Bác Sĩ Ðặng Trần Hào
Trong cơ thể chúng ta có nhiều loại khí, mỗi loại làm việc tùy theo chức năng của nó.
Khí thuộc về dương và khí là đối tượng của sinh lý, bệnh lý và lâm sàng. Khí có hai ý nghĩa: Một là chỉ vào thứ chất li ti khó thấy trôi chẩy như tinh khí của thức ăn, là một chất dinh dưỡng vận hành trong cơ thể; Hai là chỉ vào sức hoạt động của tạng phủ trong cơ thể như khí của ngũ tạng, khí của lục phủ, khí của các kinh mạch, v.v…
Ngày nay, Albert Einstein và nguyên lượng cơ học đã khám phá ra vũ trụ không có thật mà khi phân tách tới cùng chỉ là những rung động hay những làn sóng.
Vì vậy, chúng ta không lấy làm lạ Ðông Y đã xây dựng y lý trên nền tảng khí hóa, âm dương là hợp lý và chính xác mà khoa học ngày nay đã minh chứng mọi vật đều biến đổi, biến hóa không ngừng và sinh diệt.
Tạng phủ khí
Nhiệm vụ chính của từng tạng phủ cũng được phân phối và săn sóc bởi tạng phủ khí. Mỗi tạng phủ đều nhận những loại khí riêng, có những hoạt động và tính chất riêng của từng tạng phủ đó. Khi YKÐP nói tới tâm khí hay phế khí, phần căn bản của khí giống nhau, nhưng sự hoạt động và liên hệ với tâm thì khác biệt trong sự hoạt động khi liên hệ với phế khí. Tâm và phế điều động khác nhau phụ thuộc vào tính chất của khí.
Thí dụ: Phế khí liên quan với khí chính trong cơ thể con người. Tỳ khí liên quan tới khí ở trung tiêu và liên quan tới bao tử khí do sự tiêu hóa thức ăn mà có, thận khí được xác định là cấu tạo bởi tiên thiên khí, sản xuất tinh.
YKÐP nhìn các tạng phủ trong cơ thể con người như một bức tranh, thường lấy biểu tượng là bức tranh thủy mạc, có núi, có sông lượn quanh, có cây cối xanh tươi, hải hòa và sống động. Nhìn vào bức tranh này, chúng ta thấy có một đời sống yêm đềm, trật tự và an vui không bệnh hoạn. Ðối chiếu với con người, thì y lý cũng đặt trên nền tạng đó và nhận biết những tạng phủ làm việc hợp nhất với nhau và cùng một nền tảng căn bản. Công việc chính của những tạng phủ này là duy trì sự hoạt động như: Tồn trữ, chuyển hóa, tiêu thụ, lên xuống và vào ra trong sự hải hòa, và nhờ đó cơ thể mạnh khỏe và quân bình.
Khái niệm về mạnh khỏe rất giản dị. YKÐP không coi mạnh khỏe như sự đo lường thông thường trong các phương pháp chữa trị khác. Sức khỏe không phải số lượng mang vào như hóa chất trong máu và nước tiểu, v.v… Ðối với y khoa hiện tại, sức khỏe được phân tích tùy thuộc vào bệnh tật, điều này rất phức tạp, cũng như xây một lâu đài cần phải đầy đủ những vật liệu. Sức khỏe đối với YKÐP là sự quân bình và không có dấu hiệu nào bất thường. Ý niệm về tạo hóa (hay đạo là con đường quân bình và hải hòa). Cái điều này có thể nói tới nhưng không phải là tạo hóa, mà là dược liệu. Sự hải hòa rất đơn giản và bình thường, điều này nói lên sự đầy đủ, chẳng hạn như “Phổi hải hòa trong điều hòa nhịp thở” ngoài ra những chi tiết khác không cần thiết.
Vậy bệnh sa tử cung được qui trách nhiệm về khí của tạng phủ nào?
Tử cung liên hệ với tâm và thận,đường mạch của tử cung,một đầu nối với tâm,một đầu nối với thận,cho nên tử cung liên hệ chặt chẽ với tâm và thận.
Kinh nguyệt và chửa đẻ có tử cung làm chủ. Tử cung có quan hệ chặt chẽ với mạch nhâm và mạch xung, hai mạch này đều bắt đầu từ tử cung mà ra. Xung mạch là chỗ 12 kinh mạch, dồn tụ lại. Sự thịnh suy của mạch nhâm có quan hệ với sự chửa đẻ. Mạch xung và mạch nhâm thịnh thì có kinh nguyệt, có kinh nguyệt thì có thể có thai, cho nên sách Nội Kinh viết “Xung là bể của huyết, nhâm chủ bào thai”. Nếu mạch xung và mạch nhâm suy yếu, kinh hết, thì khả năng sinh con cũng không còn.
Nhiệm vụ của khí là điều hòa lượng máu trong cơ thể, nếu khí di chuyển, thì máu di chuyển theo. Song song với kinh mạch và huyết quản, máu nuôi dưỡng khí cùng đồng hành đi nuôi cơ thể.
Một khi thận khí suy không di chuyển được máu trong huyết quản, gây kinh mạch chống rỗng, vì vậy cơ bắp không có đủ máu và khí để sinh tồn gây ra ngứa, tê và không còn khả năng nâng đỡ tử cung, giữ cho tử cung ở đúng vị trí của nó, và tử cung bị trệ xuống, gây ra bệnh sa tử cung.
Hoặc khi có thai, cảm thấy thai nhi bị trệ xuống. Hai trường hợp này đều do thận khí suy mà Ðông y gọi là trung khí, gây ra máu và khí không cung ứng đầy đủ cho kinh lạc.
Bệnh nhân có triệu chứng chóng mặt, ngủ chập chờn, tứ chi hay lạnh, biếng ăn, sa tử cung. Rêu lưỡi trắng. Mạch trì và khổng.
Toa thuốc
1. Hồng sâm 12 grm
2. Phục linh 9 grm
3. Bạch truật 9 grm
4. Thăng ma 9 grm
5. Sài hồ 9 grm
6. Ðương qui 9 grm
7. Xuyên khung 9 grm
8. Hà thủ ô 9 grm
9. Nhục thung dung 6 grm
10. Toan táo nhận 9 grm
11. Viễn trí 9 grm
12. Bá tử nhân 9 grm
13. Cúc hoa 9 grm
14. Câu đằng 9 grm
15. Ðại táo 3 trái
– Hồng sâm, bạch truật, nhục thung dung, phục linh: Bổ thận và tì khí, giúp cho tứ chi ấm áp, tiêu hóa kiện toàn.
– Thăng ma, sài hồ, nhục thung dung: Gia tăng sức mạnh cho bắp thịt, rút tử cung trở về vị trí cũ.
– Ðương qui, xuyên khung, hà thủ ô: Bổ máu, giúp cho khí huyết lưu thông và trở lại bình thường.
– Toan táo nhân, viễn chí, bá tử nhân. Giúp cho an tâm, ngủ ngon.
– Cúc hoa, câu đằng: Trị chóng mặt.
– Ðại táo: Bổ máu và phối hợp cá vị thuốc.
Khí huyết là một cặp quan trọng nhất của đời sống đối với cả Ðông lẫn Tây y.
Tuy nhiên, trong khi áp dụng để chữa trị có những điểm giống và khác nhau.
Nếu thiếu máu thì Ðông cũng như Tây đều cho uống thuốc bổ máu, nhưng Tây y còn tiếp máu một khi bị mất máu quá nhiều, đây là điểm rất quan trọng để cứu mạng sống của bệnh nhân mà Ðông y thiếu sót.
Còn thận khí suy thì không thấy Tây y đề cập tới. Ðủ máu chưa có nghĩa là trở lại bình thường trong nhiều trường hợp, mà còn phải có khí để đưa máu đi tới nuôi những tạng phủ, làm ấp áp lại toàn thân, giúp cho ăn uống gia tăng, bù đắp lại lượng máu thiếu hụt, an tâm, ngủ ngon và kéo tử cung về vị trí cũ là những điểm mà Ðông y lưu tâm tới thay chỉ mổ để nâng tử cung lên.





















































































