Lạt miệng


Bác Sĩ Ðặng Trần Hào


Lạt miệng là bệnh mất vị giác, ăn không cảm thấy vị trong khi thưởng thức món ăn hàng ngày, chúng ta thường nghe người bệnh nói ăn như ăn rơm, ăn để mà sống.

Bệnh này thường qui về thận khí và tỳ khí suy. Tạng tỳ ở trung tiêu, chủ về chuyển hóa thức ăn, khai khiếu tại miệng, chủ cơ nhục và tứ chi, thống huyết và vinh nhuận ở môi.

Theo Y Khoa Ðông Phương, tỳ có nhiệm vụ tiêu hóa, hấp thụ và chuyển hóa các chất dinh dưỡng của thức ăn. Sau khi tiêu hóa, các thanh chất được tỳ hấp thụ và chuyển hóa lên phế, phế đưa huyết vào tâm mạch để huyết được tâm co thắt, đưa huyết đi nuôi dưỡng các tạng phủ và toàn thân.

Công năng chuyển hóa thức ăn của tỳ mạch gọi là sự “kiện vận” thì sự hấp thụ tốt, trái lại nếu tỳ mất “kiện vận” sẽ gây các chứng rối loạn về tiêu hóa: ăn kém, không ngon, tiêu chảy, gầy yếu, mệt mỏi.

Tỳ còn có nhiệm vụ thống huyết có nghĩa là quản lý và khống chế huyết đi trong tạng phủ, cơ nhục, và toan thân. Tỳ khí mạnh thì vận chuyển khí đi trong kinh mạnh và tạng phủ điều hòa, không bị bế tắc. Trái lại tỳ khí suy không thống được huyết, huyết sẽ đi ra ngoài, gây ra chứng xuất huyết tại những tạng phủ nào bị suy yếu như dạ dày, đại trường…

Tỳ còn đem chất dinh dưỡng đi nuôi các cơ bắp. Nếu tỳ khí mạnh các cơ bắp sẽ rắn chắc, tứ chi nhẹ nhàng, linh hoạt. Trái lại nếu tỳ khí suy yếu sẽ làm cơ bắp mềm và không đủ rắn chắc để điều hành sự di chuyển, chân cảm thấy yếu, bước đi không vững vàng, bắp thịt hai bên xương sống không đủ sức để giũa cho thân hình được thẳng thắn, hay gây ra đau nhức…

Vì tỳ khai khiếu tại miệng, liên quan tới sự ăn uống, khẩu vị. Tỳ mạnh thì ăn uống ngon và tiêu hóa dễ dàng, tỳ suy thí lười ăn, miệng lạt. Tỳ mạnh thì môi hồng nhuận, tỳ hư thì môi thâm xám, nhạt mầu.

Tỳ còn có liên hệ biểu lý với vị, sinh phế kim và khắc với thận thủy.
Vậy nguyên nhân gây ra lạt miệng, ăn không cảm thấy vị giác là do tỳ khí suy và thận khí suy.


Lạt miệng do tỳ khí suy

Ðại tiện phân sống và nát, lạt miệng, biếng ăn, ăn không ngon, ăn không tiêu hóa được, người mệt mỏi, chân tay đôi khi bất lực, bụng đầy chướng, chườm nóng thấy dễ chịu, sợ lạnh, sắc mặt vàng nhợt. Mạch nhu hoãn. Rêu lưỡi dầy, trắng lợt.

Thang thuốc

Sâm hoa kỳ 12 grs
Bạch truật 9 grs
Phục linh 9 grs
Cam thảo 6 grs
Hoài sơn (sao) 12 grs
Sa nhân 6 grs
Ý dĩ nhân (sao) 12 grs
Trần bì 6 grs
Can khương 9 grs
Ðương qui 9 grs

-Nhân sâm: Bổ tỳ và bao tử.
-Bạch truật: Tiêu thấp trong bao tử.
-Phục linh: Thông thủy tích trong bao tử.
-Cam thảo: Phối hợp và điều động các vị thuốc.
-Hoài sơn, sa nhân, ý dĩ, trần bì: Bổ tỳ vị khí, kiện toàn tiêu hóa, giúp ăn ngon và ngưng tiêu chẩy.
-Can khương: Ôn tỳ vị.
-Ðương qui: Bổ huyết và thông huyết.

Lạt miệng do thận và tỳ khí suy

Thường gặp ở người già tiêu chảy mãn tính. Hay đi tiêu chảy vào buổi sáng sớm, lạt miệng, sôi bụng, đau vùng hạ vị, phân còn sống, bụng đầy chướng, biếng ăn, chậm tiêu hóa, chân tay lạnh, thích nóng, đi tiểu nhiều lần, đau nhức, chân yếu bất lực. Mạch trầm, tế và nhược. Rêu lưỡi trắng và dầy.

Pháp trị: Ôn bổ tỳ và thân khí

Phụ Tử Lý Trung Thang

Phụ tử chế 9 grs
Ðảng sâm 12 grs
Bạch truật 12 grs
Cam thảo 6 grs
Can khương 9 grs
Phá cố chỉ 12 grs
Ngô thù du 6 grs
Bạch đậu khấu 6 grs
Ngũ vị tử 6 grs

Gia:
Bạch biển đậu 9 grs
Mộc hương 9 grs
Sa nhân 6 grs
Thần khúc 9 grs
Sơn tra 12 grs

-Ðảng sâm, bạch truật, can khương, phá cốt chỉ, ngô thù du, ngũ vị tử: Bổ tỳ khí, kiện toàn tiêu hóa và tán hàn.

-Phụ tử: Bổ thận dương và ôn trung tán hàn.

-Mộc hương, sa nhân, bạch biển đậu, thần khúc, sơn tra: Tản khí, ôn tỳ vị, tiêu thấp, kiện toàn tiêu hóa, ngưng tiêu chẩy.

-Cam thảo: Phối hợp các vị thuốc.

Lạt miệng do tỳ vị hư hàn

Quan sát thấy cơ thể yếu, da xanh, tròng mắt trắng nhạt, lạt miệng, ăn không ngon, bụng đầy chướng, chườm ấm dễ chịu, tiểu tiện trong và nhiều, đại tiện phân nhão hoặc lỏng bất thường, có khi ợ chua, nôn nước trong, chân tay yếu và lạnh. Bệnh nhân nói nhỏ và yếu, hơi ngắn, có khi đang nói phải ngừng lại như hụt hơi. Rêu lưỡi trắng mỏng hoặc không rêu. Mạch trầm, trì, vô lực và vi.

Pháp trị: Ôn trung, tán hàn, kiện tỳ, hòa vị.

Hương Sa Lục Quân Tử Thang

Nhân sâm 12 grs
Phục linh 9 grs
Bạch truật(sao) 12 grs
Cam thảo (nướng) 9 grs
Trần bì 9 grs
Bán hạ chế 9 grs
Mộc hương 6 grs
Sa nhân 9 grs
Can khương 9 grs
Ðại táo 3 trái

-Nhân sâm, phục linh, bạch truật, cam thảo: Bổ tỳ khí và thông điều thủy đạo.
-Trần bì, mộc hương, sa nhân, can khương: Ôn tỳ vị, kiện toàn tiêu hóa.
-Bán hạ: Tiêu đàm, hóa thấp.
-Ðại táo: Bổ huyết và phối hợp các vị thuốc.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT