Vài cách vay tiền phát triển kinh doanh đặc biệt

Luật Sư LyLy Nguyễn chuyên về Luật Khánh Tận Chương 7, 13 cho cá nhân và cơ sở thương mại, xóa hết các loại nợ, tranh tụng trước Tòa Khánh Tận và khai phá sản hủy bỏ nợ thuế. Về Hoạch Định Tài Sản, Luật Sư LyLy chuyên thảo Di Chúc và Tín Mục (trust), ủy quyền điều hành tất cả tài sản, dặn dò săn sóc y tế khi bất lực và hoạch định kế nghiệp. Về Luật Thuế, Luật Sư LyLy đại diện cho thân chủ trường hợp bị kiểm thuế, xin ngưng tịch thâu tài sản vì thiếu thuế, đại diện biện hộ trước Tòa Án Thuế và điềuđình xin giảm nợ thuế. Về Luật Thương Mại, Luật Sư LyLy giúp thành lập công ty và tổ hợp hùn hạp. Ngoài ra, Luật Sư LyLy còn rất giàu kinh nghiệm về thuế lợi tức cá nhân, thuế trả nhân công, thuế mua bán và thuế tài sản ở hai cấp liên bang và tiểu bang. Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở 17151Newhope Street, Suite 113, Fountain Valley, California 92708. Ðiện thoại: (714) 531-7080. website: www.lylylaw.com

Luật Sư LyLy Nguyễn

Tại Hoa Kỳ có nhiều cơ sở cho tư nhân vay tiền kinh doanh được gọi bằng danh từ rất kêu là “nguồn vay trên căn bản tài sản.” (Hình minh họa: Graeme Robertson/Getty Images)

Không kể lối vay tiền thông thường qua ngân hàng để gây vốn khuếch trương nghiệp vụ
như đã trình bày kỳ trước, còn có hai cách đặc biệt khác là vay trên căn bản tài sản và
vay chính phủ. Ngoài ra, một doanh nghiệp đang trên đà phát triển muốn nới rộng thị
trường nhưng không đủ tài nguyên còn có thể sử dụng đến phương thức “đại lý.”

1-Vay trên căn bản tài sản (asset-based lenders)

Tại Hoa Kỳ có nhiều cơ sở cho tư nhân vay tiền kinh doanh được gọi bằng danh từ rất
kêu là “nguồn vay trên căn bản tài sản.” Thực chất của các cơ sở này là cho vay với điều
kiện dùng tài sản nào đó có giá trị cao hơn số tiền vay để bảo đảm. Nói một cách giản
dị hơn, đây là hình thức dùng tài sản “thế chấp” (collateral).

Thế chấp không phải là cầm cố, người vay không cần giao nộp món tài sản đó cho chủ
nợ, trừ phi không trả tiền hàng tháng theo như ký kết. Tương tự như mua xe hơi vay tiền
ngân hàng, người mua lấy chính cái xe bảo đảm cho số tiền vay. Sau đó người chủ hoàn
toàn có quyền chiếm hữu và sử dụng chiếc xe với hợp đồng trả đều mỗi tháng một số
tiền cho đến khi dứt nợ thì ngân hàng sẽ giải tỏa và giao lại trọn chủ quyền cho sở hữu
chủ.

Đối với lối vay tiền kinh doanh, những “nguồn vay trên căn bản tài sản” thường bắt
buộc người vay phải đem tài sản ra bảo đảm nhất là với những nghiệp vụ non nớt vừa
gia nhập thị trường và bị ngân hàng từ chối. Cũng có một số nghiệp vụ mới “ăn nên làm
ra,” phát triển khá mau lẹ nhưng ngân hàng vẫn “chê” vì chưa tạo đủ tín nhiệm như
những xí nghiệp lâu năm có quá trình tín dụng tốt cho nên cuối cùng họ vẫn phải tìm
đến các nguồn vay này.

Nói chung, nghiệp vụ nào phải tìm vay kiểu lấy tài sản thế chấp là vì phần lớn bị giới
cho vay xếp vào hạng có “độ nguy cơ cao” (high risk), cho vay rồi lỡ làm ăn thất bại thì
có thể mất luôn tiền vốn khó lòng lấy lại. Do đó, các cơ sở cho vay trả công cho “dịch
vụ tài trợ” mà họ cung cấp. Phần lớn giới này thường dùng trương mục thu nhập
account receivable) và hàng hóa tồn kho (inventory) của người vay để làm bảo đảm.

Một số khác cũng dùng bất động sản hay các máy móc trang cụ thế chấp, bình thường
họ không đụng tới, chỉ đến khi xảy ra tai biến thì lúc đó chủ nợ sẽ tịch biên các vật thế
chấp đem phát mãi để lấy về tiền cho vay cả vốn lẫn lãi.

Các “nguồn vay trên căn bản tài sản” điển hình tại hầu hết các tiểu bang gồm có:

– Công ty tài chánh thương mại (commercial finance companies) – Loại này đặc biệt
chuyên phục vụ cho giới vay thuộc hạng “nguy cơ cao.” Họ lấy lãi cao hơn hẳn các
ngân hàng quy ước, vì sợ người vay làm ăn thất bại không có tiền trả nợ nên dễ có cơ bị
mất vốn. Tuy nhiên, các công ty tài chánh thương mại này thường dầy dạn kinh nghiệm
đối đầu với trường hợp bất trắc, cho nên họ rất thành thạo trong việc đánh giá tài sản
của nghiệp vụ kinh doanh lụn bại, biết rõ món nào có thể thanh toán mau lẹ và đáng giá
bao nhiêu. Vì thế họ dễ dàng cho hạng “nguy cơ cao” vay tiền nếu hội được một số tiêu
chuẩn riêng của họ đặt ra.

-Công ty tư bản kinh doanh (venture capital companies) – Đây là loại công ty đặc biệt
dành cho các nghiệp vụ vừa khởi sự hoặc đã thành lập, nhưng muốn bành trướng vào
một thị trường mới hứa hẹn nhiều thử thách. Công ty loại này thường cung cấp vốn cho
các nghiệp vụ không đủ điều kiện vay ở ngân hàng thương mại, nhưng có nhiều triển
vọng thành công trên thương trường. Họ biết xác định khả năng sinh tồn của doanh
nghiệp vừa nổi, cho nên muốn đầu tư bằng cách góp tiền chung vốn. Công ty này muốn
mua cồ phần như một hình thức góp vốn và đổi lại đòi hỏi được quyền nắm giữ vai trò
quan trọng trong tư thế điều hành và quản lý là điều làm cho các chủ nghiệp vụ mới
không mấy ưa nên thường nguyền rủa thậm tệ.

Thông thường, chỉ có khoảng một trong số mười công ty cho vay vốn kinh doanh thâu
hoạch được lợi tức bằng cách đầu tư như vậy, cho nên họ rất kén chọn trong việc bỏ
vốn. Nhiều hãng đặc biệt chỉ chuyên góp vốn với một số thương nghiệp trong vài lãnh
vực riêng mà họ có kinh nghiệm.

2-Vay tiền các nguồn tài trợ công (public financing)

Vay tiền các nguồn tài trợ công nói chung là vay tiền chính phủ để kinh doanh buôn
bán. Cả chính quyền liên bang lẫn tiểu bang đều có vài chương trình trợ giúp cho các
doanh nghiệp có vốn hoạt động sao cho thành công trên thương trường. Một nỗ lực mà
chính phủ muốn khuyến khích các tân doanh gia là tạo điều kiện cho họ dễ dàng vay
vốn làm ăn buôn bán.

Cấp liên bang có “Cơ Quan Quản Trị Hành Chánh Tiểu Thương Hoa Kỳ” (The United
States Small Business Administration gọi tắt là SBA) giúp cho những tiểu thương gia
nào hội đủ tiêu chuẩn sẽ được vay tiền, bằng cách đứng ra bảo đảm cho họ với ngân
hàng thương mại nếu người vay không trả được thì chính phủ sẽ trả. SBA nhận bảo đảm
cho người vay từ 85% tới 90% tổng số vay tùy theo cỡ của món tiền tới mức tối đa là
$750,000.

Thông thường, rất khó lòng được SBA chấp thuận bảo đảm nếu tân doanh gia không bỏ
ra một số vốn đầu tư đáng kể. Ngoài sự trợ giúp của SBA, còn có một số chương trình
tài trợ doanh nghiệp khác của chính quyền ở mọi cấp liên bang, tiểu bang hay địa
phương nhưng nhằm vào các loại kinh doanh đặc biệt, thí dụ như chương trình giúp vốn
buôn bán cho giới tiểu thương gốc thiểu số.

3-Nới rộng thị trường qua hình thức đại lý (franchise)

Chúng tôi đã từng đề cập đến luật đại lý trong vài bài trước, nay xin tóm lược một số
chi tiết liên quan đến việc phát triển nghiệp vụ qua hình thức đại lý.

Cũng cần nói rõ, đại lý không phải là cách gây vốn kinh doanh mới mẻ gì nhưng đây
chính là lối giúp cho các doanh nghiệp hiện hữu muốn phát huy nhanh chóng vào thị
trường mới bằng chi phí vừa phải. Đại lý rất thích hợp cho tư nhân hay hãng tư có sản
phẩm trên thị trường tại một địa phận hay vùng nào đó. Khi doanh nghiệp nào có nhãn
hiệu cầu chứng bán bản quyền sử dụng nhãn hiệu đó cho người phân phối (distributor)
sản phẩm hay dịch vụ ấy, thì người này có thể trở thành đại lý. Thông thường, doanh
nghiệp bán quyền đại lý đồng thời cũng phải trợ giúp ngoài thị trường cho người mua
đại lý.

Quyền đại lý, dưới sự chi phối của cả luật liên bang lẫn tiểu bang. Do đó, sự hiểu biết
về luật đại lý rất quan trọng cho mọi doanh gia trước khi muốn khởi sự một nghiệp vụ
có thể lập đại lý hoặc có thể trở thành đại lý cho nghiệp vụ khác. Vì các điều luật đại lý
thường được thảo ra bằng những ngôn từ có nghĩa rộng, cho nên có nhiều người bỗng
dưng thấy mình bị rơi vào trường hợp vi phạm luật pháp, mặc dù trên thực tế họ không
hề tham gia vào những hoạt động có tính chất đại lý.

“Ủy Ban Mậu Dịch Liên Bang” (Federal Trade Commission gọi tắt là FTC) là cơ quan
thi hành luật đại lý. Luật này không có điều khoản nào bắt buộc doanh nghiệp phải
đăng ký hoặc xin phép được bán hay mua quyền đại lý, mà chỉ áp dụng cho hoạt động
thương mại có ảnh hưởng giữa thương nghiệp ở tiểu bang khác nhau.

Mặc dù có nhiều khác biệt giữa luật đại lý liên bang và tiểu bang, điều quan trọng là
tên hiệu của công ty không cần thiết mà chỉ cần quan hệ doanh nghiệp phải phù hợp với
định nghĩa căn bản của quyền đại lý. Điều này có nghĩa là nghiệp vụ nào tham dự vào
“hùn hạp” (partnership), thì cũng có nghĩa là tham dự khế ước “đại lý.”

Điều luật FTC có định nghĩa đại lý là một “quan hệ thương mại liên tục” (continuing
commercial relationship) giữa hai hay nhiều thành viên. Quan hệ thương mại liên tục
này được diễn giải như một quan hệ, theo đó người bán đại lý (gọi tắt là “người cấp”)
không những chỉ bán lô hàng đầu tiên cho người mua đại lý (gọi tắt là “người đại lý”),
sau đó còn phải tiếp tục bán thêm theo kiểu “tái đặt hàng” (reorder) để người đại lý có
khả năng duy trì hoạt động thương nghiệp một cách liên tục.

Dưới điều luật này có ba loại “quan hệ thương mại liên tục” căn bản:

-Đại lý theo hình thức nghiệp vụ (business format franchises) được định nghĩa là một
chương trình doanh nghiệp đã thiết lập sẵn sàng, do chính người cấp sáng tạo và phát
triển ra, thí dụ như các tiệm bánh McDonald là điển hình cho loại đại lý này.

-Đại lý sản phẩm (product franchises) theo đó người cấp bán sản phẩm mang nhãn hiệu
của mình cho người đại lý rồi sau đó đến lượt người này bán lại cho công chúng cũng
dưới cùng một nhãn hiệu. Công ty “mẹ” do đó duy trì được một phần kiểm soát đại lý
trong việc bán hàng hóa ra thị trường theo như giao kết.

-Cơ hội kinh doanh (business opportunity ventures) theo đó người cấp giữ lại được
nhiều quyền kiểm soát hơn là các kiểu đại lý kể trên. Theo kiểu này, người đại lý bắt
buộc phải mua bán hàng hóa hay dịch vụ của người cấp hoặc một công ty khác được chỉ
định. Người cấp đồng thời phải thu xếp địa điểm bán hàng, tìm thị trường và đôi khi
còn phải cung cấp nhân sự cho người đại lý. Thí dụ, điển hình cho loại này là đường
dây máy bán tự động (vending machine route). Công ty “mẹ” tìm địa điểm đặt máy rồi
bán bánh kẹo cho người đại lý, nhưng người đại lý sẽ tới thu tiền và tiếp tế hàng vào
máy.

Cũng như thường lệ, người viết xin xác nhận nội dung của những loạt bài tìm hiểu luật
pháp này chỉ có mục đích sử dụng với tính cách thông tin (information) giúp quý độc
giả một vài kiến thức tổng quát về luật pháp Hoa Kỳ mà thôi và không thể coi như liên
hệ của luật sư với thân chủ (attorney-client relationship). Do đó, nếu có vấn đề liên
quan đến luật, quý độc giả vẫn cần thảo luận với một luật sư chuyên môn về trường
hợp của quý vị.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT