng đó là điều duy nhất có thể duy trì hòa bình ở Á Châu.
Và trong cái rủi có cái may bởi chính trong tình hình này mà những quốc gia nhỏ như Việt Nam, nếu khôn khéo có thể giữ vững được vị thế độc lập của mình.




















































