Bệnh lạnh tay chân

Bác Sĩ Ðặng Trần Hào

Trước khi tìm hiểu bệnh lạnh chân tay, chúng ta nên tìm hiểu thêm về khí hóa vần xoay trong vũ trụ và trong bản thể con người được gọi là kinh lạc.

Kinh là những đường năng lực tạo thành một mạng lưới có chức năng vận hành khí huyết nuôi dưỡng và điều hòa mọi sinh hoạt của cơ thể. Bên trong nối với phủ tạng, bên ngoài nối với da thịt và các quan khiếu.

– Kinh lạc: Là con đường lưu thông của huyết (+hỏa), dính kết với các năng lực thuộc ngũ hành của đất.

– Kinh khí là con đường lưu thông của khí (+thủy), nối liền với các năng lực thuộc lục khí của trời.

– Khí: Trong triết học Ðông Phương, khí không chỉ là thể hơi, không khí, mùi hương mà còn là môi trường bao hàm các năng lực (lý, hóa…) giúp sự vật sinh hoạt đổi dời.

– Hóa: Là một trong hai từ biến hóa, hai thuộc tính đổi dời của âm và dương, dương biến thành âm, âm hóa thành dương.

Do hóa là quá trình biến từ âm đến dương, từ xấu đến tốt, cho nên thường ghép với nhiều từ khác nhau như tiến hóa, văn hóa. Cho nên khi gặp từ hóa người đọc cần hiểu rõ nó nằm trong hai từ biến hóa.

Văn hóa Ðông Phương là một nền triết học dựa trên thuyết âm dương, được mô tả rất sớm nơi Kinh Dịch từ khi chưa có chữ viết. Ngày nay chúng ta nhận biết các hiện tượng dễ dàng âm dương như ngày đêm, sáng tối, cao thấp, nóng lạnh, nam nữ… hiểu một cách hời hợt như vậy nên chưa đủ trình độ đi sâu vào kinh điển tìm hiểu những hệ từ định nghĩa rõ ràng về âm dương mới mong thông suốt được âm dương, đem áp dụng vào đời sống hằng ngày, cũng như áp dụng vào lý luận về y lý Ðông Phương.

Có lẽ chúng cũng nên biết qua về ba đặc tính âm dương như sau:

– Tương đối: Là âm dương đối lập qua tâm của một vòng tròn.

– Hỗ căn: Cùng một lúc là toàn thể sự vật (thái cực) cùng song sinh tồn vong nơi sự vật. Không nên cố chấp vào âm sinh dương, hay dương sinh âm.

– Bình hành: Nhiều người cố chấp với nghĩa ngang bằng nhau, nhưng không hẹp hòi như vậy, dù là âm dương có đồng với hai bán của một đường kính, thì chiều thuận nghịch âm dương cũng diễn đạt hai chiều hướng tâm và ly tâm (dương bình hướng tâm, âm hành ly tâm).

Sau đây chúng ta tìm hiểu tại sao tay chân bị lạnh theo Y Khoa Ðông Phương áp dụng từ triết lý âm dương vào đời sống.

Lạnh cả chân lẫn tay do thận dương suy

Thận dương suy còn gọi là mạng môn hỏa suy: Bệnh nhân lạnh tứ chi, mặt trắng bệch hay đen kịt, đau vùng thắt lưng, ù tai xuất tinh sớm, rụng răng trước tuổi, mất thính giác, liệt dương, nước tiểu trắng trong, đi tiểu nhiều lần, ngày nhiều hơn đêm, són đái, phù chân, nhạt miệng, rêu lưỡi trắng. Mạch trầm, trì và vô lực.

Bài thuốc
1. Lộc nhung 30 grs
2. Nhục quế 9 grs
3. Từ thạch 30 grs
4. Mẫu lệ 15 grs
5. Bá kích thiên 12 grs
6. Nhục thung dung 12 grs
7. Ngũ vị tử 20 grs
8. Tiểu hồi hương 15 grs
9. Tang phiêu tiêu 9 grs
10. Ích trí nhân 9 grs
11. Phụ tử 6 grs

Nhiệm vụ của các vị thuốc:
– Lộc nhung, nhục quế, bá kích thiên, nhục thung dung, tiêu hồi hương, mẫu lệ: Bổ thận dương.
– Ngũ vị tử: Bổ tì vị.
– Tang phiêu tiêu, ích trí nhân: Bổ thận giảm tiểu nhiều lần.
– Phụ tử: Bổ dương, giúp kiểm soát được đường tiểu không bị són tiểu.

Cách dùng: Tán bột, luyện mật, làm viên, mỗi viên nặng 9 grs, ngày uống hai lần, sáng và tối, mỗi lần một viên, chiêu với rượu hâm nóng, vào lúc bụng trống. Cần uống lâu dài mới có kết quả.

Chân lạnh hơn tay nhất là về đêm

Thận âm suy có nghĩa là phần âm của thận bị giảm xuống dưới mức bình thường, trong khi phần dương vẫn bình thường. Vì phần cách biệt giữa âm và dương là phần dương, mà dương thuộc hỏa, nhưng vì âm suy nên mới có phần hỏa này, nên Ðông y gọi phần này là hư hỏa (giả nhiệt), chứ không phải thực hỏa.

Vì thận âm suy, âm không đủ để thăng lên trên và dương không giáng xuống dưới được nên gây ra chân bị lạnh, nóng ở gan bàn chân, gan bàn tay và phần trước và sau ngực.

Như chúng ta đã biết vạn vật đồng nhất thể, vũ trụ vần xoay từ ngày (dương) sang đêm (âm). Cơ thể con người cũng phải biến đổi nhịp nhàng với vũ trụ, cho nên khi vũ trụ vần xoay từ dương sang âm, nghĩa là từ sáng qua chiều và đêm, nếu cơ thể yếu không thể điều chỉnh theo sự biến đổi của âm dương vũ trụ được, thì phần âm và dương trong cơ thể lại cách biệt nhiều hơn, sẽ gây ra phần giả nhiệt nhiều hơn.

Vì vậy người bị thận âm suy về chiều sẽ mệt mỏi hơn buổi sáng, càng về đêm hư hỏa (giả nhiệt) càng gia tăng, nếu lâu ngày không chữa, thận âm càng suy thêm, hư hỏa càng gia tăng thì gây ra ù tai liên tục.

Theo ngũ hành thận thuộc hành thủy và tim thuộc hành hỏa tương khắc với nhau, một khi thận âm suy sẽ làm tim không có chỗ tựa, nên đập nhanh hơn bình thường vào đêm. Vì tim tàng thần, mà thần không có chỗ để tàng nên gây ngủ chập chờn, ngủ không ngon giấc, nếu thận suy nhiều thì đôi khi thức trắng đêm, đi tiểu nhiều lần nhất là về đêm, phừng mặt để lâu gây nám mặt, dưới mắt quầng đen, miệng, lưỡi khô, khát nước, nhưng không uống nhiều.

Nếu giả nhiệt ít thì tai nghe không rõ, nhiều thì bị ù tai, lở miệng, lở lưỡi làm ăn uống trở ngại, đau miệng, thắt lưng đau và yếu, chân yếu bất lực, chóng mặt, váng đầu, mắt khô và mờ nhất vào buổi chiều, ăn lúc ngon lúc không, mệt mỏi, gây ra thiếu máu không đủ để nuôi bắp thịt gây ra đau nhức, không đủ đưa ra ngoài da gây ra tê tứ chi.

Ðồng thời dương không giáng xuống chân được gây lạnh chân, lạnh làm máu không lưu hoạt bình thường cũng là nguyên nhân làm nhức tứ chi, vai cổ, ra mồ hôi đêm, đàn ông xuất tinh sớm, đàn bà lạnh cảm. Lưỡi đỏ và khô. Mạch vi và sác.

Bài thuốc
1. Sơn thù du 9 grs
2. Quy bản 9 grs
3. Mẫu đơm bì 9 grs
4. Phục linh 9 grs
5. Trạch tả 9 grs
6. Hoài sơn 9 grs
7. Thục địa 18 grs
8. Quế bì 9 grs
9. Ngưu tất 6 grs
10. Ðương quy 9 grs
11. Hà thủ ô 9 grs
12. Nhục thung dung 6 grs

Nhiệm vụ của các vị thuốc:
– Toa thuốc có tác dụng bổ âm. Thục địa: Bổ thận và gia tăng lượng huyết, giảm đau.
– Sơn thù du: Làm ổn gan và giúp tăng cường sức mạnh cho thận.
– Mẫu đơn bì: Giúp thanh nhiệt và giảm huyết nhiệt.
– Sơn dược: Nuôi tì và tăng cường thận.
– Phục linh: Gia tăng tiểu tiện, giảm sưng, giảm thấp nhiệt trong tì.
– Trạch tả: Tăng cường thính giác, lợi tiểu, bổ mắt bớt khô và mờ.
– Quế bì dẫn hỏa quy nguyên, có nghĩa là đưa hỏa xuống chân, chân sẽ ấm và phần thượng tiêu sẽ mát thì tai sẽ nghe rõ hơn.
– Quy bàn: Bổ huyết.
– Ngưu tất: Dẫn thuốc xuống chân.
– Ðương quy, hà thủ ô: Bổ máu.
– Nhục thung dung: Bổ khí, tán hàn, ôn tứ chi.