Luật Hiến Pháp: Diễn giải và áp dụng Hiến Pháp (tiếp theo)

Luật Sư LyLy Nguyễn

Luật Sư LyLy Nguyễn chuyên về Luật Khánh Tận Chương 7, 11, 13 cho cá nhân và cơ sở thương mại, xóa hết các loại nợ, tranh tụng trước Tòa Khánh Tận và khai phá sản hủy bỏ nợ thuế. Về Hoạch Định Tài Sản, Luật Sư LyLy chuyên thảo di chúc và tín mục (trust), ủy quyền điều hành tất cả tài sản, dặn dò săn sóc y tế khi bất lực và hoạch định kế nghiệp. Về Luật Thuế, Luật Sư LyLy đại diện cho thân chủ trường hợp bị kiểm thuế, xin ngưng tịch thâu tài sản vì thiếu thuế, đại diện biện hộ trước Tòa Án Thuế và điều đình xin giảm nợ thuế. Về Luật Thương Mại, Luật Sư LyLy giúp thành lập công ty và tổ hợp hùn hạp. Ngoài ra Luật Sư LyLy còn rất giàu kinh nghiệm về thuế lợi tức cá nhân, thuế trả nhân công, thuế mua bán và thuế tài sản ở hai cấp liên bang và tiểu bang. Luật Sư LyLy Nguyễn được chứng nhận hành nghề tại Supreme Court of California, United States District Court, United States Court of Appeals for the Ninth Circuit và United States Tax Court. Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở 10221 Slater Avenue, Suite 216, Fountain Valley, California 92708. Điện thoại: (714) 531-7080. website: www.lylylaw.com

Khi thi hành Hiến Pháp Tối Cao Pháp Viện có quyền phán quyết tối hậu trong các vụ cần dẫn chiếu từ Hiến Pháp để xét lại tính chất phù hợp hiến định của vụ án. Như vậy Tối Cao Pháp Viện lấy quyền hạn đó từ đâu để thẩm định hợp hiến hay vi hiến? Quyền hạn này cực kỳ quan trọng vì dựa vào đó Tối Cao Pháp Viện có quyền phá án ngược lại kết quả ở tòa dưới và ra phán quyết chung thẩm. Các tòa án liên bang hay tiểu bang đều có quyền xử theo luật hiến pháp, nhưng bao giờ Tối Cao Pháp Viện cũng có quyền xử lại. Án lệ Marbury v. Madison năm 1803 là một vụ án nổi tiếng trong lịch sử tư pháp Hoa Kỳ về quyền hạn của Tối Cao Pháp Viện trong việc xét lại những phán quyết dựa theo Luật Hiến Pháp.

Vào cuối nhiệm kỳ của Tổng Thống George Washington thì ảnh hưởng chính trị tại tân Liên Bang Hoa Kỳ do hai đảng cầm đầu: Đảng Liên Bang (Federalist Party, tiền thân của đảng Cộng Hòa) đã bầu Tổng Thống Adams và chiếm đa số quốc hội từ 1796 đến 1800. Đối lập là đảng Dân Chủ Cộng Hòa (Democratic Republic Party, tiền thân của đảng Dân Chủ) tiếp đó bầu lên Tổng Thống Thomas Jefferson nhiệm kỳ kế tiếp năm 1800 đồng thời cũng lấy được đa số ở quốc hội. Biết chắc Đảng Liên Bang sắp mất thế lực ở Hành Pháp và Lập Pháp nên Tổng Thống Adams cố dành ngành Tư Pháp, ông chỉ định ngay Bộ Trưởng John Marshall làm Chánh Án Tối Cao. Quốc Hội lúc đó còn do đảng Liên Bang nắm vài ngày chót trước khi bàn giao liền thông qua ngay một đạo luật cho tăng số thẩm phán liên bang tại các tòa dưới và giảm bớt số thẩm phán ở tòa Tối Cao ngăn không cho đảng viên Dân Chủ Cộng Hòa trám vào các ghế trống, đồng thời bổ nhiệm thêm cho thủ đô Washington, D.C. bốn mươi hai tân Thẩm Phán Trị An (Justice of the Peace, tương đương với chức chánh án tòa thượng thẩm).

Vào ngày cuối cùng nhiệm kỳ, Tổng Thống Adams làm lễ cho các đảng viên Liên Bang mới được chỉ định tuyên thệ nhậm chức dưới sự nhìn nhận của Quốc Hội cũ. Ngay đêm trước khi Tổng Thống Jefferson thụ phong, John Marshall lúc ấy vẫn còn là Bộ Trưởng trong nội các cũ, theo truyền thống đã thi hành thủ tục đóng quốc ấn Hoa Kỳ vào các sắc lệnh bổ nhiệm chính thức hóa cho các tân thẩm phán đáo nhậm. Do sự bất cẩn không gởi kịp thời nên một số tân thẩm phán không nhận được sắc lệnh bổ nhiệm trong đêm đó. Sáng hôm sau tân Tổng Thống Jefferson ra lệnh cho tân Bộ Trưởng James Madison bãi bỏ các sắc lệnh bổ nhiệm chưa kịp giao đến tay các tân Thẩm Phán Trị An trong số đó có một vị tên là William Marbury.

Marburry bèn kiện lên Tối Cao Pháp Viện xin tòa ra trát bắt buộc (writ of mandamus, là trát tòa ra lệnh cho viên chức chính phủ phải thi hành lệnh tòa). Mặc dù ông ta kiện năm 1801, nhưng Quốc Hội mới do đảng Dân Chủ Cộng Hòa nắm quyền đã bãi bỏ nhiệm kỳ 1801 đến 1802 của Tối Cao Pháp Viện, nên vụ này phải đợi đến 1803 mới đem ra xử. Cuối cùng Chánh Án Tối Cao John Marshall ra phán quyết rằng những chức vụ được chỉ định thời trước mặc nhiên có hiệu lực ngay từ thời điểm ký sắc lệnh bổ nhiệm và phải được tôn trọng. Khi xử vụ này Tối Cao Pháp Viện lâm vào tình thế lưỡng nan vì nếu không xử Marbury được thắng có nghĩa là Marshall đương nhiên công nhận hành pháp do nội các mới có quyền xóa bỏ lệnh bổ nhiệm trước làm mất mặt đảng Liên Bang, đồng thời lấn át cả Tư Pháp. Nhưng lúc đó Tối Cao Pháp Viện chưa được xác định quyền hạn rõ ràng, nếu Marshall ra lệnh đòi hành pháp bắt buộc thi hành phục hồi chức vụ cho Marbury mà bị Jefferson và Madison từ chối thì còn gây thêm hiềm khích nặng nề và xáo trộn chính trị trầm trọng hơn. Dù đã xử như trên nhưng Marshall rất khôn khéo né ra khỏi cuộc tranh chấp quyền hành chính trị bằng cách dựa vào quyền tái thẩm của tòa án để tìm cách khước từ việc can thiệp đòi phục hồi chức vụ cho Marbury.

Marshall trước nhất phán rằng việc bổ nhiệm chức vụ cho Marbury được kể là đã hoàn tất ngay khi cựu Tổng Thống Adams ký sắc lệnh vì lẽ vào đúng thời điểm đó việc đóng dấu quốc ấn và tống đạt sắc lệnh đến đương sự chỉ là thủ tục hành chánh mà thôi, cho nên dù công tác chuyển giao không hoàn tất thì tình trạng chức vụ của Marbury cũng không thay đổi. Thứ đến là Marbury coi như đã được chức vụ mới nên việc đền bù là trách nhiệm thi hành của tân Bộ Trưởng Madison. Nhưng Marshall đưa ra vấn đề quan trọng là Tối Cao Pháp Viện có thẩm quyền tài phán (jurisdiction) trong vụ này để xử khiếu nại của Marbury không? Marshall dẫn chứng Điều III Hiến Pháp quả có ấn định cho Tối Cao Pháp Viện quyền tài phán tiên quyết, nghĩa là quyền được xử những vụ kiện thẳng đến tòa này nếu đương đơn là một nhân viên ngoại giao ngoại quốc hoặc là một tiểu bang đứng kiện, còn tất cả các trường hợp khác thì không được xử thẳng mà chỉ được xử lại những vụ kháng án sau khi đã có phán quyết ở tòa dưới. Marbury vin vào Bộ Luật Tư Pháp (Judiciary Act) năm 1789 theo đó Tối Cao Pháp Viện có quyền tài phán tiên quyết và có quyền ra trát mandamus bắt buộc các viên chức hành pháp thi hành. Chánh Án Marshall bác bỏ lập luận này viện lý do vì giới hạn trong tổ chức phân quyền chính phủ nên Tối Cao Pháp Viện không áp dụng được Điều III Hiến Pháp. Vì lý do ấy Tòa không có quyền tài phán tiên quyết trong vụ này vì Marbury không thuộc thành phần ngoại giao ngoại quốc hoặc là một tiểu bang nên tòa không có quyền can thiệp vào việc phục chức của đương đơn. Phán quyết này dĩ nhiên thỏa mãn ngay phe Dân Chủ Cộng Hòa, nhưng điều chính yếu rút từ vụ này là việc tự thừa nhận quyền tài phán tối hậu của Tối Cao Pháp Viện là hợp hiến dù chiếu theo Bộ Luật Tư Pháp 1789 hay theo các sắc luật khác của Quốc Hội. Như vậy phán quyết của Marshall vừa khéo léo nhượng bộ hành pháp đồng thời cũng bảo toàn được quyền hạn của Tối Cao Pháp Viện, chỉ có đương sự Marbury đau khổ vì ức lòng mà thôi.

Đối với Marshall việc tìm xem Tối Cao Pháp Viện có quyền khảo xét tình trạng hợp hiến của các luật do lập pháp thông qua thì quá dễ dàng. Toàn dân đã lập ra Hiến Pháp để trở thành luật căn bản, tối thượng và tồn tại vĩnh viễn. Khuynh hướng của Hiến Pháp là hạn chế chỉ ban cho chính phủ liên bang quyền hành vừa đủ, vì thế hành pháp chỉ được sử dụng những quyền đã ấn định trong hiến pháp mà thôi, ngược lại tất cả mọi đạo luật trái với tinh thần Hiến Pháp đều bị hủy bỏ và vô hiệu hóa. Marshall quả đã khôn khéo dựa vào Hiến Pháp kết thúc vấn đề bằng một tam đoạn luận như sau: Hiến Pháp là luật, tòa án diễn giải luật, do đó có nghĩa là tòa án diễn giải Hiến Pháp. Nhưng thực ra những gì giải thích theo lối của Marshall thì lại không đồng quan điểm với nhiều người khác vì luật thường áp dụng ở tòa án và Luật Hiến Pháp có nhiều khác biệt. Nếu Hiến Pháp là luật căn bản thì không nên coi như luật thường. Nói một cách rõ ràng hơn, Hiến Pháp là nền tảng của luật nên việc diễn giải ý nghĩa hiến pháp nếu để cho các ngành khác trong chính quyền sẽ gây khó khăn, ví dụ như Quốc Hội không xác định được một đạo luật có hợp hiến hay không trước khi ban hành.

Do đó sau khi Chánh Án Marshall mãn nhiệm kỳ vào năm 1834, án lệ Marbury v. Madison đã trở thành nền tảng của quyền lực Tối Cao Pháp Viện trong việc xử lại tình trạng hợp hiến của các đạo luật của liên bang và tiểu bang. Dĩ nhiên các ngành lập pháp và hành pháp không thích Tối Cao Pháp Viện nắm quyền này nhưng đến ngày nay đã trở thành thông lệ vững chắc. Sau vụ Brown v. Board of Education xử cấm kỳ thị chủng tộc ở học đường, Tối Cao Pháp Viện đã gặp nhiều chống đối chính thức cũng như không chính thức của một số thành phần thủ cựu cực đoan ở nhiều tiểu bang miền Nam, thí dụ như quốc hội của vài tiểu bang ban hành nghị quyết không thừa nhận án quyết của Tối Cao Pháp Viện, cắt bỏ ngân sách tài trợ cho những trường học không chịu phân chia đen trắng, nhưng cuối cùng Tối Cao Pháp Viện đã cứng rắn bắt hết tiểu bang này đến tiểu bang nọ phải tuân hành nghiêm chỉnh. Về sau qua nhiều án lệ điển hình khác, Tối Cao Pháp Viện xác định lập trường vững chắc rằng “tổ chức tư pháp liên bang là cơ quan tối thượng trong việc diễn giải Luật Hiến Pháp với những nguyên tắc của hệ thống luật hiến định bất di bất dịch theo đó toàn dân tuyệt đối phải tôn trọng vĩnh viễn không một ngoại lệ.” Thời Watergate Tối Cao Pháp Viện đã trải qua nhiều thử thách trong việc điều tra những hành động bất hợp pháp của Tổng Thống Nixon qua vụ án United States v. Nixon (1974), theo đó tòa phán rằng tòa án chứ không phải tổng thống, có quyền xác định sự hợp lệ của những bằng chứng trong vụ Watergate do công tố viên đặc biệt tìm ra mặc dù gặp đối kháng của hành pháp. Việc tra xét những bằng chứng này là phần vụ của tư pháp chiếu theo Điều III Hiến pháp có quyền xử tổng thống. Điểm đáng kể là phán quyết này của Tối Cao Pháp Viện đã khiến Tổng Thống Nixon phải chịu thừa nhận dù rằng hậu quả đưa đến việc từ chức buồn thảm của ông. Điều này đã chứng tỏ quyền lực của nền Tư Pháp Hoa Kỳ, mà ngay cả đến Tổng Thống cũng không tránh khỏi bị Tối Cao Pháp Viện xét xử.

Tuần tới chúng tôi trình bày tìm hiểu về những quyền hiến định đầu tiên của người dân ở Hoa Kỳ được bảo vệ dưới Hiến Pháp. Cũng như thường lệ, người viết xin xác nhận nội dung của những loạt bài tìm hiểu luật pháp này chỉ hoàn toàn được sử dụng với tính cách thông tin (information) để giúp quí độc giả một vài kiến thức tổng quát căn bản về luật pháp Hoa Kỳ mà thôi, và không thể coi như sự liên hệ của luật sư với thân chủ (attorney-client relationship). Do đó nếu có vấn đề liên hệ đến luật, quí độc giả vẫn cần phải thảo luận với một luật sư chuyên môn về trường hợp của quí vị.

Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với LyLy Nguyễn, Esq. tại văn phòng chính ở địa chỉ 10221 Slater Avenue, Suite 216, Fountain Valley, CA 92708, Điện thoại: (714) 531-7080, website:lylylaw.com.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT