Ðoản khúc cho ngày 30 Tháng Tư


Vann Phan

Thấm thoát thế mà đã 40 năm trôi qua tính từ cái ngày 30 Tháng Tư năm 1975 khi đoàn quân chiến thắng của Cộng Sản Bắc Việt, dưới màu cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam giả hiệu, chiếm được thủ đô Sài Gòn, buộc chính quyền Việt Nam Cộng Hòa phải đầu hàng vô điều kiện, bởi vì chính phủ của Tổng Thống Dương Văn Minh, nhà lãnh đạo cuối cùng của Miền Nam Tự Do lúc ấy, thật sự chẳng còn gì trên tay để đặt điều kiện với kẻ chiến thắng khi đoàn quân xâm lược từ phương Bắc đã đạp cổng xông vào tới tận văn phòng của vị tổng tư lệnh quân đội Việt Nam Cộng Hòa, người mà cho tới giờ đó mới kịp nghĩ ra là mình đã bị mắc lừa quân cộng sản. Như thế, kết thúc thiên anh hùng ca dang dở của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một đội quân kiêu hùng không hề đáng phải thua một trận chiến lớn có tầm vóc lịch sử chỉ nội trong vòng 2 tháng giao tranh với địch sau 21 năm bảo vệ thành công nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ cho Miền Nam Tự Do.

***

Bốn mươi năm thật quả là một thời gian dài trong một đời người, nếu tính chung chung rằng mỗi người chỉ có 60 năm cuộc đời để sống cho đúng nghĩa, như lời nhạc của Y Vân trong ca khúc “60 Năm Cuộc Ðời” rất được ưa chuộng tại Miền Nam Việt Nam thời gian trước khi Sài Gòn sụp đổ (và hiện vẫn còn rất phổ thông trong các cộng đồng người Việt ở hải ngoại và cả ở bên trong Việt Nam). Mà 40 năm quả là dài thật, bởi vì nó đã dài gấp đôi khoảng thời gian 21 năm tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa trước khi bị cộng sản quốc tế thôn tính, để lại một nền văn minh rực rỡ và một nền văn hóa phong phú chưa từng thấy trong suốt hơn 4,000 năm lịch sử của dân tộc Việt Nam, trong đó có thiên anh hùng ca bất diệt của quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu chống Cộng Sản Bắc Việt xâm lược, với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là biểu tượng tuyệt vời nhất “trong lòng muôn người biết yêu đời lính,” như ý nhạc trong ca khúc “Anh Không Chết Ðâu Anh” của Trần Thiện Thanh.

***

Ngày 30 Tháng Tư hằng năm vẫn được coi là “Ngày Quốc Hận” trong các cộng đồng người Việt tị nạn trên khắp thế giới, từ Úc Ðại Lợi cho tới Pháp Quốc và từ Thụy Ðiển cho tới Hoa Kỳ. Một số ít người Việt lưu vong có tâm hồn cao thượng cho rằng 40 năm đã là quá đủ để xóa bỏ hận thù và quên đi quá khứ mà hướng về tương lai, nhưng họ có biết đâu rằng hận thù không phải là một tánh xấu mà là một đức tính cao quý của những người biết chung thủy với các lý tưởng cao đẹp trên đời, và chỉ có hành động như thế nào để rửa mối hận thù đó mới là chuyện cần phê phán. Không phải ai mang mối hận thù quân cộng sản đã giết hại dân lành tại Huế cũng sẽ trả thù bằng cách lùa những người cộng sản đi hành quyết rồi vùi nông thây họ dưới các mồ chôn tập thể như kẻ thù đã làm đối với các nạn nhân trong biến cố Tết Mậu Thân năm 1968. Chính lòng chung thủy với bạn bè và với các lý tưởng cao đẹp của cuộc đời đã khiến cho người ta phải biết hận thù. Với tấm lòng không hận thù “cao cả” đó, Người Mỹ đã bỏ cấm vận và tái lập bang giao với Cộng Sản Việt Nam từ năm 1985 tới giờ, nhưng hành động này phải được coi là sự bội phản luôn cái chính nghĩa Tự Do mà người Mỹ từng trân trọng, thêm vào việc người Mỹ đã bội phản đồng minh Việt Nam Cộng Hòa, dẫn tới biến cố 30 Tháng Tư năm 1975 đau thương cho hơn 20 triệu quân, dân, cán, chính Miền Nam Tự Do. Hãy nghe nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng nói về đức tính hận thù và hành động “rửa hờn” của nhân dân Miền Nam Tự Do sau khi quân Cộng Sản tấn công vào cố đô Huế dịp Tết Mậu Thân và đánh sập một nhịp trên Cầu Trường Tiền để biết rằng hận thù không hề đồng nghĩa với hành động tàn bạo mà là một đức tính cần có để cảm hóa con người: “Mối thù chờ sang ngày nào nối lại nhịp cầu, rửa hờn cho nhau!” (“Chuyện Một Chiếc Cầu Ðã Gãy,” Trầm Tử Thiêng). Người dân Miền Nam Việt Nam hiền hòa thời đó đã biến mối hận thù cộng sản sâu sắc của mình thành hành động nối lại nhịp cầu Trường Tiền thương yêu và coi đó là hành động để rửa hờn trước quân thù. Ðó có thể cũng là ý nghĩa của câu nói: “Forgive but do not forget, or you will be hurt again. Forgiving changes the perspectives. Forgetting loses the lesson” của văn hào Brazil Paulo Coelho. Những kẻ không biết hận thù là gì rất dễ trở thành những kẻ phản bội đồng minh và chiến hữu.

***

Phải là những người có lý trí mạnh mẽ lắm mới có thể quên đi được cái quá khứ đớn đau, tủi nhục phải sống dưới chế độ Cộng Sản sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975. Và cũng phải là những người có trái tim sắt đá lắm mới có thể quên đi những “đêm chôn dầu vượt biển” sau “bao năm giải phóng như thế này phải không anh” nơi quê nhà để cùng nhau “vai sát vai chung một bóng cờ” với người Cộng Sản trong nước mà tiến lên đỉnh cao của giàu sang cá nhân trong khi đất nước ngày càng nghèo mạt và vận mạng của tổ quốc đang như chỉ mành treo chuông, bởi vì không ai biết rõ ngày nào thì Trung Cộng sẽ ra tay dùng vũ lực “cưỡng chế đất đai” để sát nhập Việt Nam vào lãnh thổ của họ chiếu theo Thỏa Thuận Thành Ðô mà hai Ðảng Cộng Sản Việt-Trung đã ký kết với nhau hồi năm 1990.

***

Tại Việt Nam, chứ không phải tại Hoa Kỳ, bán nước là một dịch vụ dễ phất lên nhất trong thời đại này. Trong khi những kẻ bán nước tại Hoa Kỳ chỉ biết nhặt nhạnh từng đồng quarter của các khách hàng mang bình đựng nước tới thì những kẻ bán nước tại Việt Nam lại thu vào hàng tỉ Mỹ kim. Trong khi những kẻ thối mồm, cỡ đồng chí Bùi Thị Lan, hay bàn lui rằng cái gương Vua Lê Chiêu Thống bán nước cho quân Tàu bằng cách “cõng rắn cắn gà nhà” hãy còn sờ sờ ra đó, thì những bậc thức giả lại cho rằng bán nước mới là hành động vừa không ngoan vừa khôn lanh của những kẻ thức thời. Này nhé, sở dĩ Lê Chiêu Thống bị ô danh là kẻ bán nước là vì hành động của ông vua này đã không dẫn tới việc An Nam Quốc bị Trung Hoa thôn tính sau khi quân Thanh đã bị Vua Quang Trung đánh cho đại bại hồi năm 1789, giúp Việt Nam tồn tại cho tới ngày nay. Nhưng nếu đến năm 2020 (hoặc vài ba năm sau đó) mà Việt Nam bị mất vào tay Bắc Kinh để trở thành một tỉnh của Trung Cộng thì người Việt đương nhiên sẽ trở thành người Tàu, và lịch sử Việt Nam sẽ không còn để lên án và chửi rủa những kẻ bán nước cho quân Tàu nữa. Sử Tàu của dân tộc Trung Hoa, trong đó có 90 triệu dân Việt Nam mới nhập tịch, sẽ không tiếc lời ca ngợi những kẻ trước đây đã can đảm cống nộp Việt Nam cho Tàu như là những bậc khai quốc công thần trong lịch sử Trung Hoa!

***

Trước đây, ai đọc tới câu “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc…” trong bài thơ “Qua Ðèo Ngang” của bà Huyện Thanh Quan (nói về nỗi niềm thương nhớ nước An Nam cũ dưới Triều Hậu Lê của tác giả) cũng có thể nghĩ rằng nữ thi sĩ này đã “cường điệu” cho vui tai người đọc mà thôi. Nào ngờ, sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, khi Sài Gòn đã thất thủ vào tay quân cộng sản và khi Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia có chủ quyền tại Ðông Nam Á ở phía Nam vĩ tuyến 17 từng được 50 nước trên thế giới công nhận (và đang là nước có quy chế quan sát viên tại tổ chức Liên Hiệp Quốc), đã thật sự mất đi, tâm trạng đó của bà Huyện Thanh Quan cách nay hơn 2 thế kỷ cũng chinh là tâm trạng chung của hằng triệu người Việt lưu vong trên khắp thế giới. Bảo người tị nạn Việt Nam ở hải ngoại phải quên đi cái quá khứ đau buồn, tủi nhục kia là một hành động phi nhân bản, nếu không nói là tàn ác, cũng y như bảo quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa cũ và hậu duệ của họ phải quên đi lá cờ vàng ba sọc đó thân thương trên quê hương mới vậy. Và cũng chính vì lý do đó, đã không có chương trình tưởng niệm 40 năm Tháng Tư Ðen, có tên “Hành Trình Ðến Tự Do và Vươn Tới” (Journey to Freedom and Beyond), dự trù được tổ chức tại Camp Pendleton ở San Diego vào ngày 25 Tháng Tư, khi quốc kỳ và quốc ca Việt Nam Cộng Hòa không được phép treo lên và hát lên tại buổi lễ chỉ vì chính phủ liên bang Hoa Kỳ tại Washington đã công nhận chính quyền Hà Nội và lá cờ đỏ sao vàng của họ rồi.

***

Hồi mới bị Hoa Kỳ bỏ rơi để rồi Việt Nam Cộng Hòa phải mất vào tay Cộng Sản vào ngày 30 Tháng Tư năm 1975, nhân dân Miền Nam Tự Do thật sự cũng lấy làm oán hận người bạn đồng minh Mỹ lắm đấy, mặc dù nỗi oán hận này đã không dẫn đến chuyện anh lính Cộng Hòa chung tình nổ súng bắn vào những người Mỹ phản bạn đang hối hả – và có thể cũng cảm thấy tẽn tò như lúc đang rút lui khỏi Phnom Penh, bỏ rơi đồng minh Cộng Hòa Khmer lại Căm-Bốt cho quân Khmer Ðỏ tàn sát – tháo chạy khỏi Sài Gòn để trả thù duyên kiếp phụ phàng như các đồng minh Iraq và Afghanistan của Mỹ đã và đang làm trong thế kỷ này. Nhưng đến nay, khi 40 năm đã trôi qua sau ngày Sài Gòn sụp đổ, nỗi oán hờn người bạn đồng minh phản bội này giờ coi như cũng đã tiêu tan hết cả rồi. Ðó chính là nhờ tiến trình hội nhập mạnh mẽ của người Việt định cư vào xã hội Hoa Kỳ đã dạy cho họ biết rằng trên thế giới này không làm gì có tình bạn chung thủy hoặc tình đồng minh sống chết có nhau, như thế giới thời Cuộc Chiến Với Napoleon hoặc thời Thế Chiến 1 và 2 tại Âu Châu, mà chỉ có tình bạn hàng giao thương, cho dù có phải giao thương với một nước bạn hàng nguy hiểm như Trung Cộng cũng không sao. Các tỉ dụ mới đây nhất là trường hợp Cuba và Iran. Sau hơn nửa thế kỷ hận thù, Hoa Kỳ nay bắt đầu bãi bỏ kế hoạch cấm vận Cuba. Nội trong Tháng Tư, đã có tới 2 phái đoàn thương mại từ New York và Texas đến Cuba để bàn chuyện buôn bán, làm ăn với kẻ thù cũ. Và ngay sau khi mới chỉ có thỏa thuận sơ bộ về việc Hoa Kỳ và các nước Tây Phương gỡ bỏ cuộc cấm vận kinh tế Iran để đổi lấy lời hứa của Tehran không chế tạo bom nguyên tử, Tổng Thống Nga Vladimir Putin đã lập tức cho giao hàng loại hỏa tiễn phòng không tối tân S-300 đến Iran (mà họ đã mua của Nga trước đây nhưng chưa được nhận vì đang bị quốc tế cấm vận) trong khi các công ty Mỹ lại đang ráo riết và rầm rộ chuẩn bị giao thương với và đầu tư vào kẻ thù (chưa kịp trở thành cũ) Iran để thủ lợi, theo đúng phương châm “tiên hạ thủ vi cường,” có nghĩa là ai ra tay trước thì giành được thế mạnh trên thương trường.

***

Sau năm 1975, có thể vì khiêm nhường, ít có ai dám nghĩ rằng 21 năm tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa chính là thời kỳ vàng son nhất trong lịch sử Việt Nam trước khi mất nước vào tay Trung Cộng. Nhưng nay, 40 năm đã trôi qua, lịch sử đang chứng minh rằng rất ít có hy vọng Việt Nam tìm lại được thời đại vàng son cũ. Việt Nam Cộng Hòa là biểu tượng cho một nền văn minh và văn hóa rực rỡ khi nền kinh tế của đất nước tương đối vẫn ổn định dù có chiến tranh và bị chi phối mạnh mẽ bởi viện trợ Mỹ. So với tiêu chuẩn thời bấy giờ và so với các nước đồng minh cũng như láng giềng không bị chiến tranh tàn phá trên quy mô khủng khiếp thời đó, như Ðại Hàn Dân Quốc (Nam Hàn), Phi Luật Tân, Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan), Thái Lan, Tân Gia Ba (Singapore), Mã Lai Á, Nam Dương (Indonesia), Brunei, Lào, Căm-Bốt và Miến Ðiện, Việt Nam Cộng Hòa cũng không thua sút mấy và có khi còn hơn hẳn một số các nước kể trên. Nền giáo dục và y tế của Việt Nam Cộng Hòa được coi là đầy tính nhân bản và có phẩm chất cao, trong khi các lãnh vực văn hóa, văn chương, nghệ thuật, thể thao và âm nhạc của Miền Nam Tự Do cũng đã phát triển vượt bực, giúp Việt Nam Cộng Hòa đạt được nhiều thành tích rực rỡ và giành được nhiều giải thưởng quốc tế giá trị trong các lãnh vực nói trên. Những kế hoạch xóa bỏ các công trình kiến trúc cũ cùng việc đốn hạ các cây cổ thụ đã có từ thời Pháp thuộc hoặc thời Quốc Gia Việt Nam và thời Việt Nam Cộng Hòa tại Hà Nội và Sài Gòn chỉ làm lộ rõ một điều là những người cộng sản tại Hà Nội rất sợ cái quá khứ vàng son đó của dân tộc Việt Nam khi họ nhận chân rằng đất nước Việt Nam dưới quyền cai trị của họ đang ngày càng tệ hại hơn và mắc nợ quốc tế nhiều hơn, chứ không còn ấm no và hạnh phúc như ngày xưa nữa, kể cả dưới thời Pháp thuộc, đừng nói gì đến thời Quốc Gia Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa.

***

Khi nói cách riêng về nền âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa, một sản phẩm văn hóa có khả năng tồn tại đến hàng trăm năm, người ta có thể nhận định mà không sợ sai lầm rằng nền âm nhạc đó, đáng kể nhất là “tân nhạc,” chẳng những có phẩm chất rất cao mà còn mang tính vượt thời gian nữa. Khởi đi từ những năm 1930, khi Việt Nam còn ở trong thời Pháp thuộc, rồi qua đến đầu thập niên 1950, khi Quốc Gia Việt Nam ra đời, và từ 1955 trở đi, dưới thời Việt Nam Cộng Hòa (với 2 nền Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa), nền tân nhạc Việt Nam đã không ngừng khởi sắc cả về phẩm chất lẫn số lượng, với các thể loại nhạc tiền chiến, nhạc tình, nhạc vàng, nhạc trẻ, nhạc lính, và nhạc du ca, cùng với các nhạc sĩ tài ba, danh tiếng như Lê Thương (tác giả Hòn Vọng Phu), Ðặng Thế Phong (tác giả Giọt Mưa Thu), Ðoàn Chuẩn (tác giả lá Ðổ Muôn Chiều), Dương Thiệu Tước (tác giả Ðêm Tàn Bến Ngự), Nguyễn Văn Khánh (tác giả Nỗi Lòng), La Hối (tác giả Xuân và Tuổi Trẻ), Phạm Duy (tác giả Trả Lại Em Yêu), Nguyễn Văn Ðông (tác giả Chiều Mưa Biên Giới), Anh Việt Thu (tác giả Dòng An Giang), Cung Tiến (tác giả Thu Vàng), Văn Phụng (tác giả Ghé Bến Sài Gòn), Nhật Ngân (tác giả Xuân Này Con Không Về), Trầm Tử Thiêng (tác giả Chuyện Một Chiếc Cầu Ðã Gãy), Trịnh Công Sơn (tác giả Gọi Tên Bốn Mùa), Lam Phương (tác giả Chuyến Ðò Vĩ Tuyến), Anh Bằng (tác giả Căn Nhà Ngoại Ô), Trần Thiện Thanh (tác giả Anh Không Chết Ðâu Anh), Trúc Phương (tác giả Con Ðường Mang Tên Em), Quốc Dũng (tác giả Mai), Nguyễn Ðức Quang (tác giả Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ)… và hàng trăm tác giả cùng với hằng nghìn tác phẩm tân nhạc khác ra đời và thịnh hành tại Miền Nam Tự Do trước năm 1975, để rồi tiếp tục được trân trọng lắng nghe trên khắp thế giới, bất cứ nơi nào có người Việt tị nạn định cư. Cũng không thể nào kể hết được tên tuổi của các ca sĩ nổi tiếng tại Miền Nam Tự Do, những nghệ sĩ tài ba đã góp công đưa các nhạc phẩm bất hủ do các nhạc sĩ lừng danh nói trên sáng tác lên đỉnh cao của nền âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa, trong đó có những giọng ca tiêu biểu như Thái Thanh, Hà Thanh, Lệ Thu, Duy Khánh, Chế Linh, Nhật Trường, Hùng Cường, Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Hoàng Oanh, Khánh Ly, Thanh Lan, Giao Linh, Mai Lệ Huyền, Lê Uyên…

***

Lại nói cách riêng về nhạc lính của Việt Nam Cộng Hòa, một thứ “bửu bối” có mãnh lực kỳ diệu đem lại sức sống kiên cường cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến đấu gian khổ chống lại cuộc chiến tranh bạo tàn và dai dẳng kéo dài suốt 2 thập niên của các lực lượng Cộng Sản Quốc Tế xâm lược. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa luôn được coi là lẽ sống của Miền Nam Tự Do, bởi vì hễ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa còn thì Miền Nam Tự Do còn, mà hễ quân lực đó mất thì Miền Nam cũng mất theo luôn. Các nhạc phẩm về lính thường đặt người trai nơi tiền tuyến chống đánh giặc cộng vào vòng yêu đương với người em gái chốn hậu phương: “Này chàng, từ hậu phương hay biên cương/ Nơi đây, chàng đến, áo vương bụi đường/ Nhìn chàng là người trai, ôi phong sương/ Tim tôi đã mến biết bao lâu rồi…/Chàng từ miền ngược xuôi hay nơi đâu/ Nơi đây, dừng bước kết duyên bạn đầu/ Một lời, đẹp tình xin trao cho nhau/ Tuy tôi chưa biết hỡi chàng là ai…” (“Chàng Là Ai,” Nguyễn Hữu Thiết). Hàng hàng, lớp lớp những người trai thế hệ như thế đã cầm súng lên đường bảo vệ quê hương Miền Nam Tự Do: “Người đi giúp núi sông/Hàng hàng lớp lớp chưa về/ Hàng hàng nối tiếp câu thề giành lấy quê hương” (“Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp,” Nguyễn Văn Ðông). Có khi, những lần ra đi vì nước như vậy của người trai thời loạn ly lại diễn ra vào một đêm trăng sáng lung linh: “Những đêm mười sáu trăng tròn/Vượt con đường mòn đi giữ làng thôn.” (“Mười Sáu Trăng Tròn,” Trần Thiện Thanh). Các chàng trai đó vẫn hiên ngang ra đi, “băng mình vào sương gió, sống trọn kiếp trai hùng” bởi vì họ “không quên lời xưa đã ước thề/Dâng cả đời trai tới sa trường/Nam nhi cổ lai chinh chiến hề/Nào ai ngại gì vì gió sương… (“Anh Ði Chiến Dịch,” Phạm Ðình Chương). Ðời lính luôn gian khổ, nhưng tình yêu quê hương, xóm làng trước cuộc xâm lược của quân cộng sản từ phương Bắc luôn là động lực giúp người lính chiến vượt thắng bao gian nguy: “Tôi thường đi đó đây/Bùn đen in dấu giày…/Ðêm đêm nằm đường ngăn bước thù/Áo nhà binh thương lính/Lính thương quê/Vì đời mà đi.” (“Trên bốn vùng chiến thuật,” Trúc Phương). Cuộc gặp gỡ giữa chàng trai tiền tuyến hiên ngang và người em gái hậu phương e ấp làm sao khỏi để lại những vấn vương: “Chợt thấy lòng lưu luyến/Và tâm hồn xao xuyến/Trông anh trai phong sương/ Em thấy mà thương…” (“Ðò Chiều,” Trúc Phương), để rồi: “Thương người gió lạnh đường xa/Khuê phòng em đan áo/Thương đời bé bỏng miền quê/ Anh giữ yên biên thùy…” (“Tình Chàng Ý Thiếp,” Y Vân), hoặc “chờ ngày dệt xong áo chung tình/Em đem tới đồn mà tặng anh…” (“Bức Tâm Thư,” Lam Phương). Người lính Cộng Hòa nơi biên cương, “ngoài yêu núi sông thì tim này dâng cả em,” luôn nhớ về người em gái hậu phương bé bỏng, mong manh như một cành hoa: “Xin anh che chở tấm đời nhỏ bé hậu phương/Như câu chuyện tình Người Hùng và Giai Nhân/Những cánh hoa hồng bên hàng rào kẽm hầm chông/Vẫn mong bàn tay người đem tưới vun trong vườn…” (“Cánh Hoa Thời Loạn,” Y Vân)…

***

“Người ơi nhắc đến chi kỷ niệm xưa khiến lòng tôi bùi ngùi…” là lời nhạc trong ca khúc “Lưu Bút Ngày Xanh” một bản nhạc trữ tình tuyệt vời của nhạc sĩ Thanh Sơn thời Việt Nam Cộng Hòa. Như ý nhạc cho thấy, hầu như mọi hoài niệm trong con người Việt Nam về những mất mát trong và sau cuộc Chiến Tranh Việt Nam, ngoài cái đau thương ra, đều đẹp và buồn, mà mỗi khi nhớ lại không mấy ai không cảm thấy lòng bồi hồi xúc động. Nhưng thôi, Ðức Phật Thích Ca từng dạy dỗ thế nhân rằng “mỗi một chiếc bình khi đã ra khỏi lò gốm đều có ngày phải vỡ tan đi,” có nghĩa là sự thể Việt Nam Cộng Hòa mất đi cũng chỉ là theo lẽ tự nhiên có sinh, có diệt của Trời, Ðất mà thôi, nếu không nói đó là Ý Trời. Nỗi băn khoăn lớn hiện nay của người Việt hải ngoại là, trong khi triều đại Napoleon của Pháp mất đi, nước Pháp vẫn tồn tại cho đến ngày nay để tiếp tục vinh danh Napoleon Bonaparte là vị đại đế anh hùng Số Một của đất nước – dù rằng vị đại đế này, hồi năm 1815, cũng đã chiến bại như Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hồi năm 1975 vậy – rất ít người có thể biết chắc được nước Việt Nam có còn tồn tại nổi hay không trước chiếc thòng lọng kinh tế ngày càng siết chặt cùng với sức đồng hóa có hệ thống và mãnh liệt của Trung Quốc, chưa nói tới gót giày xâm lược bạo tàn của họ dự trù sẽ được tung ra sau năm 2020…

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT