Võ Long Triều
Phó Đô Đốc Joseph Aucoin, tư lệnh đệ thất hạm đội, tuyên bố tại Philippines ngày 7 Tháng Ba rằng: “Trung Quốc cần phải minh bạch rõ ràng ý đồ quân sự hóa Biển Đông. Và ông kêu gọi Bắc Kinh chấm dứt các hoạt động cãi tạo đất đai nhằm thay đổi nguyên trạng các khu vực có tranh chấp, làm cho tình hình an ninh ngày thêm căng thẳng.”
Trước đây, ngày 25 Tháng Hai, Đô Đốc Harry Harris, tư lệnh quân đội Mỹ tại Thái Bình Dương khẳng định với phóng viên trực thuộc Bộ Quốc Phòng: “Trung Quốc đang xây dựng đường bay, lấp đặt các trạm radar và hệ thống tên lửa với mục đích quân sự hóa Biển Đông để từng bước kiểm soát khu vực này.” Đồng thời Trung Quốc có khả năng lập vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên toàn bộ Biển Đông, để dùng sức mạnh quân sự đe dọa tàu và máy bay đi vào khu vực. Những sự kiện trên chứng tỏ quyết tâm của Trung Quốc chiếm trọn vùng 9 đoạn trên Biển Đông còn gọi là “lưỡi bò.”
Sóng gió Biển Đông bắt nguồn từ khi Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974, thuộc lãnh hải của Việt Nam Cộng Hòa, vi phạm trắng trợn công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển năm 1982, trước mắt đệ thất hạm đội Hoa Kỳ hiện diện trong khu vực. Dư luận cho rằng có sự đồng tình của Mỹ, hay ít nhất Mỹ đã làm ngơ trước hành động xâm lăng của Bắc Kinh. Thử nghĩ một quốc gia nào khác vi phạm luật quốc tế, xâm lăng một láng giềng như Iraq đã từng xâm lăng Kuwait năm 1990 thì lập tức xảy ra chiến tranh vùng vịnh nhu quá khứ đã chứng minh. Sự làm ngơ của Mỹ và thế giới cho phép Trung Quốc tiếp tục lộng hành. Nếu Mỹ và Tây phương có phản ứng mạnh mẽ vào lúc đó có lẽ tình hình Biển Đông sẽ không bất ổn như ngày nay. Tiếp đó Trung quốc lại chiếm thêm đảo Gạc Ma của Việt Nam ngày 16 Tháng Ba, 1988 thuộc quần đảo Trường Sa. Tham vọng của Trung Quốc không ngừng ở đó, họ đơn phương tuyên bố “chủ quyền không thể tranh cãi” trên đường biển 9 đoạn bao gồm 80% diện tích Biển Đông. Vào Tháng Sáu, 2012 Trung Quốc chiếm bãi cạn Scarborough của Philippines. Rồi từng bước lập huyện Tam Sa, cấm đánh bắt cá trong vùng, đặt giàn khoan HD 981 trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Cứ mỗi lần Bắc Kinh lấn bước, các nước láng giềng phản đối, Mỹ vẫn tuyên bố không đứng về bên nào và yêu cầu các bên liên hệ giải quyết bằng đường lối ngoại giao để duy trì an ninh hòa bình trong khu vực. Bản hát thuộc lòng của Mỹ cho phép Trung Quốc hiểu rằng Hoa Kỳ làm ngơ mặc dù Tổng Thống Obama tuyên bố chính sách ngoại giao Hoa Kỳ “xoay trục” về Á Châu. Nhưng đó chỉ là lời tuyên bố để trấn an các nước Á Châu và để giữ thể diện, nhưng trong thời gian dài sau đó Mỹ bị chi phối bởi tình hình Trung Đông và Âu Châu với Ukraine.
Cách đánh võ mồm giữa Mỹ và Trung Quốc không ngăn cản được sự lấn nước ngày càng sâu, càng mạnh của Bắc Kinh với mưu đồ bành trướng và bảo vệ cái gọi là “chủ quyền không thể tranh cãi” của họ mà trên thực tế các lãnh hải đó thuộc chủ quyền của Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia.
Phó tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc tuyên bố một cách vô căn cứ và xằn bậy tại Sangri-La: “Đường lưỡi bò có từ 2,000 năm theo lịch sử Trung Quốc, do đó nó có trước 1982 nên công ước Liên Hiệp Quốc không thể áp dụng cho trường hợp này.” Lời tuyên bố theo kiểu “vừa ăn cướp vừa la làng.”
Mặc dù Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ có đưa ra một bản phân tích số 143 ngày 5 Tháng Hai, 2014 nêu rõ đường 9 đoạn của Hoa Lục có nhiều vấn đề không hợp lệ theo công pháp quốc tế nên không có cơ sở pháp lý. Tuy nhiên Mỹ luôn luôn tuyên bố đứng ngoài, không thiên về bên nào trong việc tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Điều đó cho phép Bắc Kinh hiểu rằng họ có thể múa gậy vườn hoan nên ngày càng lộng hành. Từng bước Bắc Kinh thực hiện kế hoạch “mềm nắn rắn buôn,” chờ thời gian, để lần hồi củng cố chủ quyền trên đường 9 đoạn.
Cho đến khi Mỹ và đồng minh nhận thấy Trung Quốc bồi đắp các đảo nhân tạo, xây dựng đường bay, đặt cơ sở quân sự, thì đã quá muộn để có thể ngăn chận mưu đồ quân sự hóa của Trung Quốc trên các đảo mà họ đã chiếm giữ và các đảo nhân tạo để kiểm soát toàn bộ biển Đông. Người ta còn nhớ Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khẳng định trong chuyến công du Hoa Kỳ năm 2015 rằng Bắc Kinh không có ý đồ quân sự hóa các hòn đảo ở Biển Đông. Đô Đốc Trung Quốc Ngô Thắng Lợi cũng cho biết hồi Tháng Giêng, 2015, “Trung Quốc không có kế hoạch quân sự hóa Biển Đông.” Những lời tuyên bố giả dối và hành động trái ngược là thông lệ của thế giới Cộng Sản.
Trong khi đó tờ báo chính thức của nhà nước Trung Quốc ngày 15 Tháng Hai, 2015 cảnh cáo Washington “nên nhớ Trung Quốc sẽ không bao giờ làm ngơ trước bất kỳ mưu toan nào thách thức chủ quyền không thể tranh cãi của mình, và việc đánh giá thấp quyết tâm của Trung Quốc bảo vệ những lợi ích cốt lõi, sẽ là một sai lầm chết người.” Lời hù dọa trên đây có mục đích chứng minh Trung Quốc đủ mạnh, đủ điều kiện để đối đầu với Mỹ và đồng minh. Đồng thời Bắc Kinh quyết tâm bảo vệ chủ quyền và tìm thế thượng phong trong vụ tranh chấp ở Biển Đông.
Trận giặc mồm trở nên gay gắc hơn:
Ngày 25 Tháng Hai, Bộ Trưởng Quốc Phòng Ash Carter nhấn mạnh, Trung Quốc bồi đấp đảo nhân tạo và đưa thiết bị quân sự ra các hòn đảo có tranh chấp ở Biển Đông khiến Mỹ và các đồng minh như Nhật, Philippines, Ấn Độ, Việt Nam gia tăng hợp tác với Hoa Kỳ.
Ngày 26 Tháng Hai, Mỹ công khai tố cáo Bắc Kinh quân sự hóa Biển Đông. Ngược lại Trung Quốc cáo buộc Mỹ và đồng minh đang làm leo thang căng thẳng khu vực. Tại Canberra, chính phủ Úc tuyên bố lo ngại ngày càng tăng đối với những hoạt động quân sự của Trung Quốc.
Trên thực tế chủ trương và hành động của Trung Quốc chứng tỏ quyết tâm của họ chiếm trọn tài nguyên thiên nhiên của Biển Đông, nhờ sự lơ là của Mỹ và các đồng minh trong bao nhiêu năm qua đã giúp Bắc Kinh có thời gian cũng cố vị thế quân sự chính trị mà ASEAN và Tây phương khó lòng làm cho đảo ngược. Vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông như tôi đã từng viết, giống như sự tranh chấp chủ quyền các đảo Sakalines giữa Nhật và Nga, chỉ có thể hy vọng giải quyết được khi nào cán cân quân sự và kinh tế nghiên hẳn về phía Nhật mà thôi. Điều đó không có hy vọng đối với các nước Á Châu láng giềng của Trung Quốc khổng lồ. Trừ khi đế quốc này tan rã từng mảnh như Liên Sô ngày trước.
Đô Đốc Harris Tư lệnh Thái Bình Dương lên tiếng báo động về những kịch bản có thể xảy ra trên Biển Đông nếu như Hoa Kỳ không phản ứng mạnh mẽ! Phải hiểu như thế nào về những kịch bản mà Đô Đốc Harris hàm ý nói đến? Tàu chiến của Mỹ cũng đã từng đi vào vùng 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo của Trung Quốc, phi cơ Mỹ cũng đã từng bay trên vùng Trung Quốc tuyên bố nhận dạng phòng không. Vấn đề còn lại phải chăng là Mỹ cùng với các đồng minh phối hợp tuần tra thường xuyên một cách hùng hậu, để vừa thách thức vừa kềm chế Trung Quốc phải tự chế không làm thay đổi nguyên trạng đối với các đảo trên Biển Đông. Điều đó có thể xảy ra va chạm quân sự, làm bùng nổ chiến tranh hay không? Đó là câu hỏi, và đó cũng là một phương pháp giải quyết sự tranh chấp do chủ trương bành trướng của Bắc Kinh.



























































































