Luật Sư LyLy Nguyễn chuyên về Luật Khánh Tận Chương 7, 13 cho cá nhân và cơ sở
thương mại, xóa hết các loại nợ, tranh tụng trước Tòa Khánh Tận và khai phá sản hủy
bỏ nợ thuế. Về Hoạch Định Tài Sản, Luật Sư LyLy chuyên thảo Di Chúc và Tín Mục
(trust), ủy quyền điều hành tất cả tài sản, dặn dò săn sóc y tế khi bất lực và hoạch định
kế nghiệp. Về Luật Thuế, Luật Sư LyLy đại diện cho thân chủ trường hợp bị kiểm thuế,
xin ngưng tịch thâu tài sản vì thiếu thuế, đại diện biện hộ trước Tòa Án Thuế và điều
đình xin giảm nợ thuế. Về Luật Thương Mại, Luật Sư LyLy giúp thành lập công ty và tổ
hợp hùn hạp. Ngoài ra, Luật Sư LyLy còn rất giàu kinh nghiệm về thuế lợi tức cá nhân,
thuế trả nhân công, thuế mua bán và thuế tài sản ở hai cấp liên bang và tiểu bang. Nếu
cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở 17151Newhope Street, Suite 113, Fountain Valley, California 92708. Ðiện thoại: (714) 531-7080. website: www.lylylaw.com
Luật Sư LyLy Nguyễn

Ở Mỹ, ai cũng biết Cơ Quan Thuế Vụ Liên Bang (Internal Revenue Service gọi tắt là
Sở Thuế IRS) có trọng trách thu thuế trên lợi tức của mọi cá nhân do làm việc, kinh
doanh, đầu tư hoặc tất cả khoản tiền khác từ bất cứ nguồn nào đem đến. IRS thi hành
nhiệm vụ thu thuế bằng cách nào mà họ thấy đúng luật và công bằng cho người thọ
thuế.
Vì lý do ấy nên sinh ra hình thức kiểm thuế là một phương cách hữu hiệu của chính
quyền trong việc thúc đẩy người dân thi hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ đóng thuế. Người
ta thường gọi là “kiểm” (audit), nhưng IRS thích dùng mỹ từ “khảo nghiệm”
(examination) nghe cho nhẹ nhàng hơn. Cho dù gọi thế nào chăng nữa, thì thủ tục thi
hành các vụ kiểm thuế đều diễn tiến như nhau.
Phần lớn tờ khai thuế lợi tức cá nhân hằng năm của mọi người tại Hoa Kỳ đều được
IRS chấp nhận dễ dàng không một lời hỏi han. Theo thống kê thì vận hạn của một cá
nhân “bị” kiểm thuế vào khoảng 1%, tuy nhiên trong suốt cuộc đời của người ấy thì rủi
ro bị “sao IRS” chiếu có thể lên tới 50%.
Thông thường, lợi tức càng cao hoặc tự làm việc thì càng dễ bị kiểm. Thí dụ, một người
làm nghề tự do trong năm kiếm được trên $90,000 thì dễ bị IRS nhằm vào nhiều hơn so
với một người làm cho hãng xưởng với số lương $45,000.
Tội nghiệp cho mấy ông bà thanh tra của Sở Thuế IRS. Không cần đánh cuộc ai cũng
biết chắc chắn 100% rằng không có người dân nào thích bị… kiểm thuế. Thanh tra sở
thuế đều hiểu là nhiệm vụ của họ không mấy được đại chúng “hoan nghênh,” dù rằng
họ không cố tình làm khó người thọ thuế hoặc cố ý làm cho vụ kiểm thuế trầm trọng
hơn.
Họ cũng phải chống chọi với cả một guồng máy quan liêu thư lại và thường bị đau đầu
trước cả chồng luật thuế mù mờ khó hiểu luôn thay đổi như xoay chong chóng. Ngay
đến cả người thọ thuế, tuy không làm gì sai trái nhưng một khi bị “dính” vào cuộc kiểm
thuế thì ai nấy đều lo âu, vì bao giờ các vụ kiểm thuế đều vừa rắc rối khó hiểu, vừa gây
bực bội chán nản, vừa làm gián đoạn công ăn việc làm và nhất là làm mất nhiều thì giờ
cho “nạn nhân.”
Vậy kiểm thuế là gì? Đây là một thủ tục pháp luật. Theo đó, Sở Thuế IRS duyệt xét
xem người khai thuế có báo cáo đầy đủ mọi lợi tức có trong năm hay không. Lợi tức
được kể là mọi thứ tiền kiếm ra rồi trừ đi các khoản tiền theo luật được phép khai giảm
(deduction), miễn trừ (exemption) hay các khoản chi phí “cho lại” (credit) như một
phần tiền chi giữ trẻ hay học phí chẳng hạn. Nếu IRS phanh phui ra các dữ kiện khai
không đúng hoặc không chứng minh được, thì sẽ đánh thêm thuế sai biệt cộng với tiền
lãi và nhất là còn kèm theo một khoản tiền phạt.
Để chu toàn được nhiệm vụ thu không sót thuế, Quốc Hội đã ban cho IRS quyền hạn
rất rộng lớn trong việc kiểm tra mọi hồ sơ, sổ sách kế toán, cùng quyền thẩm vấn cá
nhân người khai thuế và những nhân vật có liên quan khác về các hoạt động tài chính
của người bị kiểm, với mục đích điều tra xem người này có cố tình gian dối hay qua
mặt chính phủ hay không. IRS sẽ duyệt xét các đề mục liệt kê trong thư thông báo kiểm
thuế hoặc sẽ tỉ mỉ tra cứu các đề mục khác mà họ cảm thấy không rõ ràng. Dĩ nhiên,
luật thuế buộc đích danh người khai có bổn phận phải chứng minh rằng, các dữ kiện báo
cáo trong tờ khai thuế đều đúng sự thật. Tuy nhiên, việc chứng tỏ các mục khai báo
trong tờ khai thuế là đúng không phải là điều dễ dàng.
Theo thống kê thì Sở Thuế IRS có tỷ số thắng 80% tổng số các vụ kiểm, phần lớn với lý
do người khai không chứng minh đúng mọi dữ kiện mà họ đã khai. Các thanh tra IRS
cho biết rằng, phần lớn các lỗi lầm sai sót do người khai thuế không biết lưu giữ các
chứng từ liên hệ như biên lai, phiếu mua bán… chứ không phải vì thiếu thành thật.
Tổng kết hằng năm sở thuế IRS kiểm soát chừng ba triệu tờ khai thuế, trong số đó có
kết cuộc khoảng trên hai triệu vụ phải trả thêm tiền thuế cho IRS.
Như vậy, ai là người bị kiểm thuế? Cơ quan IRS có ba phương pháp chính chọn tờ khai
thuế để kiểm tra. Phương pháp thứ nhất là lựa bất chợt (random selection). Với lối lựa
bất chợt này, IRS đã đẩy mạnh tinh thần khai thuế đúng luật. Vì lý do bất cứ tờ khai
thuế nào cũng có cơ bị lựa ra kiểm, cho nên mọi người thọ thuế đều cố gắng khai thành
thật hơn. Tương đối rất ít tờ khai thuế lựa theo cách này có chứa sai sót đáng kể, nhưng
IRS thường dùng kết quả của các cuộc kiểm thuế do cách lựa bất chợt đo lường tinh
thần tuân hành luật pháp của dân khai thuế, để cập nhật và cải tiến toàn bộ hệ thống
thuế vụ.
Phương pháp thứ hai là sử dụng máy điện toán tự động lọc ra những tờ khai thuế nào
khả nghi, có ẩn chứa dữ kiện sai sót hoặc gian dối. Các thảo chương điện toán
(computer programs) thiết trí trong hệ thống đều được cập nhật và cải tiến càng ngày
càng thêm tinh vi, nhờ vào kinh nghiệm mà IRS rút tỉa trong khi thi hành luật thuế.
Phần lớn, các tờ khai lọc ra theo lối này đều chứa những điểm bất thường báo động cho
giới chức thanh tra thuế để mắt đến. Thí dụ điển hình, mục khai giảm về chi phí giải trí
(entertainment expenses) trong hoạt động nghiệp vụ. Mục này thường dễ bị lạm dụng
khai gian cho nên máy điện toán được cài đặt lựa ra những tờ khai thuế chứa đựng con
số khai giảm chi tiêu giải trí quá đáng.
Một thí dụ khác, khi IRS rút kinh nghiệm từ những cuộc kiểm thuế bất chợt và khám
phá ra rằng, một số đông người thọ thuế đã hiểu lầm một điều luật thuế nào đó; lúc ấy
máy điện toán sẽ được lệnh tách ra tất cả các tờ khai thuế có áp dụng điều luật ấy.
Phương pháp lựa chọn tờ khai thuế theo lối này có khuyết điểm quan trọng là vì tính
chất hoàn toàn “máy móc” và “thiếu nhân tính,” có nghĩa là máy điện toán mò ra bất cứ
tờ khai thuế nào có dữ kiện phù hợp với điều kiện thanh lọc do thảo trình cài vào thì
đều lôi ra hết. Do đó, một số người thọ thuế có khoản khai giảm chi phí hàng năm khá
lớn, tuy có lý do khai rất hợp pháp nhưng vẫn bị liệt trong loại “khả nghi” cho nên năm
nào cũng bị gọi đi kiểm thuế. Thật tình, IRS muốn tránh không kiểm một hồ sơ nhiều
lần với cùng một lý do, cho nên trong luật thuế có biệt lệ nếu trong hai năm kiểm thuế
liên tiếp mà IRS không tìm ra sai sót, thì cuộc kiểm thuế phải chấm dứt ngay không cần
tra xét nữa. Nếu ai có bị rơi vào trường hợp này, thì nên nhắc IRS để họ lưu ý hủy bỏ.
Phương pháp thứ ba của IRS trong việc lựa chọn hồ sơ kiểm thuế là đối chiếu dữ kiện
khai trong tờ khai thuế với những nguồn tin tức khác. Thí dụ điển hình, IRS thường so
sánh lợi tức trong tờ khai thuế với số tiền lương trả cho nhân công trong phiếu W-2 do
công ty hay sở làm báo cáo.
Diễn tiến một vụ kiểm thuế: Cuộc kiểm thuế khởi sự ngay từ lúc người thọ thuế nhận
được thư của Sở Thuế IRS thông báo đương sự được lựa chọn để kiểm tra tờ khai thuế
đã nộp trong năm thuế nào đó. Cuộc kiểm thuế nhiều khi có thể thực hiện hoàn toàn
qua bưu tín, nếu IRS chỉ muốn hỏi thêm một vài thắc mắc nhỏ.
Cuộc kiểm thuế cũng có thể diễn ra ở văn phòng IRS, nếu họ muốn hỏi han nhiều hơn.
Nhiều khi, cuộc kiểm thuế cũng có thể diễn ra ngay tại nhà hoặc nơi làm việc của người
thọ thuế, những vụ kiểm thuế này gọi là “kiểm thuế ngoài” (field audit). Người thọ thuế
cũng có quyền yêu cầu cuộc phỏng vấn được chuyển sang một chi nhánh IRS thuộc địa
phận khác, nếu thấy thuận tiện hơn cho đương sự.
Theo luật, một tờ khai thuế sẽ không bị kiểm tra sau ba năm tính từ ngày nguyên thủy
nộp tờ khai cho IRS. Nếu gởi tờ khai trước ngày mãn hạn 15 Tháng Tư năm ấy, thì thời
hạn ba năm tính từ ngày 15 Tháng Tư năm gởi tờ khai. Thí dụ, giới hạn kiểm thuế cho
năm thuế 2005 có tờ khai nộp vào ngày 15 Tháng Tư, 2006 sẽ là 15 Tháng Tư,2009.
Tuy nhiên, trong một vài trường hợp đặc biệt thì giới hạn ba năm có thể được nới thêm.
Sở thuế IRS có quyền đòi hỏi khai trình mọi chứng từ khai thuế lên tới sáu năm nếu
IRS khám phá ra rằng mức lợi tức mà người thọ thuế khai báo ít hơn lợi tức thật từ 25%
hay hơn nữa. Đồng thời, IRS cũng có quyền kiểm thuế vô hạn định đối với những người
không gởi tờ khai thuế hàng năm, hoặc với những cá nhân mà IRS xét thấy có bằng
chứng man khai hoặc có dụng ý cố tình lừa đảo.
Các thanh tra IRS bao giờ cũng muốn thấy mọi chừng từ liên hệ đến tờ khai thuế mà họ
đang kiểm soát. Điều này đưa đến một câu thường hỏi là người khai thuế phải giữ các
chứng từ liên hệ trong thời hạn bao lâu. Câu trả lời rõ ràng là ba năm rưỡi, bởi vì lý do
sau thời gian đó IRS ít khi nào tái kiểm tra người đã từng bị kiểm như vừa đề cập ở
trên. Nếu các chứng từ còn có ảnh hưởng lâu dài đến các kỳ khai thuế một vài năm tới
thì người thọ thuế nên giữ lâu hơn thời hạn ba năm rưỡi nói trên. Thí dụ, người mua
chứng khoán nên lưu giữ giấy tờ mua cho tới khi bán ra số chứng khoán đó, bởi vì trong
kỳ khai thuế năm tới vẫn phải báo cáo số tiền vốn đầu tư của chứng khoán đó có lời hay
bị lỗ.
Kỳ tới, chúng tôi sẽ tiếp tục trình bày kết quả có thể xảy ra sau vụ kiểm thuế cùng
quyền hạn của người thọ thuế trong một vụ kiểm thuế.
Cũng như thường lệ, người viết xin xác nhận nội dung của những loạt bài tìm hiểu luật
pháp này chỉ có mục đích sử dụng với tính cách thông tin (information) giúp quý độc
giả một vài kiến thức tổng quát về luật pháp Hoa Kỳ mà thôi và không thể coi như liên
hệ của luật sư với thân chủ (attorney-client relationship). Do đó, nếu có vấn đề liên
quan đến luật, quý độc giả vẫn cần thảo luận với một luật sư chuyên môn về trường
hợp của quý vị.





















































































