Giáng Sinh và hy vọng

Cao Xuân Thức

Tạo hóa đã tạo ra con người với bộ óc trong đó có bộ nhớ thật huyền diệu. Tuy bộ óc của người viết đã một lần bị chấn thương do một biến cố bất ngờ! Nhưng cứ mỗi năm vào dịp Tháng Mười Hai, cuộc vượt biên đầy gian nguy lại hiện ra từ bộ nhớ huyền diệu đó.

Vào ngày 21 Tháng Mười Hai, 2011, nằm trên giường bệnh mà trí nhớ tôi quay trở về rõ mồn một cái cảnh tượng vượt biên với chiếc thuyền nho nhỏ chông chênh trên biển cả đại dương. Biển cả bao phủ một màu đen hãi hùng, hòa lẫn âm thanh gào thét liên hồi của gió hú và tiếng sóng dữ đập vào mạn thuyền… Con thuyền bị sóng đẩy lên cao như đang trên đỉnh gió hú rồi lại chìm xuống vực thẳm bao quanh bởi luồng sóng dâng cao bao phủ cả con thuyền… Như muốn nhấn chìm cả con thuyền với gần năm mươi sinh mạng đang khóc lóc cầu kinh không mệt mỏi. Thuyền bị sóng đẩy lên cao rồi lại dìm xuống theo chu kỳ con sóng đại dương. Quang cảnh kinh hồn đó kéo dài gần cả một ngày. Thật khủng khiếp. Thật khó mà diễn đạt hết nỗi sợ hãi lúc bấy giờ.

Cảnh tượng kinh hoàng này đã in sâu trong bộ nhớ của người viết. Hồi tưởng lại cũng ngày 21 Tháng Mười Hai, 1984, con thuyền do tôi làm thuyền trưởng đã rời bến Hàm Tử, cạnh nhà đèn Chợ Quán để chơi một ván bài mà độ cá cựa là sinh mạng của mình và những anh em thuyền viên và theo dự trù có đến cả gần 70 sinh mạng của khách.

Một đời người chỉ có một lần được sanh ra bởi bà mẹ hiền nhưng có thể được tái sanh nhiều lần. Cụ thể như người viết đã trải qua bốn lần tái sinh. Ôn lại quãng đời 72 năm qua, tưởng chừng như một giấc mơ vừa đẹp ,vừa khó hiểu, vừa giật mình tự hỏi sao mình còn hiện hữu?

Khoảng năm 1948, làng Hướng Phương, tỉnh Quảng Bình rơi vào vùng kiểm soát của Việt Minh. Dạo đó chưa có ai nói đến hai chữ Việt Cộng. Mãi tới khi lớn lên sau năm 1954 tôi mới nghe nói tới hai chữ này. Làng Hướng Phương nằm cách trại lính Ba Ðồn độ năm cây số và do phe quốc gia kiểm soát. Sau đó trại lính này cũng lọt vào tay Việt Minh. Thế là mẹ tôi và tôi mất liên lạc với thầy tôi và các anh chị đã bỏ làng chạy giặc lúc làng bị mất. Sau đó mẹ con chúng tôi tìm đường vượt biên. Thật ra tôi còn bé lắm. Mẹ tôi lo liệu tất cả; tôi chỉ chạy theo như gà con theo đuôi gà mẹ!!! Vượt biên thất bại. Bị nhốt vài tháng. Ðược tha về. Vượt lần thứ hai. Thành công khi chiếc ghe cập bến Quảng Khê. Một căn cứ của Pháp và có cả lính Việt Nam. Sau đó được thương thuyền lớn chở vào đoàn tụ với thầy và các anh chị tôi ở tỉnh lỵ Ðồng Hới.

Ðó là lần tái sanh thứ nhất. Tôi nói tái sanh vì Việt Minh thời đó cũng ác ôn không khác gì Việt Cộng bây giờ. Họ áp dụng luật rừng rú. Muốn giết ai là giết; và giết người như giết gà giết chó để xơi rựa mận.

Tới Tháng Bảy, 1954, khi Hiệp Ðịnh Geneva được ký kết, gia đình thầy mẹ tôi lại một lần nữa chạy giặc Việt Minh. Chúng tôi theo đoàn công-voa của quân đội quốc gia di chuyển vào Nam qua sông Bến Hải, nghỉ vài ngày rồi di chuyển tiếp vào tạm trú trong Thành Nội Huế. Ở đó có nhiều đền đài và sát ngay bờ sông Hương. Một thời gian sau chúng tôi theo xe lửa vào Ðà Nẵng và tạm trú tại khuôn viên nhà thờ Ðà Nẵng. Lúc này tôi gia nhập đạo quân con nít theo chân bọn đàn anh đi đánh giày cho lính Lê Dương tại các hàng quán ở Ðà Nẵng. Một hôm tôi bị phát hiện bởi một người quen. Vị này báo cáo với thầy mẹ tôi. Bị la một trận tơi bời và tôi bị quản thúc tại gia cho đến ngày theo tàu chiến của Pháp di chuyển vào Nha Trang. Ở đây tôi đã học trường các bà sơ, trường Nam Tiểu Học Nha Trang, và trường Trung Học Võ Tánh. Tuổi học trò vui nhất đối với tôi là đi xem bảng sau các kỳ thi như thi tuyển nhập học lớp Ðệ Thất trường công lập Võ Tánh, thi bằng trung học đệ nhất cấp cuối năm học lớp Ðệ Tứ, tú tài nhất cuối năm học lớp Ðệ Nhị, và tú tài hai cuối năm học lớp Ðệ Nhất. Hồi hộp chờ nghe xướng danh, sau đó bon chen lấn tới xem bảng đậu được niêm yết trên tường. Có một số thí sinh vì quá giận khi bị rớt nên xé danh sách. Lúc đó phải vội đạp xe về nhà nằm chờ đài phát thanh Nha Trang phổ biến. Thật thú vị và vui ơi là vui nếu nghe được tên mình. May mà lần nào tôi cũng đậu.

Sau đó vào Sài Gòn học tại Ðại Học Khoa Học một năm và thi vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh ở đường Trần Quốc Toản. Tốt nghiệp. Ði làm. Tưởng như đã yên. Ai ngờ 30 Tháng Tư, 1975 lại là ngày quốc nạn. Cả miền Nam thân yêu lâm vào cảnh gia đình ly tán. Con mất cha. Vợ mất chồng. Bạn bè, đồng môn, đồng nghiệp… tán loạn bốn phương trời góc bể.

Tôi bị lùa đi ở tù như hàng trăm ngàn quân nhân, công chức khác. Tù bảy ngày… trở thành tù vô thời hạn. Khi nào Việt Cộng muốn cho về hay muốn bắn giết ai không cần lý do. Từ thời Việt Minh cho tới thời 1975 hay ngay cả hiện nay ở trong nước, họ muốn bắt ai, muốn bỏ tù ai, muốn giết ai cứ tùy tiện. Họ cai trị không cần luật pháp. Các nhà đấu tranh cho dân chủ nhân quyền, bà con dân oan khiếu kiện, hay tuổi trẻ yêu nước phản đối độc tài cai trị của đảng cộng sản và chống giặc Tàu xâm lặng Việt Nam… cũng không thoát khỏi bàn tay tàn bạo của họ. Nơi nào có áp bức, nơi đó có đấu tranh. Áp bức càng dã man tàn bạo, đấu tranh càng quyết liệt hơn bao giờ hết. Ðó là quy luật tất yếu của xã hội loài người. Lịch sử đã chứng minh không một chế độ độc tài nào tồn tại lâu dài và mãi mãi. Từ Tần Thủy Hoàng/Trung Hoa, Sadam Husein ở Iraq, hay các chế độ ở Tunisia, Ai Cập, Lybia…

Chế độ độc tài toàn trị cai trị bởi đảng Cộng Sản Việt Nam bây giờ rồi cũng cùng chung một số phận.

Bị lùa đi tù tập trung trong bảy năm với lao động khổ sai, với bụng đói ngày chỉ có muỗng cơm, hay bobo còn nguyên vỏ… anh chị em tù không còn nhận diện ra nhau vì da bọc xương… Thật sống không bằng chết. Vậy mà chúng tôi còn tồn tại để trở về. Ðó là nhờ chúng tôi vẫn còn hy vọng một ngày mai tươi sáng. Sống không hy vọng coi như không còn sống nữa.

Ngày được thả ra khỏi trại tù, ai cũng cắm đầu chạy, nếu còn sức, còn yếu thì cố bước nhanh hơn để xa trại tù càng nhanh càng tốt vì tâm trạng cứ nơm nớp lo sợ bị công an trại giam bắt lại!!!

Về đến nhà ở Quận 6, Phú Lâm, Chợ Lớn, lúc đó độ 10 giờ đêm. Tôi không nhận ra dễ dàng căn nhà 21 F của tôi. Phải đi tới lui vài lần mới tìm ra được. Gõ cửa vài lần bà xã mới ra mở cửa. Bà ngạc nhiên mừng vui vì không ngờ tôi lại trở về đúng ngày Tết Trung Thu. Mấy đứa con ngủ say sưa. Ngày hôm sau tôi theo vợ ra trình diện phường. Và cứ dài dài trình diện khi làm tạp dịch tại văn phòng phường, khi làm vệ sinh tại các con đường trong cư xá tôi ở. Ngẫm nghĩ thế này cũng khó ở yên. Tôi nói với vợ tôi chắc phải kiếm việc gì làm để tránh bớt cái cảnh làm tạp dịch. Thế rồi may mà cậu em có chiếc xe xích lô và nhờ đó tôi cũng được nhường cho một số giờ để đạp kiếm tiền. Như thế xe có ba người chia nhau đạp ba xuất: Sáng, chiều và tối.

Thật tình đạp kiếm tiền và tránh bớt làm tạp dịch là mục tiêu trước mặt. Nhưng mục tiêu chính là để đánh giá tình hình và tìm đường vượt biên. Thế rồi Trời thương và đã vượt biên thành công dù nguy hiểm trăm bề: Chưa ra khơi thì sợ công an khu vực, công an đường sông, tới công an đường biển. Khi thuyền ra tới ngoài khơi hết nỗi sợ kia thì lại tới nỗi sợ khác. Nỗi sợ hãi này còn kinh hoàng hơn nhiều. Biển cả mênh mông: Nhìn xuống biển nước đen ngòm, nhìn lên trời không trăng sao, mây đen phủ kín bầu trời. Trong khi đó tiếng gió và sóng biển hung dữ gầm thét tưởng như muốn ăn tươi nuốt sống con thuyền. Rất ghê rợn. Rất khủng khiếp. Không bút mực nào diễn tả hết được nội sợ hãi kinh hoàng này. Thuyền chạy được hai ngày một đêm, gặp chiếc tàu buôn Panama. Chúng tôi lấy áo trắng phất qua phất lại kêu cầu cứu. Nó chậm lại nhìn xuống thuyền chúng tôi, rồi bỏ đi… Thất vọng!!!

Tiếp tục theo hướng định sẵn, chúng tôi lênh đênh trên biển ba ngày hai đêm đột nhiên bầu trời quang đãng và vài con chim biển bay qua. Sực nhớ lại cuốn sách mua được trên đường Lê Lợi, Sài Gòn, chỉ cách đi biển: Nếu đi trên biển mà thấy có chim biển bay là dấu hiệu đã gần đất liền hay hải đảo. Tôi chia sẻ với anh thợ máy và bác tài công cùng một vài anh em khác trong buồng lái. Ðến sáng ngày thứ tư, khi hừng đông vừa ló dạng, chúng tôi nhìn thấy một hải đảo. Tôi dặn anh em hãy cẩn thận quan sát xem có phải là Côn Ðảo hay không, xem coi có cờ đỏ sao vàng hay không. Sau đó có một chiếc ghe từ trong bờ tiến ra. Ðầu mũi ghe khác các loại ghe Việt Nam. Tôi dặn tài công cho thuyền chậm lại và chiếc ghe lạ áp sát vào thuyền chúng tôi. Tôi thủ sẵn một bản đồ thế giới loại khổ giấy học trò, xung quanh có rất nhiều cờ các nước. Tôi chỉ vào cờ Thái Lan họ lắc đầu, và một ông lanh lẹ chỉ tay vào cờ Indonesia.

Mừng quá!!! Tôi thầm cảm tạ Chúa và Mẹ Maria đã dẫn dắt con thuyền bé nhỏ này tới được bến bờ tự do. Vội gom vài chiếc nhẫn, tôi trao cho anh em Indonesia và lên bờ đúng vào ngày 24 Tháng Mười Hai, 1984. Vài viên chức Indonesia nói thường, tháng này biển rất động nên tàu Cao Ủy Tị Nạn về Singapore tu bổ, không có lương thực hay bất cứ thứ gì cấp cho chúng tôi. Chỉ có cái giếng nước và một cái nhà nền xi măng mái tôn, không có tường che chắn gì cả. Anh em Indonesia cũng tốt bụng khi tôi nói cho họ chiếc thuyền, xăng và thực phẩm trên thuyền. Họ trả lời chỉ nhận chiếc thuyền còn thực phẩm chúng tôi phải mang theo mà sống chờ vài tháng nữa tàu Cao Ủy mới đến chở về đảo KuKu.

Bởi vậy cho nên Lễ Mừng Chúa Giáng Sinh năm đó đến với chúng tôi thật đơn sơ mộc mạc như ngày xưa Chúa Hài Ðồng đã được giáng thế trong hang lừa máng cỏ. Nước lạnh và cơm trắng với vài hạt muối xin dân địa phương trên đảo. Một vài anh chị em chụm ba chụm bảy thì thầm cầu nguyện hoặc tưởng nhớ tới người thân còn ở Việt Nam. Chưa vượt biên, mong đêm mong ngày. Ðến khi vượt thành công lại nhớ nhà, dù chỉ mới rời nhà chưa đủ một tuần lễ. Lòng người không đơn giản chút nào.

Tôi nhớ mãi mùa Noel năm ấy, vì hy vọng đã vươn lên theo mùa Lễ Giáng Sinh năm đó. Hạnh phúc có những lúc rất giản dị. Không cây thông, không gà tây, không gà ta, không thiệp Giáng Sinh, không nghe được âm thanh bài thánh ca Noel… mà vẫn cảm nhận được hạnh phúc tràn đầy. Sống không tin yêu, không hy vọng, không khác gì con thuyền trên biển cả, không có địa bàn trong đêm tối không trăng sao.

Ðộ hai tháng sau chúng tôi được di chuyển về trại tị nạn ở đảo Kuku. Nơi đây có văn phòng Cao Ủy và có chế độ cấp phát thực phẩm. Tại đây tôi gặp nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng. Tại đây có nhà thờ, có thánh thất, có chùa. Ở đây một thời gian, một số chúng tôi được di chuyển về trại Galang, để đợi phái đoàn các quốc gia phỏng vấn.

Thế rồi ngày rời đảo Galăng để đến Hoa Kỳ cuối cùng cũng thành sự thật. Ngày tôi từ máy bay bước xuống phi trường Los Angeles là một ngày cuối Tháng Mười, 1985.

Tại quê hương thứ hai, một cuộc chiến mới lại bắt đầu. Vật lộn với thời gian lo chuyện cơm áo. Tất bật với mọi điều mới lạ. Tiền nhà, tiền xe, tiền xăng nhớt, tiền ăn tiêu, tiền mua quà gởi về nhà nuôi vợ con… Ðó chẳng phải là cuộc chiến mới hay sao?

Khi tới Mỹ gặp ai cũng chúc mừng đã đến bến bờ tự do. Ðồng ý. Ðể được hít thở không khí tự do không còn nơm nớp lo sợ sẽ bị Việt Cộng lùa vào tù lúc nào không biết. Tôi đã đem cả tánh mạng để đổi lấy hai chữ tự do. Tôi rất trân quý và hiểu rõ được giá trị của hai chữ đó. Nên quyết tâm để bảo vệ nó với mọi giá. Và quyết tâm làm bất cứ điều gì có thể, để cho đồng bào mình còn sống dưới ách cai trị độc tài, tàn ác của chế độ Cộng Sản Việt Nam cũng phải được hít thở không khí tự do và sống xứng đáng với phẩm giá con người như nhân dân tại các nước văn minh tiến bộ trên thế giới.

Bất thình lình tôi bị bạo bệnh vào ngày 21 Tháng Mười Một, 2011 và phải nằm bệnh viện cho tới ngày 8 Tháng Giêng, 2012 mới được về nhà. Năm đầu không viết, không đụng chạm gì tới máy điện toán. Mãi tới hơn một năm sáu tháng sau đó, tôi mới hồi phục lại một vài sinh hoạt bình thường. Thật là một phép lạ nữa cho bản thân và gia đình tôi.
Quả đúng đời là vô thường. Không ai vượt qua khỏi bàn tay sắp đặt của Ðấng Tạo Hóa. Miễn là mình còn đặt hy vọng vào bàn tay của Ngài. Phó thác hết cho Ngài. Chân lý này tôi cảm nhận được xuyên qua cuộc đời ba chìm, bảy nỗi lắm ưu tư của bản thân: Ba lần vượt biên, từ làng Hướng Phương vào Ðồng Hới 1953, từ Ðồng Hới vào Nha Trang 1954, từ Sài Gòn sang Mỹ năm 1985. Hai lần ở tù Cộng Sản: Một lần tù vượt biên năm 1953 và một lần tù năm 1975 vì quốc nạn. Một lần bị bệnh thập tử nhất sinh năm 2011.

Tôi hy vọng rồi đây đồng bào Việt Nam trong nước sẽ được tự do thực sự và bình an sẽ đến với đất nước mình. Thời còn ở quê nhà, hàng năm đến quỳ gối trước hang đá máng cỏ, nhìn hình ảnh Chúa Hài Ðồng lòng tôi chợt nghĩ tới câu “Nhân chi sơ tánh bổn thiện” và cầu khấn rằng xin cho tâm hồn con luôn được như vậy. Ngước mắt nhìn lên, hang đá nào cũng có câu:

Vinh Danh Chúa Cả Trên Trời
Bình An Dưới Thế Cho Người Thiện Tâm

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT