Thỏa hiệp Paris và triển vọng lâu dài về năng lượng

Lê Mạnh Hùng

Hai phúc trình nghiên cứu được công bố trong vòng mấy tuần qua đã cho ta một hồi chuông thức tỉnh sau sự thành công trên danh nghĩa của hội nghị về thay đổi khí hậu tại Paris vào cuối năm ngoái.

Cố nhiên đạt được một thỏa thuận như vậy quả là một thành công rực rỡ về ngoại giao, nhưng tạo ra những thay đổi thật sự ở mức độ cần thiết để ngăn chặn thay đổi khí hậu là một đòi hỏi khó khăn hơn nhiều. Hai phúc trình này đến từ hai phía khác nhau và cho ta hai cái nhìn khác nhau về những khó khăn mà thế giới cần phải vượt qua. Tuy rằng cả hai đều phản ảnh một sự lạc quan hơi quá đáng nhưng đều dựa trên những dữ kiện thực tế.

Phúc trình thứ nhất là của công ty Exxon Mobil “Long Term Energy Outlook to 2040.” Phúc trình thứ hai là của viện nghiên cứu Grantham Institute lượng định mức khả tín của những cam kết mà các nước G20 đưa ra tại Paris vốn thải ra đại đa số các khí nhà kiếng làm thay đổi khí hậu hiện tại cũng như trong tương lai.

Phúc trình của viện Grantham lượng định tính khả tín của các cam kết dựa theo một số tiêu chuẩn. Cam kết của một quốc gia được coi như là có tính khả tín nếu quốc gia này có đủ những điều kiện sau đây:

– Có một tiến trình lập pháp nhất quán và tiến trình lấy quyết định minh bạch để biến nhưng cam kết đó thành luật lệ.

– Có những cơ cấu và tổ chức – cả công lẫn tư có khả năng hoàn thành những cam kết đó.

– Một quá trình tích cực tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi sinh trên thế giới cũng như là một quần chúng thấu hiểu vần đề khí hậu.

– Một quá trình thành công trong quá khứ về những cam kết về khí hậu và không có một trường hợp nào cam kết bị đảo ngược.

Mỗi một yếu tố này sau đó được phân tích và góp lại để tạo thành một hình ảnh về tính khả tín của mỗi quốc gia và sau đó cho toàn nhóm G20 nói chung. Kết luận của phúc trình thì hỗn hợp. Chín mươi phần trăm các cam kết về cắt giảm khí thải đến từ các quốc gia có ít nhất là một sự ủng hộ khiêm tốn của quần chúng nhưng chỉ 15% là có được sự yểm trợ của một tiến trình lập pháp nhất quán.

Các quốc gia thuộc Liên Hiệp Châu Âu và Nam Hàn được đánh giá cao, nhưng danh sách các quốc gia có những khuyết điểm đáng kể trong ít nhất là một tiêu chuẩn nêu trên thì rất dài bao gồm cả Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nga.

Nói một cách thẳng thừng hơn, phúc trình cho thấy đa số việc cắt giảm khí thải hứa hẹn đến từ các quốc gia mà cho đến nay còn chưa chứng minh được rằng họ đã sẵn sàng để thực hiện những cam kết đó.

Chẳng hạn vẫn còn có những dấu hỏi lớn đối với Hoa Kỳ, nơi mà một thành phần đáng kể những chính khách còn không công nhận có thay đổi khí hậu và Trung Quốc tuy rằng đã có được một số tiến bộ nhưng có thể không thay đổi kịp nền kinh tế tùy thuộc vào năng lượng của mình mau đủ.

Phúc trình không bao gồm những lượng định về nhưng hệ quả của việc một hay vài nước chính không thực hiện được những cam kết của mình. Nhược điểm chính của phúc trình là đã để yếu tố kinh tế ra ngoài những tính toán và thành ra không có một ước lượng nào về những giá phải trả trong ngắn hạn khi chuyển tiếp sang một nền kinh tế sử dụng ít năng lượng. Đó chính là điều đang ảnh hưởng đến Brazil hiện đang ở trong tình trạng suy thoái kinh tế. Bất kỳ một sự trì trệ hay suy thoái kinh tế – tại một nước hay nói chung – đều sẽ có một ảnh hưởng tiêu cực đến các cam kết đưa ra về khí hậu.

Đọc xong phúc trình của Grantham Institute, chuyển sang phúc trình của Exxon Mobil cho ta một số ngạc nhiên mới. Phúc trình của Exxon đưa ra một cái nhìn chi tiết về thị trường năng lượng cho đến 2040. Phúc trình có rất nhiều chi tiết phong phú, nhưng có hai điểm nổi bật lên. Thứ nhất, nhu cầu nặng lượng trên toàn thế giới được dự trù sẽ tăng 25% vào năm 2040 với hầu hết những gia tăng này đến từ các quốc gia không thuộc khối Tổ Chức Hợp Tác Kinh tế và Phát Triển (OECD). Thứ hai, tuy rằng đến 2040 việc sử dụng năng lượng tái tạo (renewables) và hạch nhân sẽ tăng lên đáng kể nhưng năng lượng hóa thạch vẫn còn đóng góp đến 80% tổng số nhu cầu năng lượng. Dầu vẫn là nhiên liệu được sử dụng nhiều nhất có lẽ vì Exxon còn rất hoài nghi khả năng phổ biến của các loại xe chạy điện.

Điều đang chú ý nhất của phúc trình Exxon – một công ty dầu khí – nằm trong hai giả thuyết làm cơ sở cho toàn bộ phúc trình. Thứ nhất là việc gia tăng cải thiện năng suất sử dụng năng lượng sẽ tiếp tục và có tính tích lũy, thành ra nhu cầu năng lượng cho một đơn vị suất lượng kinh tế sẽ giảm 40% vào năm 2040. Và thứ hai, tuy rằng thế giới còn tùy thuộc chính vào năng lượng hóa thạch nhưng kinh tế toàn cầu đã chuyển đi một cách đáng kể sang môt nền kinh tế năng lượng thấp. Dự phóng là cường độ thải khí CO2 của hoạt động kinh tế toàn cầu sẽ bị cắt chỉ còn một nửa và khối lượng khí thải lên đến mức cao nhất vào năm 2030 sau đó đi xuống.

Mức tăng hiệu suất như vậy có vẻ là quá lạc quan. Tuy rằng đã có những gia tăng đáng kể về hiệu suất này kể từ năm 2000, nhưng những gia tăng này đạt được vào lúc giá dầu cao và còn đang tăng. Nay chúng ta đi vào giai đoạn giá dầu thấp thành ra sức thức đẩy các người tiêu thụ tiết kiệm năng lương bị giới hạn đi nhiều.

Giả thuyết chuyển sang một nền kinh tế sử dụng ít năng lượng còn khó tin hơn nữa. Nó dựa trên giả thuyết rằng các quốc gia trên thế giới lập ra một loại thuế đánh vào sử dụng carbon cao đủ để làm thay đổi cung cách sinh hoạt của người dân. Nhưng ta không thấy một ứng cử viên tổng thống nào của Mỹ đưa ra một đề nghị đánh thuế carbon chứ đừng nói là đánh cao đủ. Và ngay tại Châu Âu nơi mà quần chúng có nhận thức cao hơn nhiều về những nguy cơ của thay đổi khí hậu, chính trị cũng làm cho không nước nào dám đứng ra làm chuyện này.

Kết luận ta có thể rút ra từ hai phúc trình này là phải có những giả thuyết thật lạc quan mới có thể đạt được tiêu chuẩn mà Liên Hiệp Quốc đề ra là giữ nhiệt độ toàn cầu tăng lên 2 độ C vào cuối thế kỷ. Thành ra tuy rằng Paris là một thành công nhưng chúng ta cũng đừng quá lạc quan và tự mãn. Chuyện còn quan trọng hơn cho Việt Nam khi mà theo tạp chí The Economist, chỉ cần gia tăng nhiệt độ 1 độ C là sẽ làm giảm sản lượng lúa gạo 10%.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT