Lâm Hoài Thạch/Người Việt
SANTA ANA, California (NV) – Tình nguyện nhập ngũ, học Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức xong thì võ sư Lê Hữu Quế được điều về Trường Sinh Ngữ Quân Đội với nhiệm vụ dạy Anh Ngữ cho các quân nhân. Cuộc đời lính của ông đều bắt đầu bằng dạy học, từ võ sư đến giáo sư.

Sau vụ tổng tấn công miền Nam của Cộng Sản Bắc Việt vào Tết Mậu Thân 1968, lệnh tổng động viên của chính phủ VNCH được ban hành. Chàng trai Lê Hữu Quế nhập Khóa 3/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, nhập ngũ 20 Tháng Năm, 1968, tại Quân Trường Quang Trung. Sau đó được đưa về thụ huấn tại Quân Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Ra trường đầu Tháng Mười Hai, 1968.
Quê tổ của ông ở làng An Biên, tỉnh Hải Phòng, nhưng ông được ra đời tại Hà Nội. Thân phụ của ông là Bác Sĩ Lê Hữu Lý, cựu Đại Úy Quân Y Trưởng, Bảo Chính Đoàn Bắc Việt trong Quân Đội Quốc Gia của cựu Hoàng Bảo Đại.
Gia đình di cư vào miền Nam 1954 và được định cư tại Đà Lạt. Khi đặt chân đến miền Nam, cha của ông tiếp tục làm việc trong quân đội, ngành Ngự Lâm Quân (đơn vị bảo vệ Vua Bảo Đại).
Sau khi Vua Bảo Đại không còn ở Việt Nam nữa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm thuyên chuyển Bác Sĩ Lê Hữu Lý về làm việc nhiều nơi như Ban Mê Thuột, Pleiku, Kon Tum. Năm 1960, Bác Sĩ Lý bỏ ngành y về Sài Gòn tìm việc. Gia đình vẫn ở Đà Lạt cho đến năm 1957 thì về Sài Gòn.
Cũng vào năm 1957, ông Quế gia nhập Hướng Đạo Việt Nam, Đạo Hoa Lư; Thiếu Đoàn Đống Đa. Đạo Trưởng kiêm quyền Thiếu Trưởng là Trưởng Nghiêm Văn Thạch; Thành lập Ấu và Kha đoàn Trương Công Định của Trưởng Lê Khắc An Bang; Cố vấn sinh hoạt và huấn luyện cho Hùng Tâm Dũng Chí tại Biệt Khu Thủ Đô của Linh Mục Phan Phát Hườn.
Năm 1968, ông đã tốt nghiệp môn Kwatsu “Trật Đả, Y Khoa Nhu Đạo và Khí Công Trị Liệu.” Chính nhờ vậy, nên sau này ông trị bệnh rất giỏi.
Trước năm 1975, ông đã là võ sư huyền đại đệ nhị đẳng Nhu Đạo (Judo) và Túc Quyền Đạo (Teakwon Do). Mùa Hè đỏ lửa 1972, ông được nhận trách nhiệm trưởng môn Y Võ Phi Hổ, với biệt danh Phi Hổ Lãng Nhân.
Những ngày tháng tại quân trường
Theo ông Quế kể, vì nhu cầu chiến trường, Khóa 3/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức là một trong những khóa học ngắn hạn nhất của Quân Trường Thủ Đức, vì thụ huấn tổng cộng chỉ có sáu tháng, gồm 2,000 khóa sinh (10 đại đội). Khóa này, đặc biệt các khóa sinh được đào tạo qua hai giai đoạn. Giai đoạn một gồm ba tháng tại Quân Trường Quang Trung, với tư cách khóa sinh dự bị sĩ quan. Ông là khóa sinh thuộc Tiểu Đoàn Nguyễn Huệ của Đại Úy Hưng, tiểu đoàn trưởng. Giai đoạn hai được đưa về Quân Trường Thủ Đức thụ huấn cho đến ngày mãn khóa.
Khi mới nhập ngũ, trong phần kê khai lý lịch có khá dài, vì ông đã nêu lên rằng, ông đã có “hoạt động chính trị” trước khi nhập ngũ.

“Tôi đã khai nhiều trang giấy về những sinh hoạt, trách nhiệm trong Việt Nam Quốc Dân Đảng và Liên Đoàn Thanh Niên Sinh Viên Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo của thời Đệ Nhất Cộng Hòa; Thanh Niên Võ Đạo Đoàn và Đoàn Thanh Nữ Phụng Sự Xã Hội. Có thể nói, tờ khai lý lịch của tôi là tờ khai dài nhất, dài hơn cả tờ khai của đồng chí Việt Nam Quốc Dân Đảng Nguyễn Tường Vũ ở cùng đại đội thuộc Tiểu Đoàn Nguyễn Huệ của khóa sinh,” ông Quế kể.
Ông và ông Nguyễn Tường Vũ đã thành thật khai báo trong hồ sơ lý lịch của hai người y như đã từng khai báo với các cơ quan an ninh tại miền Nam thời đó, nên việc nhập ngũ của họ không có gì trở ngại.
Ông nói thêm, trước khi nhập ngũ, năm 18 tuổi, ông đã tập luyện nhiều môn võ, nhưng không nhận được bằng võ sư, vì thời đó (1964) không có Tổng Cuộc Võ Thuật nào cấp bằng võ sư cho những người dưới 25 tuổi. Nhưng ông vẫn tự mình lập ra Trung Tâm Huấn Luyện Võ Thuật Thanh Niên Phật Tử.
Ông nói: “Trước khi nhập ngũ, tôi phải đóng cửa trung tâm này, lý do là không có võ sư nào chịu đảm trách chức vụ giám đốc của trung tâm này, vì họ sợ bị Cảnh Sát và An Ninh Quân Đội để ý.”
Trong hàng ngũ môn sinh của ông Quế, thời ấy có rất nhiều quân nhân cấp sĩ quan trong Quân Lực VNCH.
“Trong ngày chào tạm biệt, quý thầy và các môn sinh thì có một đại úy và một thiếu tá đang làm việc tại Bộ Tổng Tham Mưu, Quân Lực VNCH đến khuyên tôi: ‘Vì những hoạt động chính trị của thầy, nên khi ra trường, thầy nên tình nguyện vào những đơn vị thuộc Lực Lượng Tổng Trừ Bị như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân… Vì các đơn vị này quân số tương đối đầy đủ và được trang bị vũ khí tốt,” ông Quế nhớ lại.

Sau ngày mãn khóa
Gần đến ngày mãn khóa, một số sinh viên sĩ quan đậu hạng cao được về những đơn vị do họ tự chọn; và một số khác chờ các đơn vị quân đội đến để được “bốc” về làm sĩ quan trong nhiều Quân, Binh Chủng của VNCH. Trong lúc này, tâm trí của Sinh Viên Sĩ Quan Lê Hữu Quế đều nghĩ về những đơn vị Tổng Trừ Bị mà ông sẽ được phục vụ sau này.
Vài ngày sau, một số đơn vị chiến đấu trong Quân Lực VNCH vào tuyển mộ các sinh viên sĩ quan của Khóa 3/68. Đặc biệt, các nhân viên của Trường Sinh Ngữ Quân Đội cũng có mặt để tuyển chọn những tân sĩ quan nào biết Anh Ngữ sẽ được về phục vụ tại trường này.
Ông Quế nói: “Mặc dù trước kia tôi là cựu học sinh của Trường Trung Học Jean Jacques Rousseau, Sài Gòn, nhưng đã từng học Anh Văn của nhiều trường Anh Ngữ tư thục, nên về nói Anh Ngữ thì tôi cũng được biết nhiều. Vì thế, sau đó tôi được làm nhân viên tham vấn của USAID, một trong nhiều cơ quan của chính phủ Hoa Kỳ tại Việt Nam, và tôi đã làm việc trong cơ quan này được hai năm. Nhưng lúc đó, tôi không nghĩ mình có thể tranh đua với những giáo sư Anh Văn chuyên nghiệp.”
Tuy nhiên, Sinh Viên Sĩ Quan Lê Hữu Quế cũng ghi danh để được tuyển chọn về phục vụ tại Trường Sinh Ngữ Quân Đội, và được thi trắc nghiệm trình độ Anh Ngữ tại chỗ. Đồng thời ông cũng ghi danh để được về Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến, nếu không được về phục vụ tại Trường Sinh Ngữ Quân Đội.
“Tôi được thi trắc nghiệm Anh Ngữ bằng phương pháp ‘ABC khoanh,’ bài thi khá dễ, trình độ Anh Văn khoảng Đệ Tam, Đệ Nhị thời bấy giờ. Sau giờ cơm trưa thì đã có kết quả, và tôi được vào thi vấn đáp. Ban giám khảo nói là trình độ Anh Ngữ của tôi OK, nhưng phải chờ sự chấp thuận của Trường Sinh Ngữ Quân Đội,” ông kể.
Ông cho hay, có khoảng 10 sinh viên sĩ quan sẽ được về trường Sinh Ngữ Quân Đội sau khi ra trường, trong đó có nhiều người đã từng là giáo sư Anh Văn, còn ông là một trong 10 người đầu tiên được về Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến. Trong dịp này, ông cũng được quân trường cho ông về nghỉ phép hai tuần trước khi trình diện Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến.
Đến ngày mãn khóa, ông và hàng ngàn Sinh Viên Sĩ Quan Khóa 3/68 được trở thành tân sĩ quan của Quân Lực VNCH, với cấp bậc chuẩn úy.
Sau hơn sáu tháng miệt mài tại quân trường, tân Chuẩn Úy Lê Hữu Quế rất vui mừng khi được về gặp lại gia đình tại Sài Gòn trong hai tuần nghỉ phép. Hơn thế nữa, ông đã được chọn về Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến như ước nguyện của mình.
Cựu Chuẩn Úy Lê Hữu Quế cho hay: “Nhưng chỉ sau hai ngày được nghỉ phép thì Quân Cảnh đến tận nhà trao cho tôi một phong thư, đó là lệnh của quân trường cho tôi biết là khoảng 10 ngày sau, tôi phải trình diện đúng 8 giờ sáng tại Phòng An Ninh của Quân Trường Thủ Đức.”

Theo ông kể, ngày trình diện Phòng An Ninh của Quân Trường Thủ Đức, ông thấy, kể cả ông nữa là 20 tân sĩ quan trong đó có tân Chuẩn Úy Nguyễn Tường Vũ! Ông cười nhẹ nói: “Trong lúc này, 18 anh em tân sĩ quân khác đều tỏ vẻ không vui, chỉ có tôi và anh Vũ là vẫn tươi cười, mặc cho số phận an bày. Vì chúng tôi quan niệm rằng, trong thời chiến thì bất cứ nơi nào mình cũng làm tròn bổn phận làm trai khi đất nước trong thời chinh chiến.”
Ông kể thêm: “Đúng 8 giờ sáng, vị trưởng phòng nghiêm nghị cho chúng tôi hay, ‘Sở dĩ chúng tôi mời quý vị về đây là có lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu đang cần thay đổi các anh về những đơn vị khác để phù hợp với khả năng của các anh mà quân đội đang cần thiết.’”
Trong lúc 20 tân sĩ quan nhìn nhau bỡ ngỡ, vì không biết chuyện gì sẽ đến cho mình, thì vị thiếu tá trưởng Phòng An Ninh đọc danh sách trên tay của ông và chia 20 anh em tân sĩ quan thành hai nhóm. Lê Hữu Quế và Nguyễn Tường Vũ không cùng đứng chung nhóm.
Ông Quế nói: “Sau đó, vị trưởng Phòng An Ninh vui vẻ cho chúng tôi biết, ‘Chúng tôi được lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu cho biết là trong số các tân sĩ quan trình diện hôm nay, có những người đã có bằng cử nhân trong nhiều ngành, thì được làm giáo sư của nhiều ban ngành tại Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, còn nhóm của những anh em khác vì có trình độ Anh Ngữ nên được làm giáo sư Anh Văn tại Trường Sinh Ngữ Quân Đội. Xin chúc anh em thành công trong nhiệm vụ của mình, và nếu ai có khiếu nại thì hãy cho chúng tôi ngay từ giờ phút này.’”
Đến lúc này, mọi lo âu của 20 tân sĩ quan không còn nữa, và ai nấy đều tỏ vẻ vui mừng; không có ai từ chối về nhiệm sở mới của mình cả. Ông Quế cho biết thêm: “Sau đó, nhóm của chúng tôi được lệnh về trình diện Trường Sinh Ngữ Quân Đội tại Sài Gòn, còn nhóm kia, trong đó có anh Nguyễn Tường Vũ, vì trước khi nhập ngũ, anh Vũ đã là giáo sư môn Sử Địa thì được lệnh về trình diện Quân Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.”

Phục vụ tại Trường Sinh Ngữ Quân Đội
Thiếu Úy Quế trình diện Trường Sinh Ngữ Quân Đội với nhiệm vụ dạy Anh Ngữ cho các quân nhân được tuyển chọn về học Anh Văn. Sau khi tốt nghiệp, họ sẽ là thông dịch viên cho những cố vấn quân sự Hoa Kỳ tại chiến trường.
Năm 1969, trong lúc làm huấn luyện viên của Trường Sinh Ngữ Quân Đội, ông Quế đã được một số giáo sư ngoại ngữ mời về làm khoa trưởng Ngoại Ngữ Học các Trung Tâm Bách Khoa của Hội Văn Hóa Bình Dân. Cũng trong năm này, ông được Trưởng Nguyễn Văn Diễn (Trại trưởng trại Huấn Luyện Huynh Trưởng Hướng Đạo Quân Đội đầu tiên tại Công Viên Tao Đàn) mời làm Trưởng huấn luyện cho hai ngành Thiếu và Kha.
Ông Quế kể: “Sau đó, tôi được thăng cấp thiếu úy, và được lệnh sang căn cứ Không Quân tại Lackland, Texas, Hoa Kỳ, để học bổ tức thêm Anh Văn, sau khi mãn khóa sẽ trở thành giáo sư Anh Văn thực thụ. Cuối năm 1971, tôi về nước được tiếp tục làm giáo sư Anh Văn do Mỹ đào tạo tại Trường Sinh Ngữ Quân Đội.”
Cũng theo ông Quế, sáu tháng sau, Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt và Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt cần tuyển giáo sư Anh Văn. Nghe tin này, ông bèn nộp đơn và được ban tuyển mộ chấp thuận. (Lâm Hoài Thạch) [qd]
Kỳ cuối: Trung Úy Lê Hữu Quế đưa đồng bào di tản về Sài Gòn









































































































