Ðại Hội 18 của Ðảng Cộng Sản Trung Hoa


LTS – Thời sự dồn dập hàng ngày trên cả địa cầu có thể giúp chúng ta biết được rằng chuyện gì đang xảy ra trên thế giới. Tuy nhiên, nhiều khi chúng ta không hiểu được vì sao lại xảy ra một biến cố như vậy, và hậu quả sau này sẽ ra sao… Cũng vì lý do ấy, nhật báo Người Việt mở thêm một tiết mục và lưu trữ trên trang mạng Người Việt Online để quý độc giả tham khảo. Ðó là mục “Hồ Sơ Người-Việt,” xuất hiện ngày Thứ Năm mỗi tuần, với nội dung trình bày khung cảnh khách quan của một vấn đề và, nếu có thể, một số dự báo về tương lai hầu độc giả khỏi ngỡ ngàng khi sự biến xảy ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả…


 


 


Hùng Tâm/Người Việt


 


Nếu không có gì thay đổi thì trung tuần tháng 10 tới, đảng Cộng Sản Trung Hoa sẽ tổ chức Ðại Hội Khóa 18. Nếu có trục trặc, mà e rằng có, người ta phải đợi đến thượng tuần tháng 11. Nghĩa là lãnh đạo đảng mất thêm hai tuần để thống nhất quan điểm.


Lý do trục trặc là 5 năm vừa qua, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc có quá nhiều đổi thay và gặp những thách đố mới. Vào dịp khác, “Hồ Sơ Người-Việt” sẽ nói về những thách đố mà thời sự hàng ngày đã có thể cho thấy.


So với đại hội trước, Ðại Hội 18 vào năm nay có tầm quan trọng 10 năm mới thấy một lần, vì đảng sẽ đề cử những người lãnh đạo cho thập niên tới và chuẩn bị tìm người cho thập niên sau đó. Giới quan sát Trung Quốc gọi đó là “Thế hệ lãnh đạo thứ năm.” Thế hệ sẽ giải quyết những thách đố mới và chuyển giao cho thế hệ thứ sáu, sẽ lãnh đạo từ năm 2022 trở đi, nếu như đảng Cộng Sản vẫn tồn tại.


“Hồ sơ Người-Việt” tuần này mở đầu với chuyện thế hệ và nói về những đổi thay nhân sự trên thượng tầng đảng.


 


Năm thế hệ lãnh đạo


 


Quy ước thông thường của giới nghiên cứu về đảng Cộng Sản Trung Hoa định nghĩa như sau về các thế hệ lãnh đạo.


Thế hệ thứ nhất là những người đã trưởng thành và tham gia việc thành lập đảng năm 1921 và cuộc Vạn Lý Trường Chinh trong thập niên 1930. Họ lên lãnh đạo Trung Quốc từ 1949 đến 1976. Mao Trạch Ðông là người tiêu biểu.


Thế hệ thứ nhì là các đảng viên dưới quyền lãnh đạo của Mao đã tham gia kháng chiến chống Nhật (Thế Chiến II) và lên lãnh đạo khi Mao tạ thế, từ năm 1976 đến 1992. Khuôn mặt tiêu biểu là Ðặng Tiểu Bình và các “lão đồng chí” đã đẻ ra nhóm “Thái tử đảng” hiện nay.


Thế hệ thứ ba là những người trưởng thành thời nội chiến Quốc-Cộng và tham gia xây dựng Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc năm 1949, rồi lên lãnh đạo từ 1992 đến 2002. Giang Trạch Dân là người tiêu biểu cho thế hệ đó.


Cả ba thế hệ này đều có một đặc tính chung là “cách mạng” – chống ngoại xâm và xây dựng xã hội chủ nghĩa trong một chuỗi mưu thuật chính trị đầy chất gian hùng.


Khi nhìn lại thì từ Mao Trạch Ðông (1893-1976) qua Ðặng Tiểu Bình (1904-1997) đến Giang Trạch Dân (sinh năm 1926), lớp người lên lãnh đạo đều trải qua nhiều cuộc chính biến và thanh trừng đẫm máu trong đảng, từ những năm 1927 đến 1989. Như Giang Trạch Dân lên lãnh đạo khi Tổng Bí Thư Triệu Tử Dương bị cách chức rồi bị quản thúc tại gia năm 1989 (vụ thảm sát Thiên An Môn) cho đến khi từ trần năm 2005.


Giữ vị trí bản lề giữa ba thế hệ, Ðặng Tiểu Bình đã chứng kiến và vượt qua ngần ấy hoạn nạn. Ba lần bị “xuống chuồng bò,” nghĩa là hạ tầng công tác và bị giam lỏng, thậm chí bị truy lùng, mà ông vẫn vượt thoát và trở lại nắm quyền để đưa đảng và đất nước qua hướng khác.


Rút kinh nghiệm đó, Ðặng Tiểu Bình là người chọn Giang Trạch Dân cùng Kiều Thạch, Lý Bằng và Chu Dung Cơ lên cầm quyền. Cũng chính ông đã tuyển người sẽ lên lãnh đạo thuộc thế hệ thứ tư. Tiêu biểu nhất là đương kim Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào, sinh năm 1942, bên cạnh là Ngô Bang Quốc (1941), Ôn Gia Bảo (1942)…


Thế hệ thứ tư này là những người trưởng thành trong thời khủng hoảng của Trung Quốc là “Bước Nhảy Vọt Vĩ Ðại” (Ðại Dược Tiến, từ 1958 đến 1961) và “Cách Mạng Văn Hóa Vô Sản Vĩ Ðại” (Ðại Văn Cách, từ 1966 đến 1976). Ðộng lực kinh tế rồi chính trị của Mao đã gây biến động kéo dài nên ảnh hưởng đến tâm tư và cách ứng xử của họ. Là các kỹ thuật gia dè dặt, kín đáo, họ giữ nét chung là sự chừng mực. Nhưng nổi bật nhất là nỗi sợ hãi “cách mạng” – hiểu theo nghĩa phiêu lưu.


Thế hệ thứ năm là những người không nhớ hoặc không thể biết (vì sinh sau) những gian nan thời “dựng nước” là các biến cố trước 1949. Tuổi ấu thơ của họ còn bị vết hằn của Ðại Văn Cách vì đi chăn bò khi trường đóng cửa. Họ trưởng thành từ những năm 1970 về sau và tương đối có học hơn các thế hệ trước. Nét chung là nếu đa số thế hệ thứ tư là những người tốt nghiệp kỹ sư thì thế hệ thứ năm có nhiều người học luật, kinh tế, khoa học nhân văn và cả bang giao quốc tế.


Phó Chủ Tịch Tập Cận Bình (sinh năm 1953) và Phó Thủ Tướng Lý Khắc Cường (1955) thuộc vào thế hệ đó. Ðấy là hai người sẽ lên lãnh đạo Trung Quốc sau Ðại Hội 18. Vì sao người ta đoán như vậy?


 


Thường Vụ Bộ Chính Trị


 


Trên lý thuyết, lãnh đạo đảng là Ðại Hội Toàn Ðảng, năm năm tổ chức một lần. Sự thật lại là sự chọn lựa từ trên xuống chứ không từ dưới lên. “Dân chủ Tập trung” là vậy.


Tham dự đại hội là hơn 2400 đại diện của 80 triệu đảng viên. Ðại hội bầu ra Ban Chấp Hành Trung Ương gồm hơn 200 Ủy viên Trung ương và khoảng 170 Ủy viên Dự khuyết. Ban Chấp Hành bầu ra Bộ Chính Trị gồm 25 người, cao nhất bên trong là 9 người của Thường Vụ Bộ Chính Trị, và 6, 7 người trong Ban Bí Thư Trung Ương.


Thường Vụ BCT là cơ quan lãnh đạo tối cao sau khi tham khảo ý kiến của cả Bộ Chính Trị. Còn lại, chuẩn bị nghị trình thảo luận để quyết định là Ban Bí Thư. Sau thời Hồ Diệu Bang làm tổng bí thư (1982-1987), Ban Bí Thư này hết còn tầm quan trọng như xưa.


Do một quy luật bất thành văn của Ðặng Tiểu Bình, những người lãnh đạo phải về hưu ở tuổi 70. Sau đó, nhu cầu trẻ trung hóa đã hạ mức hồi hưu xuống 68 tuổi, và lần này có thể còn thấp hơn.


Do quy luật đó, 7 trong 9 người của Thường Vụ BCT hiện nay sẽ phải về hưu, hai người trẻ nhất còn lại là Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường. Họ sẽ lãnh đạo cùng các ủy viên Bộ Chính Trị hiện nay được nâng vào Thường Vụ. Như vậy, nếu Ðại Hội 18 quy định số ủy viên Thường Vụ vẫn là 9 người thì trên nguyên tắc có 7 cái ghế sắp trống. Từ mấy năm qua, mọi cuộc vận động, tranh thủ hoặc đấu tranh trên thượng tầng đều nhắm vào 7 chỗ trống này.


Nhưng quyết định chung cuộc vẫn do sự dồng thuận giữa 9 ủy viên được đưa vào Thường Vụ BCT qua các Ðại Hội 16 năm 2002 và Ðại Hội 17 năm 2007. Họ là những ai?


 


Thứ bậc bên trong


 


Thực ra, Thường Vụ BCT cũng có đẳng trật trong nội bộ. Báo chí quốc doanh có nhiệm vụ tôn trọng đẳng trật đó khi tường thuật. Muốn hiểu rõ về đẳng trật cao thấp và quyền uy thực tế của từng người khi họ chuẩn bị nhân sự lãnh đạo sau này thì ta còn phải hiểu thêm về cách tổ chức của đảng.


Trung Quốc có ba cơ chế lãnh đạo quan trọng nhất là đảng, nhà nước rồi tới quân đội.


Bên trong đảng thì đó là lần lượt Thường Vụ Bộ Chính Trị, Bộ Chính Trị và các ủy ban Trung Ương Ðảng mà họ gọi là Ủy Hội. Bên trong bộ máy nhà nước thì có 1) Ðại Biểu Nhân Dân (Quốc Hội), thường được gọi tắt là “Nhân Ðại,” mà thật sự lãnh đạo là Thường Vụ Quốc Hội, rồi 2) Quốc Vụ Viện (Hội Ðồng Chính Phủ) mà người cầm đầu là tổng lý, tức là thủ tướng, rồi 3) một cơ chế tư vấn gọi là Hội nghị Hiệp thương Chính trị, thường được gọi tắt là “Chính Hiệp.”


Cơ chế đảng và nhà nước cùng nhau lãnh đạo quân đội qua hai cơ quan có cùng tên, cùng thành phần nhân sự và cùng chức năng. Ðó là Trung Ương Quân Ủy Hội của đảng và của nhà nước. Tổng bí thư đảng, số một trong Thường Vụ BCT, là chủ tịch cả hai cơ quan cùng tên này, thường được gọi tắt là Quân Ủy, bên dưới mới là các tướng lãnh cầm đầu Bộ Quốc Phòng và quân đội. Chính cái thế hai mũ một chức vụ khiến quân đội và các tướng lãnh có ảnh hưởng chìm mà mạnh trong đảng và nhà nước mặc dù quân đội “phải nằm dưới sự chỉ huy của đảng.”


Ðại Hội 17 đã đưa 9 người lên lãnh đạo theo đẳng trật từ cao đến thấp sau đây:


1. Hồ Cẩm Ðào (1942), Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch hai Quân Ủy Trung Ương của đảng và của nhà nước.


2. Ngô Bang Quốc (1941), Bí thư đảng trong Thường Vụ Quốc Hội và Chủ Tịch Quốc Hội.


3. Ôn Gia Bảo (1942), Bí thư đảng trong Quốc Vụ Viện, tức là Tổng Lý Quốc Vụ Viện mà ta gọi là Thủ Tướng. Dù vẫn được thời sự nhắc đến hàng ngày, trong hệ thống đảng, ông này còn thấp hơn Ngô Bang Quốc.


4. Giả Khánh Lâm (1940), Bí thư đảng kiêm Chủ tịch Chính Hiệp, cơ quan tư vấn quy tụ các đoàn thể quần chúng do đảng lập ra và thực tế lãnh đạo, từ “mặt trận tổ quốc” đến công đoàn.


5. Lý Trường Xuân (1944), Trưởng ban Kiến thiết Tinh thần Văn minh của Trung ương đảng.


6. Tập Cận Bình (1953), Phó chủ tịch nước, Phó Chủ tịch hai Quân Ủy của đảng và nhà nước, Trưởng ban Bí Thư Trung ương và Giám đốc Trường đảng (Trung Ương Ðảng Giáo) cơ quan đào tạo 1.300 đảng viên ưu tú sẽ lên lãnh đạo sau này.


7. Lý Khắc Cường (1955), Phó Bí thư Quốc Vụ Viện nên cũng là Phó Thủ tướng.


8. Hạ Quốc Cường (1943), Bí thư (Trưởng ban) Kiểm Tra Kỷ Luật của Trung ương đảng.


9. Chu Vĩnh Khang (1942), Bí thư (Trưởng ban) Chính Trị và Pháp Luật Trung Ương.


Trong lối tổ chức này, người có nhiều quyền uy nhất phải lãnh đạo cả đảng, nhà nước lẫn quân đội. Kế tiếp là người của đảng có nhiệm vụ lãnh đạo Quốc Hội, sau đó mới là lãnh đạo Chính phủ và các đoàn thể quần chúng (Chính Hiệp).


Khi nhìn vào cách tổ chức, người ta cũng có thể thấy vai trò quan trọng của tư tưởng xuyên qua vị trí của nhân vật số năm, Lý Trường Xuân, ông ta chỉ đạo các ban tuyên truyền, huấn luyện và kiểm soát tư tưởng, truyền thông báo chí.


Song song, vai trò của Ban Kỷ Luật Trung Ương (Hạ Quốc Cường) cũng đáng kể vì có nhiệm vụ thanh lọc hàng ngũ đảng viên, và còn quan trọng hơn Ban Tổ Chức. Hạ Quốc Cường từng là Trưởng ban Tổ Chức trước khi Lý Nguyên Triều lên thay thế.


Sau cùng, trong hệ thống lãnh đạo, Chu Vĩnh Khang là người cuối bảng, cầm đầu Ban Chính Pháp với nhiệm vụ chỉ đạo hai bộ máy nội vụ (Bộ Công An) và an ninh (Bộ An Toàn Quốc Gia). Bộ Công An chỉ huy lực lượng cảnh sát, có võ trang hay không, và Bộ Quốc An chỉ huy hệ thống tình báo, an ninh và phản gián. Chu Vĩnh Khang là bộ trưởng Công An từ 2002 đến 2007 và đang bị dính líu đến việc nâng đỡ hoặc bênh vực Bạc Hy Lai.


Chín người trong Thường Vụ Bộ Chính Trị này phải dàn xếp để chọn trong số ủy viên Bộ Chính Trị còn lại những ai sẽ lên kế vị. Ngoài Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường, các nhân vật có triển vọng hiện nay là Trưởng Ban Tổ Chức Lý Nguyên Triều (1950), Bí thư Quảng Ðông Uông Dương (1955), Ủy viên Quốc vụ viện kiêm Phó Thủ tướng Vương Kỳ Sơn (1948), Trưởng ban Tuyên Truyền Lưu Vân Sơn (1947), Phó Thủ tướng Trương Ðức Giang (1946), người vừa thay Bạc Hy Lai làm Bí thư Trùng Khánh.


Ngoài ra, cũng có chút hy vọng là Lưu Yến Ðông (1945) Ủy viên Quốc vụ viện kiêm Phó Chủ tịch Hiệp Chính – phụ nữ duy nhất trong Bộ Chính Trị – kế đó là Trương Cao Lệ (1947) Bí thư thành phố Thiên Tân, hay Ðại tướng Từ Tài Hậu (1943), Phó Chủ tịch Quân Ủy Trung Ương, sĩ quan duy nhất trong Bộ Chính Trị hiện nay.


Nếu nhớ lại tiêu chuẩn về hưu là 67 hay 68 tuổi thì ai sinh vào quãng 1944 coi như ít hy vọng (Từ Tài Hậu và Lưu Yến Ðông) và nếu có thì chỉ được một nhiệm kỳ, đến Ðại Hội 19 vào năm 2017 là phải đi (Trương Ðức Giang, Trương Cao Lệ hay Lưu Vân Sơn). Chi tiết đó nói lên một khía cạnh khác: việc quy định tuổi tác có thể là yếu tố đấu tranh.


Sau khi mô tả hệ thống tổ chức, vào một kỳ sau, “Hồ Sơ Người-Việt” giới thiệu tiếp các phe phái trong trận, như “Thái tử đảng,” “Ðoàn phái,” “cánh Thượng Hải” và “Thái thượng hoàng,” các lãnh tụ đã hoặc sắp về hưu như Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Ðào. (HT/NV)

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT