Tác giả: Nguyễn Quang Đức
Biển, sóng, bóng đêm, bão tố và những con thuyền mỏng manh bao bọc cho những thuyền nhân tạo thành một bức tranh thật sống động nhưng đầy kinh hoàng cho thảm kịch vượt biển trốn khỏi ách tù đày, bắt bớ và hành hạ của chế độ hà khắc của cộng sản.
Tháng tư năm 1975, người Việt Nam mất hết tự do của một con người ngay tại đất nước mà họ đang sống. Tháng tư năm 1979, tôi bỏ xứ ra đi, lênh đênh trên con thuyền nhỏ khi tuổi đời còn non nớt.
Quay về những ngày tháng cũ …
Một ngày tháng 4 năm 1979, Mẹ tôi ngậm ngùi hỏi:
– Con có muốn đi vượt biên với Đạt không? Con ở lại sẽ không có tương lai. Nếu gia đình đi cùng một chuyến mà không thành thì tài sản của mình sẽ mất hết tất cả. Hai con đi trước rồi Ba Mẹ và em sẽ tìm cách vượt biên đi sau. Gia đình mình sẽ gặp nhau ở đảo tỵ nạn.
Tôi phân vân vô cùng. Cả gia đình đã tìm cách vượt biên trước đây không lâu nhưng thất bại. Sau đó, Ba tôi đã đặt cọc rất nhiều mối nhưng cũng chẳng đi đến đâu. Chuyến này cơ hội thành công rất lớn do một người đáng tin cậy trong xóm tổ chức và họ đã lên kế hoạch thực hiện từ nhiều tháng trước. Nhưng chỉ còn hai chỗ trống! Tôi biết Mẹ tôi đã rất là đau khổ cho tôi sự lựa chọn đó. Em tôi thì còn quá nhỏ. Còn người anh lớn nhất của tôi đã qua Mỹ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 cùng với gia đình người cậu. Do được trấn an trước sau gì gia đình cũng được đoàn tụ và do định mệnh an bài, tôi đã ngập ngừng xin được đi chung với người anh kế. Mẹ tôi đã rơi lệ khi nghe tôi muốn được đi trong chuyến này.
Ba tôi đã sắp xếp thật chu đáo cho hành trang của anh em chúng tôi. Ông bắt chúng tôi phải học thuộc địa chỉ của người anh đang sống bên Mỹ và viết địa chỉ của từng người quen sống bên Canada, Pháp và bên Úc lên trên miếng vải nhỏ. Ông cũng không quên viết cả tên thuốc trị đau bụng, tiêu chảy và thuốc muối lên trên một tờ giấy cho chúng tôi biết cách sử dụng của từng loại thuốc mang theo phòng thân. Ông còn nghĩ được một điều mà sau này đã giúp chúng tôi đỡ gian nan khi tới đảo: bỏ tiền đô la và giấy tờ quan trọng thành cuộn nhét vào hai ống thuốc “Optalidon”, xong bỏ hai ống tiền này vào đáy bình bi đông nước, loại quân đội Việt Nam Cộng Hoà thường dùng, và tìm cách giữ những ống tiền này lại dưới đáy bình. Trước đó, ông đã mua một bình nước mới bằng nhôm và đổi lấy bình nước cũ giống tương tự của người đạp xích lô để tránh sự chú ý. Mẹ tôi còn nấu nước mắm kho quẹt đầy lon ghi gô gởi cho người chủ tàu giữ cho chúng tôi.
Ngày học cuối tại trường trung học Petrus Ký, tôi đã không tiết lộ tin tức vượt biên cho bất cứ một ai biết. Tôi nhớ năm đó làn sóng vượt biên đã khởi đầu ào ạt và biến thành một phong trào. Bạn bè tôi người nào cũng xôn xao nói nhỏ cho nhau nghe về những mối đi “bán chính thức” (đi theo giấy tờ của người Việt gốc Hoa) hay “đi chui”. Có người còn hỏi tôi nếu có mối nào thì cho biết. Tôi đã từng đi vượt biên hụt một lần sau khi đến bến xe lửa ngồi chờ Ba Mẹ tôi cả ngày trời. Lần đó cũng ngay ngày đưa đám tang cố nghệ sĩ Thanh Nga, và gia đình tôi đã thất thểu trở về. Do đó, lần này tôi cũng không chắc là mình có đi được thành công hay không và cũng không dám tâm sự với một ai. Tối hôm trước ngày đi, với sự suy nghĩ non choẹt, tôi đã âm thầm đạp xe đạp tới nhà một người bạn thân nhờ trao lại sách vở cho vị thầy chủ nhiệm vì không muốn thầy phải đền tiền sách và từ giã người bạn quen từ lớp 9. Rất may là người bạn này giữ kín bí mật cho đến khi tôi đã rời khỏi. Sau này khi Ba tôi đến trường thông báo là tôi đã bỏ nhà ra đi không hay biết thì thầy chủ nhiệm chỉ cười và cầu chúc cho tôi sớm được tới bến bờ tự do. Một người bạn thân khác cũng đến nhà tìm tôi và xin hình ảnh cũ của tôi để lưu niệm.
Ngày từ biệt Ba Mẹ và em đã tới. Mẹ tôi đã ôm chầm lấy anh em tôi mà khóc trong khi đứa em lên bẩy tuổi đứng ngó không biết vì sao. Mẹ tôi phải nói với đứa em rằng hai anh đi chơi xa mai mốt mới về. Tôi ngậm ngùi nhìn Ba Mẹ và em tôi lần cuối trước khi rời xa căn nhà trong khu phố Tân Định, rời xa mái ấm gia đình nơi có vòng tay bảo bọc, che chở của mẹ cha và bữa cơm gia đình nồng ấm. Tôi sẽ không thể chở em tôi đi học hay ra tháp Con Rùa ăn kem. Tôi sẽ không thể chạy ra chợ Tân Định mua bánh mì hay đồ ăn điểm tâm mỗi sáng cho Mẹ tôi. Tôi sẽ không có dịp pha ly nước chanh hay bưng ly nước đá mỗi khi Ba tôi đi làm về. Tôi nhìn lại con hẻm thân thương còn in hằn dấu vết của những trò chơi trẻ con hồn nhiên như tạt lon, vít hình, chọi hình, bắn đạn vòng hay ném banh lỗ. Tôi sẽ phải rời xa tuổi thơ để đi vào phương trời vô định. Đó là ngày 22 tháng 4 năm 1979.
Ra đến bến xe, hai anh em tôi ngồi chờ xe để đi xuống Cà Mau với lòng buồn rười rượi. Bóng chiều tà ngả dần và chiếc xe tải thật lớn cuối cùng đã đến. Hai anh em tôi leo vội lên xe và ẩn núp đằng sau các kiện hàng lớn để khỏi bị công an xét giấy tờ. Xe chạy qua đêm và đến thành phố Cà Mau chiều hôm sau. Đến thị xã Cà Mau, chúng tôi tạm trú ngụ tại một sân vận động để chờ mọi người trong đoàn đến đông đủ.
Do đã hoạch định kế hoạch vượt biên kỹ lưỡng trước đây, một vài người trong đoàn đã xin “hộ khẩu” để được phép sinh sống và đánh cá tại Cà Mau trước đó cả mấy tháng trời để thăm dò tình hình và chuẩn bị máy móc, xăng dầu và thực phẩm cho cuộc lữ hành vô định này. Vì vậy, họ đã sinh sống, hòa nhập vào cư dân địa phương để không tạo sự nghi ngờ và chờ những người còn lại từ Sài Gòn xuống. Cuối cùng tàu cũng được công an địa phương cấp giấy phép ra biển đánh cá lần đầu. Chúng tôi đi theo đoàn mua vé qua phà để đến một cái cồn nhỏ nơi thuyền đang bỏ neo. Do thấy bộ dạng trắng trẻo thành phố của chúng tôi, một người cư dân địa phương trên phà sinh nghi hỏi dò chúng tôi đến thăm ai ở vùng này. Chúng tôi đành phải trả lời ỡm ờ đi thăm một người bà con để cố né tránh cho lẹ. Rất may, người hỏi thấy chúng tôi ngơ ngác, tội nghiệp nên họ cũng giả vờ bỏ qua mà không hỏi tiếp. Xuống phà, chúng tôi đổ bộ xuống vùng nước lợ với những rễ cây đước mọc lên trên mặt nước. Mưa tầm tã rơi. Chúng tôi lội trong sình đến một gò đất cao để đi đến thuyền. Lần đầu tiên tôi thấy được những con chim thật lạ với màu sắc thật rực rỡ. Lên tàu, chúng tôi phải chun vội vào trong vách ngăn cách thuỷ, và hai anh tàu công và thợ máy lẹ làng dùng keo trét tàu bịt kín xung quanh thành khung cửa. Cả mười một người ngồi bó gối hay nằm chồng lên nhau trong một khoảng cách thật chật hẹp và ngột ngạt, khó thở. Không lâu, tên công an lên trên tàu xét. Thấy không có gì đáng nghi, hắn trở lại tàu tuần tiễu sau khi xem qua giấy phép hợp lệ và nhìn thấy đầy đủ dụng cụ, lưới ra khơi đánh bắt cá của tàu. Chờ một hồi lâu khi tàu của tên công an rời đi, các anh thanh niên mở vội cửa vách cho chúng tôi chui ra. Thật dễ chịu làm sao! Đó là ngày 26 tháng 4 năm 1979.
Thuyền của chúng tôi gồm 15 người và dài hơn 10 mét. Gia đình bác Vương Đắc Thành, chủ tàu, có 9 người, và trong đó có ba người con gái (?, Trinh, Thuý) và bốn trai (Tòng, Tuấn, Thắng, Triết). Hai anh tài công và thợ máy, một người tên Tuấn và một người tên Dũng, còn trẻ và thân thiện. Một gia đình bà con của chủ tàu gồm hai cậu cháu, cậu Tài và anh Hùng, ở đối diện nhà tôi. Hai anh em chúng tôi làm quen rất nhanh với anh Tuấn và anh Dũng. Vì thuyền nhỏ nên anh em chúng tôi sinh hoạt trên boong tàu để nhường chỗ có mái che cho các chị gái. Thuyền có lắp thêm máy đuôi tôm để đề phòng khi máy chánh bị hỏng. Thức ăn chính hằng ngày của chúng tôi là cơm trắng và khô cá. Nước uống thì chúng tôi có đầy đủ và dư dả để dùng. Phía đàng sau con thuyền còn có một ô vuông che bằng bốn vách gỗ làm nơi đi vệ sinh thẳng xuống biển.
Những ngày đầu lênh đênh trên biển thật dễ chịu vì biển êm, không có những cơn sóng lớn. Ban ngày, chúng tôi thấy được những đàn cá heo bơi theo tàu hay những con rắn biển trồi lên mặt nước để thở. Chúng tôi còn thấy được các đàn cá chuồn có vi giống như đôi cánh bay hay những con sứa biển với thân mình trong suốt. Có lần chúng tôi thấy được cả bầy cá mập nổi lên mặt nước ở một khoảng cách xa với những cái kỳ tam giác dựng đứng lên. Ban đêm, nằm trên boong tàu, lặng ngắm nhìn các tinh tú trên trời nhấp nháy hay theo dõi các làn sóng bạc đầu vỗ vào mạn thuyền, chúng tôi cảm thấy tâm hồn mình thật tĩnh lặng, bình an và cảm nhận được sự nhỏ bé, mỏng manh của con người trước sự bao la, vô tận của biển cả. Chúng tôi đã nằm ngủ như vậy trên biển cả, giữa bầu trời đầy sao và hứng những cơn gió mát ru say vào giấc nồng. Thật êm ả, thú vị và tưởng chừng như chúng tôi đang sống trong một giấc mơ thật đẹp hay đang lạc vào một câu chuyện thần thoại nếu như không có những điều ghi sau xảy ra!
Sáng sớm 30 tháng 4, từ đàng xa, chúng tôi thấy được bóng dáng của một chiếc tàu thật lớn đang trờ tới. Mọi người trong tàu đều hớn hở và reo vui! Chúng tôi sắp được cứu rồi! Mọi người đều vẫy tay. Có người cầm bảng “S.O.S” kêu cứu. Tàu đến càng ngày càng gần. Chúng tôi thấy chúng là những tên ngư phủ Thái Lan đen đủi với ngực trần lực lưỡng. Cậu Tài giỏi tiếng Anh nên đánh tiếng cho biết chúng tôi là dân tỵ nạn và xin họ cứu lên tàu. Bên tàu Thái Lan, bọn chúng bằng lòng đưa chúng tôi đến trại tỵ nạn Mã Lai và kêu chúng tôi đem hết tài sản lên vì sẽ bỏ thuyền. Chúng ra điều kiện trao đổi với chúng tôi bằng một số Mỹ kim và hiện vật. Sau khi đã đạt được thoả thuận, chúng cho người xuống cột tàu của chúng tôi với tàu của chúng. Các anh trong tàu đục vách ngăn mang hành lý dấu bên trong ra. Người nào người nấy đều khệ nệ khiêng của cải cá nhân mang theo của mình và vội vàng bám thang dây leo lên tàu bọn chúng. Khi mọi người lên được đầy đủ trên boong tàu, bây giờ chúng mới lộ nguyên hình là bọn hải tặc. Chúng dùng dao hăm doạ bắt mọi người phải đưa hết vàng bạc, tài sản quý giá cho chúng. Chúng tách riêng từng người một và bắt đầu lục soát khắp người. Riêng tôi, do Ba tôi dặn phải mặc nhiều bộ đồ trên người đề phòng khi mất quần áo mang theo còn có đồ trên người, bị bắt cởi đồ. Chúng lấy đi bóp giấy tờ, cà rá, dây chuyền vàng và cả chiếc đồng hồ Omega tôi đã xin Ba tôi trước khi đi để làm kỷ niệm. Riêng cái bình bi đông đựng nước cũ kĩ của tôi bị chúng ném qua một góc. Chúng lấy cả tube kem đáng răng có nhét tiền bên trong và toàn bộ thuốc men đem theo của chúng tôi. Tất cả chúng tôi đều bị lừa nên đều mất gần như trọn vẹn. Rất may là bọn này chỉ cướp tài sản mà không giết người hay quăng đàn ông xuống biển. Cướp xong, bọn chúng thả chúng tôi xuống thuyền.
Chúng tôi trôi dạt không lâu thì gặp chiếc tàu Thái Lan thứ hai. Chúng cũng lục soát nhưng chúng tôi chẳng còn gì quí giá để lấy. Tên cướp người Thái khám xét anh tôi do thấy nét mặt người anh lộ vẻ đau đớn vì đang bị cơn đau bụng hành hạ nên hắn động lòng hỏi thăm và còn quay trở lại, đem cho anh tôi một chai dầu để thoa. Cũng giống như lần trước, chúng thả chúng tôi đi. Ít lâu sau, ba chiếc tàu hải tặc khác bu lại và tình thế thật nghiêm trọng. Bọn chúng dữ dằn và hành động man rợ hơn. Chúng nhảy xuống tàu chúng tôi. Chúng sờ mó các chị gái trong tàu, giả vờ như lục soát tìm vàng bạc. Các anh trong tàu đứng ngoài phải dặn đừng phản kháng mạnh và cứ thây kệ để thoát hiểm. Đồ đạc của chúng tôi bị lục tanh bành. Chúng cũng lấy đi máy đuôi tôm. Một điều kỳ diệu như một phép lạ xảy đến! Tàu thứ hai quanh trở lại tiếp cứu. Người thuyền trưởng mặc đồ đen, cầm khẩu súng M16 trên tay và ra hiệu cho bọn chúng bỏ đi. Bọn cướp vẫn bất tuân và coi thường. Vị thuyền trưởng lắp đạn và hướng mũi súng vào bọn cướp. Lần này bọn hải tặc hốt hoảng nhảy xuống biển và bơi về tàu của bọn chúng nhưng chúng vẫn chưa chịu buông tha cho chúng tôi. Cả tàu khẩn cầu vị thuyền trưởng xin cứu giúp chúng tôi và được vị này ưng thuận! Chúng tôi thật rất may mắn thoát qua kiếp nạn này! Nếu không có tàu thứ hai đến kịp lúc, chắc hẳn ba cô gái sẽ bị bắt đi hay bị hãm hiếp!
Những người trên tàu thứ hai thòng thang dây cho chúng tôi leo lên tàu. Chúng tôi được đối đãi tử tế ngoài sức tưởng tưởng. Họ cho chúng tôi ăn cơm gạo trắng với cá kho kiểu Thái. Người cho anh tôi chai dầu thoa lúc trước ngoắt tay, ra hiệu kêu anh tôi lên phòng lái. Anh tôi đến gặp mặt vị thuyền trưởng và mới biết người cho dầu là vị chỉ huy phó của tàu. Vị thuyền trưởng, một thương gia gốc Tàu đang có một thương vụ trong vùng, đã cho thuốc và chăm sóc anh của tôi thật chu đáo. Ông còn cho biết tàu của chúng tôi là tàu thứ hai được họ cứu và việc cướp bóc không phải là hoạt động chính của họ. Ông còn nói sơ qua cho anh tôi biết về những hành vi cướp bóc thật kinh hoàng của các bọn hải tặc khác mà ông đã từng biết qua, kể cả việc rạch mặt nạn nhân làm dấu! Sau bữa cơm chiều, ông chỉ huy phó người Thái đến thông báo với chúng tôi về việc ông thuyền trưởng người Tàu muốn giữ anh tôi lại trên tàu. Chúng tôi vô cùng kinh ngạc và cố gắng giải thích cho ông biết đây có thể là do sự hiểu lầm chớ anh tôi không có ý định và cũng không thể ở lại với họ được. Sau đó, chúng tôi đã gấp rút nói cho anh tôi biết tin để anh tôi kịp thời đến gặp hai người chỉ huy giải thích cho rõ sự việc. Qua câu chuyện anh tôi thuật lại, hai ông muốn giữ anh tôi lại để sau này phụ trông coi việc trên tàu hoặc theo ông chỉ huy người Tàu qua Hongkong sinh sống mà không phải đi cướp. Anh tôi cố gắng trình bày hoàn cảnh chỉ có hai anh em đi chung với nhau nên không thể đi như vậy được. Sau một hồi lâu thuyết phục anh tôi không được, họ cuối cùng đồng ý sẽ không giữ anh tôi lại nữa. Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm!
Trước khi từ giã các vị ân nhân để về tàu của mình và tiếp tục cuộc hành trình thì, từ ngoài xa, chúng tôi phát hiện ra có một chiếc tàu cướp khác đang lảng vảng trong vùng, chờ chực cơ hội. Chúng tôi khẩn cầu ông thuyền trưởng liên lạc với chiếc tàu đó để khiến họ từ bỏ ý định đánh cướp chúng tôi. Nghe xong, ông ta chỉ mỉm cười và bước vào phòng lái. Một lúc sau, ông trở ra và kêu anh tôi và một anh nữa trong nhóm chúng tôi (anh Tuấn, thợ máy) để trao cho một bức thư với lời căn dặn: “Hễ gặp bất cứ chiếc tàu cướp nào của Thái Lan, cứ đưa bức thư này ra sẽ được trợ giúp còn cướp nước khác thì không có kết quả.” Vì biết chúng tôi không còn tiền nên ông đã đưa cho anh tôi US $500 để giúp mọi người có lộ phí. Ông chỉ huy phó còn cho thêm anh tôi một bọc thuốc men gồm đủ loại và căn dặn về cách sử dụng. Giống như một huyền thoại về Robinhood, ăn cướp mà lại cho tiền và còn có lòng nhân! Sau đó, ông thuyền trưởng ra lệnh thuộc hạ cho chúng tôi thực phẩm và nước uống và tiễn chúng tôi đi.
Chúng tôi đi được một lúc thì tàu hải tặc thứ sáu kéo đến. Chúng nhẩy xuống tàu đàn áp mọi người. Cậu Tài đưa tờ giấy của vị thuyền trưởng cho một đứa trong bọn coi trong khi mấy đứa còn lại vơ vét. Tên này coi qua loa rồi lại nhập vào đồng bọn lục soát chúng tôi. Chúng tôi gấp rút đưa bức thơ đến một tên lớn tuổi hơn. Tên này đọc qua và cầm tờ giấy trình tên chủ chốt của bọn chúng đọc. Lần này, bọn cướp được lệnh buông tha chúng tôi và trả lại một số đồ dùng cần thiết. Vì vị thuyền trưởng viết bằng tiếng Thái nên chúng tôi không biết ông nói gì trong thơ nhưng, theo sự suy đoán của chúng tôi, ông ắt phải có một vai trò gì đó rất quan trọng và rất có thế lực đối với hải tặc Thái Lan để chúng tuân phục. Sau này khi đến được đảo Air Raya, Indonesia, cậu Tài đã đưa bức thơ này đến một ông làm việc trong Liên Hiệp Quốc. Chúng tôi rất tiếc không hiểu nội dung của bức thơ và không có cơ hội trả ơn cho vị ân nhân cứu mạng cho chúng tôi. Đúng là trong đám cướp cũng còn có người có từ tâm!
Ngày 1 tháng 5, thuyền chúng tôi vào hải phận Mã Lai. Chiếc hải quân tuần tiểu mang bảng số P3540 bắt chúng tôi dừng lại. Chúng dùng loa phóng thanh cho biết chúng tôi không được phép vào lãnh hải của Mã Lai vì nước của họ không muốn tiếp nhận thêm thuyền nhân tỵ nạn cộng sản. Họ cảnh cáo cho chúng tôi biết đây là chuyến cuối cùng họ sẽ không đánh thuyền nhân và muốn chúng tôi khi đến đảo phải cho mọi người biết. Họ sẽ kéo thuyền của chúng tôi ra hải phận quốc tế hướng về Indonesia. Họ cung cấp thêm cho chúng tôi dầu, gạo và nước bằng cách chuyền đồ xuống. Trong thời gian chờ đợi kéo đi, chúng tôi thấy có thêm 3 thuyền tỵ nạn đồng hoàn cảnh với chúng tôi.
Tối 1 tháng 5, trời gầm thét và biển động. Những con thuyền nối đuôi với nhau qua những sợi dây thừng đập vào nhau, tròng trành. Thêm vào sức kéo quá mạnh của tàu hải quân và những cơn sóng dữ, các thuyền tỵ nạn mỏng manh đặt trong sự căng thẳng, vỡ tan lúc nào không hay! Thuyền của chúng tôi bị hư máy và các dụng cụ sửa chữa đều bị hải tặc lấy đi trước đó. Nước biển do sóng tạt vào thuyền càng ngày càng nhiều. Thuyền vô nước. Các anh lớn và anh tôi phải phụ tạt nước ra ngoài. Mọi người đều cầu nguyện theo tôn giáo của mình. Chúng tôi van xin hai trong ba chiếc tàu cho chúng tôi ở tạm nhưng đều bị họ từ chối một cách thô bạo và đe dọa giết chết! Chiếc tàu còn lại trờ tới, tìm hiểu sự tình. Do sự thuyết phục của chúng tôi, ông Năm, một ngư dân Cà Mau và cũng là người chủ tàu Lợi Thành 838, cho một người trong chúng tôi được phép nhảy qua để trình bày. Chúng tôi nhân cơ hội đánh liều nhảy qua hết, mặc cho sự la hét, phản đối của họ! Đêm tối với sóng biển thật cao đánh ầm ầm vào mạn thuyền và mưa rơi. Bóng đêm đen ngòm thật dễ sợ với những vùng nước xoáy! Chỉ cần sơ suất lọt xuống biển là lại có thêm một vong hồn nơi biển Đông! Rất may mắn, chúng tôi lại thoát hiểm thêm một lần nữa.
Thuyền chúng tôi nhảy qua có 14 người và họ đều là những ngư phủ chánh thống và chất phác. Sau khi bàn bạc với nhau, hai bên đồng thuận cắt dây tháo chạy. Hai thuyền còn lại cũng bắt chước cắt dây. Thế là ba con thuyền trở thành ba cái chấm giữa biển cả mênh mông. Hơn một giờ sau, tàu hải quân nhờ radar đã ra tín hiệu cho tàu tuần dương P3509 bắt chúng tôi lại và bắn chỉ thiên áp lực để cho hải quân Mã Lai tiếp tục kéo tiếp đến hải phận Indonesia. Nếu không họ doạ sẽ bắn cho tàu chìm. Lúc này, chúng tôi được biết hai tàu còn lại đã mất tích ngoài vòng radar và có thể đã bị chìm trong đêm biển động! Đến sáng ngày 2 tháng 5, gần đến hải phận Indonesia, tàu hải quân Mã Lai bỏ dây kéo và thả chúng tôi đi. Chúng tôi đi sâu vào hải phận Indonesia và gặp một ghe đánh cá của Indonesia. Chúng tôi tặng cho người ngư phủ một chiếc đồng hồ cũ còn dấu lại được để nhờ chỉ dẫn lộ trình đến đảo tỵ nạn. Tối hôm đó chúng tôi đến gần gần thị trấn Letung thuộc đảo Kuku nhưng sợ đụng đá ngầm nên không vô vội. Hai anh em chúng tôi bàn nhau việc lấy tiền dưới đáy bình bi đông nước và cho một số người trong tàu mượn. Đến 10 giờ sáng ngày 3 tháng 5, chúng tôi vô bờ. Bao ngày sống trên tàu nên khi bước chân xuống đất liền chúng tôi cảm giác bị lắc lư, lâng lâng. Chúng tôi ghi danh tỵ nạn với lính địa phương và ngủ tạm ngoài hành lang. Số thuyền ghi danh của chúng tôi là 838, lấy từ tàu mới.
Ngày 4 tháng 5, chúng tôi được chuyển tới đảo Air Raya, một đảo dành cho tỵ nạn gần đảo Kuku. Khi đến gần bờ, chúng tôi đã thấy một số người tỵ nạn, tốp đầu tiên đặt chân đến đảo, đến trước ra trông ngóng người quen. Họ hỏi han chuyến hành trình của chúng tôi và kể sơ qua về chuyến vượt biên hãi hùng của họ. Một số khung nhà sát bên bãi biển với 4 vách trống trải và chỉ có mái tranh che trên đầu đã được lính Indonesia/thổ dân dựng lên và bán với giá $50 cho những ai muốn mua. Chúng tôi dùng tiền của vị thuyền trưởng tốt bụng cho để mua một căn gần sát bên một dòng suối chảy ra biển. Sáng ngày hôm sau, chúng tôi lên rừng thu lượm cũi, nhánh cây, và các anh lớn thì tìm lá tranh để đan thành các tấm phên che vách. Sau đó, các anh nới rộng căn chòi để làm thêm một phòng bếp và đặt các khung giường ngủ đóng bằng những nhánh cây.
Đảo Air Raya trước đây gần như hoang đảo chỉ có những ngư dân địa phương thỉnh thoảng ghé qua nên còn rất là hoang dã. Nếu đến đây mà không phải mang tâm trạng bấp bênh của một thuyền nhân tỵ nạn với tương lai vô định hay không biết trước được thời hạn sẽ được một quốc gia thứ ba cưu mang thì chốn này quả thật giống như một thiên đường với chim chóc ríu rít, suối nước uốn lượn và những hàng dừa đầy trái. Nơi đây, tôi còn thấy cả những con sóc bay với những màng da nối vào chân giống y như đôi cánh. Lần đầu tiên, tôi được tận mắt thấy con kỳ đà thật lớn, trông giống như một con cá sấu.
Chúng tôi được phát phiếu lương thực và lãnh mỗi người một lon rưỡi gạo và, thay phiên, với bữa thêm được trứng hoặc nước tương hay dầu ăn hay cá ngừ. Nhờ bác Thành gái nấu ăn khéo và biết chế biến cá ngừ thành chà bông nên chúng tôi ăn đỡ ngán. Ngày nơi đây thật dài với những lần mong đợi người thân từ ngoài khơi. Số nhà tranh xây cất ngày một đông vì số người ào ạt tới càng nhiều. Tắm rửa, giặt giũ và nước uống đều lấy từ một con suối. Để có nguồn nước sạch, các anh trong nhóm chúng tôi phải đào giếng sâu hơn ba thước. Việc vệ sinh vì lúc đầu thiếu tổ chức nên mọi người đều lên rừng tìm những bụi cây hay tìm những ghềnh đá. Dần dà, ruồi càng ngày càng nhiều và bệnh tật từ đó mà lây truyền. Anh em tôi lần lượt bị bệnh kiết lỵ. Thuốc men đem theo của chúng tôi bị mất hết, và, cũng may, chúng tôi gặp được chú Duật, một người bạn của ba chúng tôi và cũng là kỹ sư công chánh, và chị Cẩm Hương, một người bà con, để xin thuốc. Sau đó, chúng tôi phải qua Letung để được chích và xin thuốc không tốn tiền nhưng phải tốn tiền đò khoảng 200 rupee cho hai chuyến đi và về. Một đô la lúc đó đổi được 520 rupee. Người đại diện đảo Air Raya lúc đó là ông Lê Quan Tự.
Phái đoàn Liên Hiệp Quốc sau cùng đã lập một văn phòng trên đảo lo việc tỵ nạn. Mọi người đều vui mừng và đem thơ tay nhờ họ gởi đến những người thân tại các nước trên thế giới. Rất là cảm động khi thấy những người trong phái đoàn Cao Ủy vẫn kiên nhẫn chờ người tỵ nạn lội ra biển với những bức thơ trên đầu vào phút cuối đưa cho họ mặc dù họ đã ra tàu để chuẩn bị đi. Cậu Tài cũng đánh được điện tín gởi về người thân bên Pháp để nhắn tin cho gia đình bên Việt Nam. Ba Mẹ của chúng tôi cũng được biết tin anh em tôi tới đảo an toàn qua bác Vương Đắc Hoa, người hàng xóm ở nhà đối diện và cũng là người đã tổ chức và lo lót công an điạ phương cho chuyến vượt biên.
Việc ăn uống bắt đầu ổn định. Bữa ăn của chúng tôi có thêm canh rau muống, mì căn, cá kho, cá chà bông hay chả cá chế biến từ cá ngừ được phát thay phiên cách hai hay ba ngày. Sáng chúng tôi được ăn cháo đậu xanh đường hoặc xôi đậu xanh hay khoai mì. Chúng tôi phải mua thêm gạo giá 5000 rupee một bao 60 kí lô do các chị gái làm quen tên Indonesia phát gạo để được giá rẻ. Giá bên ngoài là 200 rupee một kí lô gạo. Giá sinh hoạt lúc đó: 300 rupee một hộp sữa bò, 50 rupee một gói bánh mì sandwich, 50 rupee một miếng mì căn, 100 rupee cho một xâu khoai mì 3 củ lớn và 100 rupee cho ba bó rau muống. Người Việt Nam qua đây bắt đầu buôn bán từ chè đến xôi, khoai, đồ hộp, bánh bao, bánh nhân đậu xanh và làm cả bánh mì (50 rupee một ổ) từ lò bánh mì tự chế còn thô sơ. Sáng sớm, ngư dân Indonesia đem bán những xâu cá câu được, và dân chúng chờ chực, tranh giành nhau mua. Do vậy, một xâu cá khoảng 4 con được tăng giá lên 500 rupee. Dần dà, một số người Việt Nam còn giữ được lưới cá đem qua đã dùng nó làm phương tiện bắt cá sinh sống. Vì ở đây gần như hoang đảo nên cá và sò rất lớn. Có lần chúng tôi thấy hai người thanh niên dùng đòn khiêng một con cá bóng mú dài gần hai thước. Lần khác, chúng tôi thấy họ bắt lên một con hào khổng lồ mà vỏ của nó, một vòng tay ôm không hết, được dùng làm thau rửa chén. Chúng tôi cũng có dịp được ăn cá nhám và cá đuối, những loại cá mà trước đó chúng tôi chưa từng ăn qua. Đời sống trên đảo nếu không có tiền thì sống rất là chật vật, thiếu thốn. Khổ sở nhất là ban đêm đi dọc theo bãi biển, bụng đói mà phải ngửi vào mùi thơm của thức ăn từ các quán dã chiến. Nghĩ lại, nhờ sáng kiến của Ba chúng tôi mà đời sống của chúng tôi đã rất dễ chịu so với biết bao người bất hạnh khác! Nhưng chúng tôi cũng phải dè sẻn vì không biết đến khi nào mới gặp được phái đoàn phỏng vấn.
Những ngày tháng trên đảo thật dài và gần như đồng điệu. Chúng tôi học thêm Anh văn, đánh cờ tướng, tắm biển, mỗi ngày ngóng trông tin tức người thân và chờ phái đoàn Cao Uỷ Tỵ Nạn đến phỏng vấn. Không người nào biết trước ngày được đi định cư sang nước thứ ba. Tâm trạng ai nấy đều lo âu, bồn chồn và nhớ nhà ray rức! Ban đêm đi luồn lách qua những lối đi chật hẹp và những quán cà phê dựng lên với tiếng nhạc bi ai của ca sĩ Khánh Ly, Thái Thanh và Lệ Thu ca về quê hương và cuộc chiến khiến cho biết bao người nhỏ lệ. Màn đêm, ánh đèn dầu leo lét, tiếng khóc nức nở của biết bao người nhớ nhà hay mất người thân trên đường vượt biên càng tăng thêm sự u buồn trong đời sống của người tỵ nạn, tả tơi theo vận mệnh của đất nước Việt Nam!
Ngày 30 tháng 9, chúng tôi theo anh Tuấn qua thị trấn Letung, Kuku ở. Anh Tuấn có vợ chồng người bà con (anh chị Hồ Bảy và Hồ Phan Anh) và một đứa con nhỏ đang tá túc nhà một người dân bản xứ nơi đó. Chỗ ở mới này là một căn nhà sàn bằng tranh cất nhô ra biển. Cùng ở với chúng tôi có hai mẹ con người Huế (bác Thường và Bê). Chúng tôi hùn tiền phụ tiền thuê và thức ăn. Nơi đây, chúng tôi chơi chung với một người bạn nhỏ tuổi người bản xứ tên Pai, con người chủ nhà, biết nói chút ít tiếng Anh.
Khi thuỷ triều rút xuống, chúng tôi đi bắt cua hay cá mắc cạn. Đôi lúc chúng tôi còn bắt được bạch tuộc con vào ban đêm. Khi thuỷ triều lên, chúng tôi ngắm những đàn cá lìm kìm, những bầy sứa trong suốt hay những con ba ba lội xung quanh. Anh tôi cũng có dịp theo Pai chèo thuyền đến một đảo đối diện tìm cũi. Một điểm đáng nhớ nơi đây là, khi thuỷ triều rút, dân tỵ nạn từ đảo Bahala (còn được người tỵ nạn gọi là “Đảo Ruồi”) có thể lội qua biển với mực nước lên đến đầu gối để qua Letung lấy nước ngọt. Khi thuỷ triều lên thì đoạn này trở thành một cái eo biển. Ở Letung được vài tháng thì tất cả dân tỵ nạn được lệnh phải rời khỏi đảo vì có sự xung đột với người dân điạ phương.
Chúng tôi trở về đảo Air Raya sống cùng gia đình anh Hồ Bảy, anh Dũng và anh Tuấn. Đảo đã có cơ cấu tổ chức với ban điều hành. Các nhà vệ sinh công cộng được dựng lên cho phái nam và phái nữ. Hai anh em tôi nhiễm bệnh sốt rét nơi đây. Rất may là phòng y tế đã có thuốc Fansida trị sốt rét. Thật đặc biệt, chúng tôi nhận được 50 đô từ một phái đoàn từ Canada do người anh bà con qua Canada du học trước 1975 nhờ gởi đến. Hai anh em tôi rất mừng vì bắt được liên lạc với anh chị bà con bên Canada. Lần lượt, anh Dũng được chuyển qua đảo khác để được định cư. Ngày 24 tháng 11, chúng tôi cũng phải quyến luyến từ giã anh chị Hồ Bảy, bé Phan Anh và anh Tuấn để đi qua Galang, một đảo lớn và cũng là một trại chuyển tiếp để chờ phỏng vấn và khám sức khoẻ đi định cư.
Đến Galang, chúng tôi được sắp xếp ở barrack 181, gần ngôi chùa trên một đỉnh đồi. Dân tỵ nạn nơi đây được ở trên giường đôi, san sát vào nhau, với hai người cho một giường. Nơi đây chúng tôi quen được anh Ngô Anh Dũng, một lính pháo binh trước đây, và hai anh thanh niên khác rất tốt và hết lòng bảo vệ chúng tôi. Về lương thực, chúng tôi được phát theo ration. Cứ mười ngày, mỗi người được hai túi và trong đó có hai kí lô gạo, một gói ớt khô, một gói bột ngọt, một gói muối, một lon đồ hộp tàu hủ kho với nấm, măng, một hộp thịt bò nấu đậu, một hộp giò heo với nấm, một hộp cà ri gà, một hộp đậu xanh và một gói đậu xanh. Trước đó, chúng tôi chỉ được phát một hộp paté heo và một hộp cá mòi với sốt cà kèm theo gạo và trà. Ở đây vấn đề vệ sinh và lấy nước uống thật chật vật. Giếng nước không đào được vì toàn là đất sét và đồi núi. Con suối thì quá nhỏ đối với số người quá đông nên chính quyền địa phương phải ngăn lại thành một cái bồn và đặt bốn hay năm vòi nước. Số người đến lấy nước hay tắm rồng rắn xếp hàng, tấp nập cả ngày lẫn đêm. Chúng tôi ghi danh học Anh văn và làm quen thêm một số bạn ở nơi đây.
Ở Galang được hơn hai tháng thì chúng tôi nhận được giấy đi định cư tại Mỹ do một người anh đi Mỹ trước 1975 cùng gia đình người cậu bảo lãnh. Lần này chúng tôi được một tàu Na Uy thật lớn như một chiếc du thuyền chở đi Singapore. Chúng tôi đặt chân đến nước Mỹ vào ngày 29 tháng 2 năm 1980, tại phi trường San Francisco.
Trải qua mấy chục năm sống trên đất Mỹ, tôi vẫn còn lưu lại được những kỷ vật vô giá của cuộc hành trình vượt biển tìm tự do: miếng vải nhỏ ghi điạ chỉ, tờ giấy ghi tên thuốc, bình bi đông, ống thuốc đựng tiền, túi sách tay, một áo sơ mi trắng mang từ Việt Nam. Nhìn lại mới biết mình còn may mắn hơn hàng ngàn, hàng vạn người khác, và không ít người bỏ mạng trên còn đường snóg gió đi tìm tự do. Hành trình vượt biển của người Việt Nam là một trang sử sống, một thảm kịch minh chứng hùng hồn cho khát vọng căn bản của quyền làm người: Tự Do.



























































































































