Bác Sĩ Ðặng Trần Hào
Kỳ trước chúng ta đã tìm hiểu tức ngực và hai bên sườn do phong nhiệt tấn công từ ngoài vào, tức ngực do đờm nhớt, tức ngực do thận âm và gan âm suy. Kỳ này chúng ta đi tìm hiểu thêm về tức ngực do tâm gây ra.
Tức ngực và hai bên sườn do tâm dương suy và huyết đậm đặc
Tâm là một cái bơm bằng cơ hay bắp thịt. Tâm nặng tùy theo đàn ông và đàn bà trong khoảng từ 230 gram tới 340 gram, đập trung bình 70 lần/phút.
Tâm có chức năng như một cái bơm động lực, thúc đẩy máu chu lưu khắp cơ thể qua mạng lưới mạch máu to nhỏ và dầy đặc như mạng nhện.
Bình thường, nhịp đập của tâm được duy trì bởi xung động điện phát sinh bên trong nút xoang tâm nhĩ, là nơi điều nhịp tự nhiên của cơ thể.
Muốn cho hoạt động của tâm có hiệu quả, tất cả các cơ phận của tâm phải phối hợp chặt chẽ với nhau bằng những động tác, thúc đẩy tự động xuất phát từ nút xoang tâm nhĩ, là bộ phận điều nhịp riêng của tâm.
Ðể tránh đình trệ hay bế tắc tuần hoàn huyết, thể tích bơm mỗi nhịp đập của cả hai phần của tâm phải cân bằng nhau.
Tỷ lệ nhịp đập và số lượng máu bơm ra trong mỗi lần tâm co bóp có thể thay đổi tùy thuộc vào nhu cầu của các cơ chứa dưỡng khí và máu. Lúc nghỉ ngơi tâm đập từ 60-80 lần /phút; lúc hoạt động cực độ, tâm đập tới 200 lần/phút và bơm tới 50 lít máu/phút.
Tâm thuộc hành hỏa, một khi tâm dương suy (hỏa suy) thường kèm theo với máu bị đậm đặc và tức ngực hay hai bên sườn bất thường, đôi khi cảm thấy đau như bị dao đâm, đau một chỗ cố định, thấy khí bị dồn ép tại ngực. Lưỡi đen kịt và có những đốm đỏ. Mạch sáp và nhược.
Chủ trị: Bổ tâm dương, hoạt huyết, dưỡng tâm, an thần.
Toa thuốc
Sinh hoàng kỳ 12 grs
Phụ tử 9 grs
Quế bì 9 grs
Ðương quy 9 grs
Xích thược 9 grs
Ðào nhân 9 grs
Hồng hoa 9 grs
Qui bản 9-grs
Toan táo nhân 9 grs
Viễn trí 6 grs
Bá tử nhân 9 grs
Ðỗ trọng 9 grs
Tang ký sinh 9 grs
Cam thảo 6 grs
– Phụ tử, quế bì, sinh hoàng kỳ: Bổ tâm dương, thận khí và phổi, giúp cho nhịp tim mạnh mẽ hơn.
– Dương quy: Hoàng hậu của thuốc vừa bổ huyết, vừa thông huyết, giúp cho nhịp tim đập bình thường.
– Xích thược, đào nhân, hồng hoa, tang ký sinh: Hoạt huyết và thông huyết.
– Qui bản: Bổ huyết.
– Toan táo nhân, viễn trí, bá tử nhân: Dưỡng tâm, an thần.
– Ðỗ trọng: Bổ thận và lợi tiểu.
– Cam thảo: Bổ khí và phối hợp các vị thuốc.
Tức ngực và hai bên sườn do tâm dương suy và đàm thấp
Ðối với Ðông y thấp và đờm cũng là những thành phần làm cản trở sự hoạt động của tâm.
Thấp là âm tà hay làm tổn thương dương khí, gây trở ngại cho khí vận hành của tâm.
Ðàm là chất trong loãng: đàm ẩm sau khi hình thành các nơi ở ngoài đến cận xương, trong đến, tạng phủ, làm ảnh hưởng tới sự vận hành của khí huyết, sự thăng giáng của khí gây ra các chứng bệnh liên quan tới những tạng phủ như phổi, tỳ, vị, tâm…
Vì tâm dương suy gây ra hồi hộp, khó thở, lạnh tứ chi, gây ra tỳ vị suy, tiêu hóa không kiện toàn, sinh ra hàn thấp là nguyên nhân cản trở sự hoạt dông của tâm mà tức ngực và hai bên sườn. Lưỡi trắng và rêu lưỡi mỏng và nhớt trắng. Mạch vi và nhịp đập không đều.
Chủ trị: Bổ tâm dương, bổ tì khí, hóa thấp và tiêu đàm.
Toa thuốc
Phụ tử 9 grs
Quế bì 9 grs
Ðảng sâm 9 ‘
Phục linh 9 grs
Bạch truật 9 ‘
Toan táo nhân 9 grs
Viễn trí 6 grs
Bá tử nhân 9 grs
Khương hoạt 9 grs
Tần giao 9 grs
Bán hạ 9 grs
Hậu phát 9 grs
Cát cánh 9 grs
Cam thảo 6 grs
– Phụ tử, quế bì: Bổ tâm dương.
– Phục linh, bạch truật: Bổ tỳ và thông điều thủy đạo.
– Toan táo nhân, viễn trí, bá tử nhân: Dưỡng tâm, an thần.
– Khương hoạt, tần giao: Hóa thấp.
– Bán hạ, cát cánh, hậu phát: Tiêu đàm.
– Cam thảo: Bổ khí và phối hợp các vị thuốc.
(Còn tiếp)





















































































