Bác Sĩ Ðặng Trần Hào
Trước khi chúng ta tìm hiểu về đau bao tử mãn tính, thiết tưởng chúng nên biết qua khí là gì trong quan niệm của Y Khoa Ðông Phương.
-Khí: Trong triết học Ðông Phương, khí không thể là thể hơi, không khí, mùi hương, mà còn là môi trường và bao hàm các năng lực (Lý, Hóa…) giúp sự vận sinh hoạt đổi dời.
-Hóa: Là một trong hai từ biến hóa, hay thuộc tính đổi dời của Âm Dương:
a) Dương biến thành Âm.
b) Âm hóa thành Dương.
Do hóa là quá trình biến từ Âm đến Dương, từ xấu đến tốt, cho nên thường được ghép với nhiều từ khác nhau như tiến hóa, văn hóa. Nhưng khi gặp từ hóa người đọc vẫn hiểu nó nằm trong hai từ tiến hóa.
-Khí hóa là nhận thức của con người về nguyên nhân dời đổi của sự vật trong vũ trụ nhân sinh, đều bằng năng lực gọi là khí, chứa trong môi trường và trong bản thân sự vật.
Y Khoa Ðông Phương phân biệt trong con người có: Nguyên khí, tôn khí, vinh khí, vệ khí…
Ðau bao tử do tỳ khí suy
Thận dương suy thường đi với tỳ khí suy, tâm dương hay phế khí suy.
Tùy theo trường hợp suy nhiều hay ít có thể phân ra ba trường hợp: Thứ nhất là phù thũng và tim hồi hộp. Thứ hai phù thũng và tiêu hóa không kiện toàn, đầy bụng, ăn không tiêu. Thứ ba là ho mãn tính, thở hụt hơi và suyễn, cuối cùng là thận bất nạp khí.
Nhiều loại bệnh liên quan tới thận dương suy được Tây y định bệnh: viêm thận mãn tính, đau lưng, sinh lý yếu, bất lực, tiêu nhiều và bệnh tiền liệt tuyến, nang thượng thận yếu, giảm năng tuyến giáp trạng (hypothyroidism), suyễn mãn tính hay khí thũng, bệnh tim, viêm đường ruột mãn tính, lỵ mãn tính.
Trong bài này chúng ta bàn đến thận dương suy ảnh hưởng làm tỳ khí suy có những triệu chứng sau:
Ðau vùng thượng vị và hạ vị liên miên, ê ẩm vùng thượng vị, đau có khi lan rộng ra cả hai bên bụng dưới, mùa Ðông đau nhiều hơn mùa Hè, thường đau vào lúc đói, chườm ấm dễ chịu, thích ăn đồ nóng, ăn đồ lạnh vào thì dạ dầy khó chịu, thường đầy bụng, đại tiện phân nhão hoặc lỏng bất thường, ợ hơi, chậm tiêu, biếng ăn, bụng trướng, miệng nhạt, người mệt mỏi, chân tay đôi khi bất lực, sợ lạnh, Khi bệnh nhân nói tiếng thường nhỏ yếu, hụt hơi, sắc mặt vàng nhợt. Mạch trầm trì, vô lực. Rêu lưỡi mỏng, trắng lợt.
Phương pháp trị liệu: Kiện tỳ, hòa vị, nếu tỳ hư hàn thì ôn trung, kiện tỳ.
Hương Sa Lục Quân Tử Thang
Sâm hoa kỳ 12grs
Bạch truật 9 grs
Phục linh 9 grs
Cam thảo 6 grs
Bán hạ chế 9 grs
Mộc hương 6 grs
Sinh khương 3 lát
Sa nhân 6 grs
Trần bì 6 grs
Ðại táo 3 trái
-Nhân sâm: Bổ tỳ và bao tử.
-Bạch truật: Tiêu thấp trong bao tử.
-Phục linh: Thông thủy tích trong bao tử.
-Cam thảo: Phối hợp và điều động các vị thuốc.
-Sa nhân, mộc hương, trần bì, sinh khương: Bổ tỳ vị khí, kiện toàn tiêu hóa, giúp ăn ngon.
-Bán hạ: Chữa nôn mửa do tỳ vị hư hàn gây ra.
Ðau bao tử do gan khí phạm tỳ
Bao tử và tỳ là một cặp âm dương hỗ trợ nhau trong tiêu hóa. Bất cứ một sự mất quân bình nào của bao tử và tỳ gây ra bởi bất cứ lý do nào, cũng làm cho tiêu hóa bị trở ngại. Mà gan mộc khắc với tỳ thổ. Một khi gan mất quân bình, sẽ ảnh hưởng qua tỳ, mà Ðông Y gọi là can khí phạm tỳ. Lý do vì lo âu quá độ, giận dữ, buồn phiền từ ngày nọ qua ngày kia, hay ăn uống quá nhiều chất béo, gan không hóa giải được, mà gây ra gan mất quân bình, phạm qua tỳ. Trong trường hợp này, thường chúng ta ăn vào là phải đi đại tiện ngay, hay sau khi chúng ta uống cà phê, rượu…
Có người thì đi đại tiện bình thường, có người đi bị lỏng vì tỳ khí và thận khí của người đó bị suy.
Bài Thuốc
Bạch thược 12grs
Hoàng cầm 9 grs
Hoàng liên 3 grs
Ðại hoàng 6 grs
Ðương qui 9 grs
Quế bì 6 grs
Mộc hương 6 grs
Binh lăng 6 grs
Cam thảo 3grm
-Bạch thược: Vị chính trong thang thuốc, làm giảm tức và đau ở thượng vị.
-Quế bì: Ðiều hòa khí tại trung tiêu.
-Ðương qui: Bổ máu và phối hợp với bạch thược để trị đại tiện lỏng và bụng bị đau.
-Hoàng liên và hoàng cầm: Tiêu tích và đưa xuống ruột.
-Binh lăng: Giáng khí.
-Mộc hương: Trị đau bụng và bao tử.
-Cam thảo: Phối hợp các vị thuốc.
Trường hợp gan khí phạm vị (bao tử)
Cũng có những triệu chứng như gan khí phạm tỳ, cộng thêm đầy hơi, tức ngực, khó thở, cảm thấy như có gì vướng ở cổ họng, nuốt không vô, mà khạc cũng không ra, làm chúng ta khó chịu. Cũng dùng bài thuốc trên.
Gia:
-Chỉ xác, hương phụ: Tản khí vùng trung tiêu, giảm khí uất kết.
-Sa nhân, bạch truật: Bổ tì và hóa thấp.
-Ðại phúc bì: Giáng khí, trị tức ngực và đầy hơi.
Ðau bao tử do thấp hàn
Ðau bụng, sôi ruột, sợ lạnh, sợ gió, dễ chịu và bớt đau khi chườm nóng, ngực và vùng thượng vị tức và chướng. Triệu chứng giống như bị cảm hàn, nhức đầu, đau mình và tứ chi, tiểu tiện ít. Rêu lưỡi dầy và trắng. Mạch phù, nhu hoãn.
Phương pháp trị liệu: Giải biểu, tán hàn, ôn trung, hóa thấp.
Hoắc Hương Chính Khí Thang
Hoắc hương 30 grs
Hậu phát 12 grs
Tô diệp 9 grs
Cát cánh 9 grs
Can khương 9 grs
Trần bì 6 grs
Bạch chỉ 9 grs
Bạch truật 12 grs
Phục linh 9 grs
Ðại phúc bì 6grs
Sa nhân 6 grs
Bán hạ 6 grs
Ðại táo 3 trái
Cam Thảo 3 grs
-Hoắc hương: Vị chính trong toa thuốc gia tăng chức năng của bao tử, tiêu thấp.
-Bán hạ, bạch chỉ: Tản khí.
-Phục linh, bán hạ, trần bì, cam thảo, can khương và bạch truật: Tiêu tích và ngưng mửa, ngưng tiêu chảy.
-Hậu phát, cát cánh, đại phúc bì: gia tăng chức năng tiêu hóa và tản khí, khai thông đồ ăn nghẹt trong bao tử và giảm đau và tức ở thượng vị.





















































































