Âm-Dương trong y đạo


BS Ðặng Trần Hào


Y đạo là một trong bốn dụng của kinh dịch, nếu chúng ta chú tâm, tìm hiểu, sẽ thấy trong y đạo triết lý Âm-Dương được ứng dụng một cách khoa học và đa dạng.


Theo triết học Ðông Phương chữ Ðạo chỉ là nhận thức của con người về qui luật tự nhiên của trời đất, Ðạo là con đường dời đổi (dịch) của sự vật trong vũ trụ nhân sinh với cái thể không đổi dời (bất dịch) của nó, là nhất âm, nhất dương.


Theo Kinh Dịch, Hệ Từ Thượng, Chương 5:


-Ðạo là con đường dời đổi của sự vật, với cái thể không dời đổi của nó là nhất âm, nhất dương.


-Ði ra (hướng tán vạn thù) còn kế tục được đạo gọi là thiện.


-Ði vào (hướng qui nhất bản) thành tựu được đạo gọi là tính.


-Người thiên về nhân gọi đạo là nhân.


-Người thiên về trí gọi đạo là trí (sự thật nhân và trí là hai âm dương của đạo).


-Bách tính là trăm họ hàng ngày dùng đạo mà không biết. Cho nên đạo của người quân tử (là người biết rõ đạo nhất âm, nhất dương) rất hiếm có.


Kinh Dịch lại nói thái cực “thì sinh lưỡng nghi, ”có nghĩa thái cực đã sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi tức là nhất âm, nhất dương. Cho nên kinh dịch nói “Ðạo là thái cực, ”nghĩa này cụ thể và hình dung dược rõ ràng.


Âm-Dương trong y đạo


Y đạo là:


– Một triết học và khoa học nghiên cứu về con người.


-Con đường hành y tự nhiên theo đúng qui luật của Âm-Dương


-Con người có thân, cần có sức khỏe cường tráng, Âm-Dương thống nhất là vô bệnh.


-Là Ðạo (luật) của vũ trụ áp dụng lên con người tạo ra sức khỏe và đẩy lui bệnh tật.


-Con người có tâm, khi ta tập trung đủ định lực, thì tâm an lạc, Âm-Dương của tâm thống nhất là không không.


Vậy chúng ta cần phải hiểu rõ đặc tính của Âm-Dương áp dụng trong y đạo.


Theo lý luận cơ bản của Âm-Dương, ai cũng biết chúng có ba đặc tính: tương đối, hỗ căn và bình hành.


-Tương đối: là Âm-Dương đối lập qua tâm của một vòng tròn.


-Hỗ căn: cùng có một gốc là toàn thể sự vật, cùng song song và cùng tồn vong với sự vật, không nên cố chấp là âm sinh dương và dương sinh âm.


-Bình hành: Nhiều người cố chấp với nghĩa ngang bằng nhau, nhưng không hẹp hòi như vậy, dù cho Âm-Dương có đồng là 2 bán kính của một vòng tròn, thì hai chiều thuận nghịch của Âm-Dương cũng diễn đạt hai chiều hướng tâm và ly tâm (Dương hình hướng tâm, và Âm hình ly tâm)


Ðiều kiện ắt có và đủ là ngụ ý chỉ 3 đặc tính này là diễn đạt về Âm-Dương và đủ để thấy rõ Ðạo Tam Cực gồm cả Âm-Dương thống nhất tại tâm và Âm-Dương đối lập tại tâm điểm của vòng tròn.


Sau khi tìm hiểu sơ qua về đặc tính của Âm-Dương và vai trò của Âm Dương và ngũ hành được áp dụng trong y đạo như sau:


Ứng dụng tam tài


Biến hóa của Âm-Dương là Tam Tài, là được đề cập tới ba vật quí: Tinh-Khí-Thần của con người. Tuân theo nguyên lý Thiên-Nhân-Ðịa hợp nhất để có môi trường tồn tại, sống thích hợp với thiên nhiên, có lợi cho sức khỏe, là phát hiện có ý nghĩa nhất trong việc ứng dụng thuyết Tam Tài.


Tam Tài là bộ ba: Trời-Ðất-Người, một quan niệm về mối quan hệ trong thế giới vũ trụ của nhận thức.


Nhưng trên cơ sở cặp Âm-Dương có qui luật: Trong âm có dương, trong dương có âm, đã chấp nhận một nguyên lý trung dung. Tồn tại phần tử trung hòa giữa hai cực Âm-Dương. Như vậy bao giờ và ở đâu có Âm-Dương thì ở đó có phần tử Trung Hòa và bộ ba đó chính là Tam Tài.


Ngày nay nguyên lý Thiên-Ðịa-Nhân hợp nhất đã có ý nghĩa hợp nhất sâu rông, về mối quan hệ mật thiết với con người và vũ trụ.


Âm dương trong y lý


Mỗi một nền y học có lý luận riêng về con người, nó đặt trên nền tảng triết học và nhận thức chính mình về con người.


Âm dương trong tạng tượng


Quan niệm về y học về con người, trước hết là cấu trúc thực thể và chức năng bên trong. Y học Ðông Phương quan niệm con người cấu tạo bởi tấu lý, kinh mạch và tạng phủ.


-Tấu: là chỗ tam tiêu huyền chân thông hội.


-Lý: là văn lý của bì phu, phủ tạng.

Bì phu là phần biểu, bên ngoài là kinh lạc.

Phủ tạng là phần lý, bên trong là kinh lạc.


-Tạng: có tâm, gan, tỳ, phế, thận. Tạng là cơ quan âm tính.


-Phủ: có đại trường, tiểu trường, tam tiêu, bàng quang, dạ dày, mật và phủ kỳ hằng. Phủ là cơ quan dương tính.


Âm dương trong khí huyết


Khí không phải là không khí mà khí là năng lượng, tinh huyết là chất tinh túy mà con người có được.


Khí mang dương tính, còn huyết mang âm tính. Sự chênh lệch khí huyết là nguyên nhân gây ra bệnh, bởi vì mọi hoạt động của tạng phủ đều do khí huyết mà ra.


Âm dương trong kinh, lạc mạch


Kinh lạc, mạch cũng là một bô phận trên cơ thể con người, chúng là một phần trong y lý Ðông Phương. Kinh lạc mạch là đường đi của khí huyết, còn huyệt là cửa ngõ giao lưu của cơ thể với môi trường.


Kinh có kinh âm kinh dương.


Âm dương trong chẩn đoán


Người thầy thuốc theo y học Ðông Phương chẩn đoán bệnh bằng phương pháp: Vọng-Văn-Vấn-Thiết; bát cương: Âm-Dương-Biểu-Lý-Hàn-Nhiệt-Hư-Thực, theo theo Lục Kinh Truyền Bệnh (Thương Hàn Luận).


Phòng bệnh nhờ cân bằng âm dương


Dưỡng sinh, thư giãn để cân bằng trạng thái tâm sinh lý là nhiệm vụ hàng đầu của y thuật phương Ðông. Một con người biết tập luyện, thư giãn, sống điều độ, con người đó sẽ có khả năng miễn nhiễm với bệnh tật “phòng bệnh hơn chống” là câu thành ngữ nói lên vấn đề thượng sách, là đừng để bệnh xẩy ra.


Ðể kết luận vận dụng Âm-Dương vào y học có thể nói rất đa dạng: Từ Âm-Dương nguyên thủy, Tam Tài, đến Kinh Dịch, Âm-Dương được vận dụng để xây dựng Y Ðạo và Y Lý rồi thực hành phòng chữa bệnh: Y Thuật.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT