Giáo Sư Trần Văn Chi
(Nguyên giảng viên, tổng thư ký viện đại học Hòa Hảo 1970-1975)
Từ lâu nay người Việt biết và nhất trí với nhau rằng ông Huỳnh Phú Sổ thành lập Phật Giáo Hòa Hảo vào ngày 18 Tháng Năm năm Kỷ Mão (1939) ở quê hương ông, làng Hòa Hảo, nay là làng Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Để hiểu sự xuất hiện của phong trào tôn giáo mới do ông khởi xướng, PGHH chúng ta cần tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử Việt Nam bấy giờ. Và qua đó mới nhận hết giá trị của PGHH và người sáng lập tôn giáo mới vừa đáp ứng nhu cầu tâm linh và thích hợp đời sống tầng lớp nông dân miền Tây và Nam Kỳ lục tỉnh.
I- Nam Kỳ giữa hai cuộc đại chiến
Thời kỳ giữa hai cuộc đại chiến có một vài sự kiện mới gây chú ý đối với chính quyền thuộc địa.
Đạo Cao Đài, một phong trào tâm linh và tôn giáo có tính chất tổng hợp, đã chính thức thành lập vào năm 1926. Được hưởng sự khoan dung tương đối, nó đã nhanh chóng trở thành một trong những tôn giáo có đông quần chúng nhất trên toàn Nam Kỳ.
Phong trào chấn hưng Phật Giáo Đại Thừa hướng đến việc tái tổ chức và thống nhất tăng đoàn, in ấn và dịch kinh sách sang quốc ngữ, rốt cuộc cũng khiến chính quyền bận tâm, tìm cách định quy chế cho những hội đoàn Phật Giáo mới và ngăn ngừa mọi phong trào quần chúng có khả năng đưa tới sự phản loạn.
II-Làng Hòa Hảo bấy giờ
Dưới góc nhìn chánh trị, Hòa Hảo cho đến đầu thế kỷ 20 là một ngôi làng yên tĩnh thuộc tổng An Lạc, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc.
Hòa Hảo, cái tên hiền lành của nó gợi nên “sự hài hòa hết mực.” Vị trí địa lý cũng như những điều kiện thủy văn và thổ nhưỡng địa phương (vùng đất cao, ít phèn, ít lụt lội) cắt nghĩa sự tụ cư lâu đời và thịnh vượng của nó so với khu vực. Ngôi làng không chỉ được hai nhánh của sông Mekong mà còn có sông Vàm Nao, một dòng hợp lưu tự nhiên, bao quanh.
Nhưng dưới con mắt cảnh giác của chính quyền thuộc địa, các thôn làng khác ở vùng này vẫn bị coi là chống đối lại nhà nước Pháp.
Bởi vì ngay từ những năm 1860 vùng nay là căn cứ kháng chiến chống cuộc xâm chiếm của Pháp (cuộc khởi nghĩa của Trần Văn Thành ở Bảy Thừa), rồi thời gian sau đó còn là nơi trú ngụ của các tổ chức yêu nước đầu tiên, hay là nơi xuất hiện các chi bộ tiền cộng sản trong thời kỳ giữa hai cuộc đại chiến.
Dưới góc độ tín ngưỡng và thực hành tôn giáo, đồng bằng sông Mekong nổi bật trước hết là Tam Giáo, một sự hỗn hợp có tính chất bình dân và theo kiểu biến hình của Nho Giáo, Phật Giáo, và Đạo Giáo cộng với sự tiếp xúc văn hóa trong hoàn cảnh thống trị về chính trị do tiếp xúc Đông Tây,
Thêm vào đó, lo lắng cho sự vững vàng lâu dài của chế độ, chính quyền coi những người truyền giảng các đạo này như những nhà sư phản nghịch, nghi ngờ rằng những người có uy tín nhất trong số đó đang sống ẩn dật trong các vùng núi cao hiu quạnh vùng Thất Sơn là nguồn gốc của các bất ổn trong dân chúng hay các cuộc nổi loạn. Quan niệm này ít nhất góp phần vào việc coi các tín ngưỡng bình dân địa phương, như trước hết là Bửu Sơn Kỳ Hương (hương hơm trên núi quý), là nhân tố xấu.
Hội kín và Cộng Sản xuất hiện cũng vào này, khi Pháp nỗ lực nhằm vây bắt các tổ chức cộng sản bị cấm hoạt động, những truyền đơn của những người theo chủ nghĩa Stalin bị phát hiện.
III-Huỳnh Phú Sổ “thiên tư phi thường”
Huỳnh Phú Sổ là “con trai của hương cả Huỳnh Công Bộ” và là “cựu học sinh của trường tiểu học Tân Châu.” Ông bộc lộ thiên hướng “chấn hưng đạo Phật.” Giống như “một nhà sư giàu kinh nghiệm,” anh truyền giảng mà không cần tới kinh sách, giống như “một nhà nho già.”
Chàng thanh niên, từ một con người mang nhiều bệnh hoạn, bỗng nhận thiên ngộ, vượt qua bao thử thách, đứng ra làm lễ cáo Hoàng Thiên, chánh thức nhận lấy trách nhiệm của Thiên Đình tuyên bố lập đạo cứu đời.
Đó chính là những trọng trách của ngài với Thiên Đình, nhằm ngày 18 Tháng Năm năm Kỷ Mão (1939).
Danh tiếng của ông nổi đến mức không chỉ rất nhiều “tín đồ” đến thăm viếng từ khắp nơi mà cả một số đáng kể ở ngay Phú Tân và Hòa Hảo cũng bị cha ông xua đuổi bởi vì những phiền phức do họ gây ra và do sự thăm viếng của họ “biến nhà của ông thành ngôi chùa,” và Huỳnh Phú Sổ được kính trọng như một “người thầy.”
Ngay từ thời ấy, Huỳnh Phú Sổ thực tế là đã dạy đời bằng miệng và dưới hình thức thơ – những bài thuyết giáo vừa áp dụng thuật dễ nhớ vừa có tính cách giảng đạo. Huỳnh Phú Sổ cũng dùng những vần luật thơ ca từng được Đoàn Minh Huyên và những người kế tục ông sử dụng. Một số trong những ông này đã ghi lại các bài giảng của mình ra giấy.
Trong con mắt của quần chúng nông dân, Huỳnh Phú Sổ được xếp vào dòng kế tục của Đoàn Minh Huyên.
Việc phát hiện ra phong trào tôn giáo này thật ra bắt đầu từ một vụ rắc rối, đó là sự trỗi dậy của hội kín Thiên Địa Hội.
Pháp mở cuộc điều tra về các chân rết của hội kín này, bắt giữ một nhà sư có liên lụy đến vụ Phan Xích Long đi ngang qua làng Hòa Hảo chắc chắn là đã gợi ý cho chính quyền tìm hiểu về những sinh hoạt bên trong ngôi làng.
Mặc dù phong trào hội kín ấy không có bất kỳ một mối liên hệ nào với hiện tượng tôn giáo sau này, nhưng một tháng sau vụ rắc rối ở Tân Châu, những hệ quả của nó đã dẫn đến việc phát hiện ra những hoạt động tiên tri của Huỳnh Phú Sổ.
Lúc đó, mật thám ở Sa Đéc đang theo dõi thêm về ông.
IV- Phần kết
Ngay từ thời khắc Huỳnh Phú Sổ thực tế là đã dạy đời bằng miệng và dưới hình thức thơ – những bài thuyết giáo – điều đó có thể hiểu là “sứ mệnh” của người thanh niên Huỳnh Phú Sổ bắt đầu.
Sự nổi danh của ông gây bất ngờ cho các cấp chính quyền thuộc địa được giải thích một phần theo đó thì Huỳnh Phú Sổ đã chữa bệnh, tiến hành thuyết giáo, và tới vùng Thất Sơn nhiều lần một cách vô cùng kín đáo.
Chưa đầy hai tháng sau đó, Huỳnh Phú Sổ được yêu cầu tách khỏi những người sùng bái mình để chuyển đến sống ở một tỉnh khác. Ngày 18 Tháng Năm, 1940, ông rời ngôi làng quê hương và bắt đầu một cuộc viễn du trên vùng đồng bằng sông Mekong. (Đ.D.)



















































































































