Những bức tường và trần nhà thờ được nạm toàn bằng vàng miếng (gold mosaics). Từ dưới đất nhìn lên thật là nguy nga, lộng lẫy và được quan sát rõ hơn khi chúng tôi đi xuyên qua nhà bảo tàng và ra các mái hiên.
Sau đó chúng tôi viếng nhà bảo tàng Correr Museum, hoàng cung Doge’s Palace, và nhà thờ Frari, trong đó nhà thờ chứa rất nhiều những tác phẩm nghệ thuật Phục Hưng của Donatello, Bellini và Titian.
Buổi tối chúng tôi nấu món pasta vì không thích các nhà hàng ở Venice, do giá cả đắt đỏ, thực đơn nhập nhằng không rõ ràng (khoai chiên hay xà lách tính thêm tiền), thức ăn ít lại không ngon, bánh pizza thì toàn đông lạnh! Du khách lưu ý điều này khi đến Venice, cũng như đi các thuyền chèo gondola mà chúng tôi gọi là “Gone with dollars!”
Nói về Venice, cho đến nay người ta không hiểu tại sao thành phố Venice lại được xây ngoài biển, bởi vì chưa tìm thấy di chỉ, bút tích nào ghi lại lai lịch đầu tiên hình thành Venice.
Tuy nhiên, vài sử gia căn cứ vào sự kiện lịch sử cho rằng những người dân đầu tiên đến Venice là nhóm người tị nạn từ các thành phố thuộc đế quốc La Mã như Padua, Aquileia, Altino… chạy lánh nạn khi làn sóng quân người Đức sang xâm lăng La Mã (khoảng cuối thế kỷ 5).
Để được an toàn họ phải kéo nhau ra vùng biển cạn lấp đất xây nhà. Họ đã dùng gỗ để làm cừ đóng xuống đầm (giúp ngôi nhà bên trên khỏi bị nghiêng, lún), sau đó xây nền móng bên trên và cất nhà bằng gạch.
Từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 12 Venice phát triển và trở thành một “thành phố quốc gia” (city state) là địa điểm giao thương trọng yếu nối vùng Tây Âu với thế giới bên ngoài, đặc biệt là những nước Hồi Giáo Đông phương.
Nước Cộng Hòa Venice trước năm 1200 từng cai trị một vùng phía Đông bờ biển Adriatic và kẻ thù của họ là những nhóm hải tặc. Venice trở thành đế quốc hùng mạnh sau cuộc Thập Tự Chinh Lần Thứ Tư (Fourth Crusade) chiếm đóng thành Constantinople (hiện nay là Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ) vào năm 1204 để thành lập Đế Quốc La Tinh (Latin Empire).
Cuối thế kỷ 13, Venice là thành phố giàu có phồn thịnh nhất Âu Châu, có thời sở hữu đến 3,300 chiếc tàu với hơn 36,000 thủy thủ.
Cộng Hòa Venice không có vua hay lãnh chúa, mà do Hội Đồng Tối Cao (Great Council) điều khiển. Hội đồng này có nhiệm vụ bổ nhiệm các quan chức lo việc công và bầu chọn một Quốc Hội có từ 200 đến 300 đại biểu. Cơ chế chính quyền Venice thời đó gần giống như chế độ cộng hòa trong thời kỳ cổ La Mã.

Cộng Hòa Venice bắt đầu suy vong từ khi gởi quân sang giúp nước Byzantine ở Constantinople để chống lại quân Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1453. Sau khi thành Constantinople thất thủ vào tay Tướng Thổ Sultan Mehmet II, quân Thổ tuyên chiến với Venice. Trận chiến dằng dai hơn 30 năm khiến Venice tốn hao tiền bạc và nhân lực.
Thêm vào đó, Tây Ban Nha khám phá ra Thế Giới Mới là Châu Mỹ, Bồ Đào Nha tìm được đường biển sang Ấn Độ. Rồi Pháp, Anh, Hòa Lan theo chân Bồ Đào Nha giao thương với Á Châu khiến Venice mất hẳn vai trò thương cảng quốc tế độc quyền ở Âu Châu.
Tệ hại hơn nữa là năm 1630, một trận dịch hạch đã giết đi một phần ba dân số Venice lúc đó là 150,000 người. Từ đó Venice suy tàn, có những lúc thành phố tan hoang xơ xác không người ở.
Năm 1797, Venice chấm dứt là một quốc gia độc lập khi Napoleon Bonaparte kéo quân sang chiếm đóng và ông ký hiệp ước Campo Formio giao thành phố này cho nước Áo.
Đến năm 1805, bằng hiệp ước Pressburg, Venice trở thành một phần của Vương Quốc Ý do Napoleon cai trị.
Năm 1814, Napoleon thất trận trên khắp Âu Châu, Venice rơi trở lại vào tay Áo quốc và năm 1866 sau trận chiến bảy tuần lễ, Venice và toàn lãnh thổ Venetia trở thành một tỉnh của nước Ý Đại Lợi.
Tác giả Trịnh Hảo Tâm đã xuất bản tám quyển ký sự du lịch gồm: Trên Những Nẻo Đường Việt Nam; Miền Tây Hoa Kỳ; Ký Sự Du Lịch Trung Quốc; Mùa Thu Đông Âu; Tây Âu Cổ Kính; Miền Đông Nước Mỹ và Canada; Hành Hương Thánh Địa Do Thái; Nhật Bản, Hồng Kông-Macau, Thái Lan.
Sách dày trên 300 trang, trình bày đẹp, mỗi quyển giá $15 (bao cước phí trong nước Mỹ), xin liên lạc: Trịnh Hảo Tâm (909) 489-2451, email: [email protected].





















































































