Võ Long Triều
Vấn đề tranh chấp chủ quyền ở biển Ðông ngày càng “nóng” đến độ dư luận thế giới lo ngại có thể xảy ra xung đột bằng vũ lực, dù chỉ là cục bộ, giữa Trung Quốc và Nhật Bản thôi cũng đủ ảnh hưởng đến hòa bình thế giới. Nhìn lại những hành động leo thang vừa qua của hai bên đang tranh chấp quần đảo Senkaku:
– Sau các lời tuyên bố chủ quyền, Trung Quốc tìm cách đưa người đổ bộ lên đảo Ðiếu Ngư/Senkaku không thành vì bị Nhật ngăn chận.
– Một số người Nhật cũng hành động tương tự, sau đó nhà nước mua lại quần đảo Senkaku của tư nhân.
– Trung Quốc kịch liệt phản đối việc mua bán này.
– Tàu cá, tàu hải giám và tàu chiến Trung Quốc vi phạm hải phận vùng Senkaku, lập tức tàu hải giám và máy bay của Nhật đuổi tàu Trung Quốc ra khỏi hải phận.
– Tàu Hải giám Nhật Bản và Ðài Loan đấu nhau bằng vòi rồng phun nước thay vũ khí. Ðài Loan rút lui.
– Tàu chiến Trung Quốc đặt tầm nhìn Radar chính xác vào tàu Nhật như sắp nã đạn.
– Nhật cực lực phản đối. Trung Quốc chối không có hành động như trên.
Một bên là Trung Quốc với tinh thần bành trướng bá quyền của Ðại Hán, ỷ sức mạnh quân sự và kinh tế đứng hàng thứ hai trên thế giới. Vì đã trót công khai hóa tham vọng bằng đường “Lưỡi Bò”, vì đã dự đoán cường quốc mạnh nhất thế giới là Hoa Kỳ bị cầm chân tại Iraq và Afganistan nên không còn khả năng đóng vai trò “sen-đầm quốc tế” như ngày xưa nữa. Do đó Trung Quốc lấn lướt càng mạnh với câu tuyên bố “Toàn bộ các quần đảo nằm trong lưỡi bò thuộc chủ quyền của Trung Quốc không thể tranh cãi”.
Bên đối kháng là Nhật Bản, cũng có tầm cỡ kinh tế quân sự không thua kém bao nhiêu, so với Trung Quốc, ngoài ra còn có thỏa ước quốc phòng với Mỹ, có đồng minh được Hoa Kỳ chính thức bảo trợ bằng văn bản là Philippines, thủ tướng Nhật, ông Shinzo Abe chủ trương cứng rắn không khoan nhượng, và đáng kể nhứt là tinh thần hiếu chiến của người Phù Tang.
Trong hoàn cảnh hiện tại, dư luận quốc tế lo ngại xảy ra xung đột vũ lực không phải là vô lý.
Này 6 tháng 2 năm 2013, báo Pháp Le Nouvel Oservateur cảnh báo: “Tham vọng trở thành cường quốc biển của Trung Cộng là nhân tố chính, khiến tình hình khu vực trở nên căng thẳng. Người ta lo ngại một cuộc chiến có thể xảy ra bất cứ lúc nào giữa hai cường quốc Nhật-Trung”.
Bốn năm qua mặc dù Tổng Thống Barack Obama luôn tuyên bố Mỹ không đứng về phe nào trong vấn đề tranh chấp chủ quyền, nhưng ông lại chuyển hết trọng tâm hoạt động kinh tế quân sự vế Châu Á Thái Bình Dương.
Ðích thân ông tham dự các hội nghị thượng đỉnh Á Châu và khuyến cáo các nước đang tranh chấp nên thương thảo đa phương theo luật biển Quốc Tế năm 1982. Trong lúc Trung Cộng khẳng định chỉ thương lượng song phương mà thôi.
Hoa Kỳ kết thân với Ấn Ðộ, thỏa thuận với Úc Châu để lập căn cứ quân sự tại Darwin đồn trú 2,500 quân hiện diện với đầy đủ vũ khí tối tân. Rõ ràng Mỹ không che giấu chiến lược bao vây Trung Cộng về quân sự.
Còn về kinh tế thì tại hội nghị thượng đỉnh APEC ở Hawai Tổng Thống Obama chủ trương lập một tổ chức gọi là TPP (Trans-Pacific Partnership) trong đó không có Trung Cộng vì xứ này bảo trợ kinh tế quốc doanh nên cạnh tranh không công bằng với các nước khác.
Chính sách đối ngoại cứng rắn của Hoa Kỳ, đặt biệt với Trung Quốc, đã thể hiện qua lời tuyên bố của bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton ngày 19 tháng 1 năm 2013, trước khi bà từ nhiệm: “Mỹ sẽ ủng hộ đồng minh lâu năm của mình trong việc giải quyết tranh chấp đảo giữa hai nước Nhật Bản và Trung Quốc. Liên minh Mỹ-Nhật là nền tảng của việc Hoa Kỳ can dự vào khu vực”. Và bà nói tiếp “Chúng tôi phản đối bất kỳ hành động đơn phương nào tìm cách làm tổn hại đến sự quản lý của Nhật Bản”.
Tổng Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Leon Panetta nhấn mạnh: “Hoa Kỳ phải tái cân bằng ở Thái Bình Ðương vì an ninh, kinh tế, tương lai của Hoa Kỳ”. Ông xác nhận khu vực Thái Bình Dương vẫn còn một số thách thức.
Tư lệnh thủy quân lục chiến Mỹ Tướng Jim Amos tiết lộ kế hoạch triển khai nhiều quân và chiến đấu cơ, loại EA-6B Prowlers, tới Iwakuni của Nhật Bản, cũng như tới một số các nước Á Châu khác.
Ðại Tá Fanell, phó tham mưu trưởng tình báo của Hạm đội Thái Bình Dương nhận định: “Trung Quốc là kẻ bành trướng đang tìm cách chiếm đoạt tài nguyên của các nước khác và sẵn sàng thực hiện chiến tranh để thủ đắc ‘Cái gì nói của ta là của ta, còn của chúng ta sẽ đàm phán xem cái gì của các người.’” Trong khi đó lại có một sĩ quan cao cấp Trung Quốc liền cảnh báo ngược lại: Hoa Kỳ đang đóng vai trò “Con hổ toàn cầu” và Nhật bản đóng vai “Con sói Châu Á” nhằm cắn xé Trung Quốc. Ðài ABC gọi đây là một cuộc khẩu chiến giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Nhìn xuôi dòng thời sự với những sự kiện trên đây cho thấy nguy cơ xung đột vũ trang trong vùng sẽ khó tránh. Nhưng thử tìm hiểu qua những lời tuyên bố gần đây của các nhân vật lãnh đạo Hoa Kỳ thì người ta có thể tự hỏi:
Chính sách ngoại giao của Mỹ có gì thay đổi?
Trong bài diễn văn gần nhứt, Tổng Thống Obama phác họa chương trình hoạt động nhiệm kỳ hai của ông, tổng thống xác định sẽ rút quân khỏi Iraq và Afganistan, sẽ chú trọng kinh tế xã hội và sẽ không có chiến tranh. Dư luận cho rằng: Bà Clinton là người thường tỏ ra cứng rắn với Bắc Kinh, nay Thượng Nghị Sĩ John Kerry thay thế bà, Trung Cộng đang hy vọng vị tân ngoại trưởng Hoa Kỳ sẽ là người mềm mỏng hơn dễ thương thuyết hơn so với người tiền nhiệm của ông trước đây.
Nhận định trên có thể đúng, nếu người ta suy đoán qua những lời tuyên bố của tân Ngoại Trưởng Kerry, ông nói: “Việc Washington tăng cường các mối quan hệ với Bắc Kinh là một việc cực kỳ quan trọng”. Ông còn nói thêm, Trung Quốc là nền kinh tế quan trọng thứ nhì trên thế giới và rõ ràng họ có một nhu cầu vô cùng to lớn đối với các nguồn tài nguyên trên thế giới”. Ngoài sự thông cảm diễn giải trên ông Kerry nói: Trung Quốc cho biết họ đang tìm cách thông qua đối thoại để giải quyết những yêu sách chủ quyền chồng chéo. Nhưng họ chống đối sự ủng hộ của Hoa Kỳ về sự can dự nhiều hơn của một liên minh các nước vùng Ðông Nam Á. Theo ông, Trung Cộng đang phản ứng trước sự gia tăng của các lực lượng Mỹ trong vùng Á Châu Thái Bình Dương vì vậy sự tăng cường mối quan hệ với Bắc Kinh là cực kỳ quan trọng.
Phải chăng những lời tuyên bố trên là dấu hiệu của sự hòa hoãn vì quyền lợi của hai cường quốc như Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã nói với Tổng Thống Obama: Thái Bình Dương đủ rộng để cho hai cường quốc hoạt động?
Hay là một thứ ngôn ngữ ngoại giao êm như nhung lụa, nhưng bọc một bàn tay sắc khi cần phải phản ứng?
Hoặc là John Kerry đóng vai trò như Kissenger, thỏa hiệp ngầm với Tàu cộng vì đã chia nhau quyền lợi. Ai làm chủ biển Ðông không quan trọng đối với Mỹ, miễn sao tự do di chuyển hàng hải được bảo tồn, và Hoa Kỳ vẫn tự do khai thác tài nguyên với bất cứ xứ nào có chủ quyền? Ðiều đó làm người ta nhớ lại Kissenger đã bán Việt Nam Cộng Hòa cho Mao Trạch Ðông vì quyền lợi của Mỹ trong giai đoạn năm 1972.

























































































































