Làm cách nào để ‘mở cửa’ trở lại? Cần một ‘đội quân Y Tế Công Cộng’

Anna Maria Barry-Jester (California Healthline)

Dịch bệnh COVID-19 đã phô bày hàng loạt rạn vỡ lớn trong nền tảng hệ thống y tế công cộng Hoa Kỳ. Để đưa đất nước trở lại đời sống bình thường, theo các chuyên gia, đòi hỏi đầu tư lớn vào “Public Health 101”. Đó là, huấn luyện một đội ngũ nhân viên để theo dõi những người bị nhiễm virus và ngăn chặn không để họ lây bệnh cho người khác.

Hồi tháng trước, để đương đầu với bệnh viện quá tải và lây lan không kiểm soát được của dịch COVID-19, bảy quận Vùng Vịnh San Francisco (California) cùng cơ quan y tế thành phố đã chung tay trở thành vùng đầu tiên trong nước Mỹ thông qua luật mạnh mẽ ra lệnh cho hàng triệu người phải ở trong nhà và đóng cửa hàng loạt doanh nghiệp địa phương.

Điều này đã làm người dân bị sốc, nhưng chuyên gia y tế toàn quốc hoan nghênh bước đi mạnh dạn này và từ đó đã được khắp nơi áp dụng theo.

Họ cũng nói không thể tiếp tục tình trạng này mãi mãi. Vì thế những nhà lãnh đạo “Vùng Vịnh San Francisco,” cùng với lãnh đạo toàn quốc, đang tìm cách làm sao có thể trở lại đời sống bình thường mà không gây ra một làn sóng nhiễm bệnh và số người chết thảm khốc.

Luật “ở yên tại nhà” là cú giáng mạnh đáp trả hai sự thật cùng lúc: Một con virus, chưa được người ta hiểu biết nhiều, đã làm tử vong lớp người dễ bị tổn thương và hệ thống y tế công cộng yếu kém, khiến không thể theo dõi và ngăn chặn lây lan của COVID-19.

Với những gì biết được loại virus mới này đã tác động lên hệ thống y tế yếu kém của Hoa Kỳ – bệnh viện không đủ giường, máy thở và dụng cụ bảo hộ – điều mà nhiều viên chức xem như những vết nứt của nền tảng y tế công cộng.

“Không có gì phải ngạc nhiên,” theo lời Laura Biesiadecki, giám đốc cao cấp chuẩn bị, phục hồi và đáp ứng của National Association of County and City Health Officials (Hiệp Hội Viên Chức Y Tế Quận và Thành Phố), đại diện của hơn 3,000 cơ quan y tế địa phương.

“Điều quý vị thấy trong vụ COVID-19 là sự trầm trọng của những rạn nứt sẵn có mà những người trong nền y tế công của cộng đồng đều biết từ nhiều năm.”

Tuy nhiên, có sự đồng ý sâu rộng là công việc căn bản của y tế công cộng (khả năng truy tìm những người bị virus và ngăn họ không để lây sang cho người khác) là cốt lõi để mở lại trường học và doanh nghiệp. Sách lược này được sự thừa nhận của giám đốc “Trung Tâm Kiểm Tra và Ngừa Bệnh,” mới đây đã phát biểu với NPR rằng trung tâm đang lập kế hoạch điều phối nhiều điều tra viên về dịch bệnh.

Chúng tôi có nói chuyện với hơn hai chục chuyên gia y tế để nghe ý kiến của họ về nguồn lực y tế cần thiết hầu mở cửa kinh tế trở lại.

1. Điều gì khả thi?

Có thể hiếm khi Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) và các chuyên gia “lề phải” và “lề trái” tại Hoa Kỳ có cùng giải đáp cho một bài toán, nhưng đó là trường hợp mở cửa nền kinh tế trở lại khi đối diện với COVID-19.

Nguyên tắc đơn giản: Giữ ổn định số người mắc bệnh (qua giai đoạn giãn cách xã hội hiện hành), và bảo đảm bệnh viện có thể chữa trị số ca bệnh mà họ đang có. Sau đó, có phương án sẵn sàng hầu chặn những ca nhiễm mới ngay lúc sơ khởi để dịch không tái bùng phát.

Tất cả bắt đầu bằng xét nghiệm, và nhiều quốc gia đã cải tiến chương trình y tế công cộng sau dịch chết người SARS 2003 chừng như được lợi bây giờ.

Chẳng hạn như Singapore đã tăng tốc xét nghiệm những ca mới nhiễm COVID-19 và xét nghiệm kháng thể của ca nhiễm lần trước, và Nam Hàn đã xét nghiệm hàng chục ngàn người trong những tuần sau khi phát hiện ca nhiễm đầu tiên.

Nam Hàn, cũng như nhiều quốc gia Á Châu khác, dựa vào hàng trăm nhân viên có dữ liệu “vị trí điện thoại,” thông tin qua thẻ tín dụng và băng thu hình an ninh để tìm những ai có tiếp cận với người bị bệnh. Nhà chức trách cho người dân biết khi có người bị bệnh trong khu dân cư của họ. Mặc dù Nam Hàn và Singapore báo cáo có tăng đột biến gần đây những ca du nhập từ nước ngoài, cả hai quốc gia không bị ảnh hưởng về kinh tế và sức khỏe sút giảm nhiều như Hoa Kỳ.

Về chính trị và văn hóa, các quốc gia Âu Châu dễ dàng so sánh với Hoa Kỳ. Nước Đức không những phổ biến xét nghiệm rộng rãi ngay từ sớm, mà còn gởi đội ngũ y tế đến nhà dân để kiểm tra triệu chứng và can thiệp tích cực ngay khi thấy có triệu chứng.

Nước Ý, có số tử vong gấp đôi Trung Quốc (dù dân số chỉ dưới 5% của Trung Quốc), cũng có những bài học cho Hoa Kỳ, và không phải tất cả đều nghiệt ngã.

Cảnh tượng tại Lombardy (Ý), nơi các bác sĩ phải chia việc chăm sóc bệnh trong nhiều tuần, đưa ra quyết định ai được sống và ai phải chết thật bi ai. Nhưng tại Veneto cạnh bên, dù có ca bệnh đầu tiên cùng ngày với Lombardy, tình hình khá hơn nhiều, theo bác sĩ Nancy Binkin, giáo sư tại UC San Diego, người đã có 12 năm kinh nghiệm với hệ thống y tế công cộng của Ý trong 20 năm làm việc với CDC.

Bác sĩ Binkin và đồng nghiệp nghi rằng sự khác biệt do việc sử dụng những phương án trong y tế công để ngăn chặn dịch bệnh ngay từ đầu tại Veneto. Điều đó bao gồm xét nghiệm hấu hết mọi người trong thành phố và nơi có ca nhiễm đầu tiên, cách ly thành phố, và tận dụng những “assistensi sanitari,” hoặc trợ tá chăm sóc sức khỏe, để truy tìm những người bị bệnh và bảo đảm cô lập họ.

Ở Veneto có rất ít nhân viên y tế bị bệnh và tổng số người chết cũng ít so với Lombardy là nơi nổi tiếng về phẩm chất bệnh viện và chăm sóc y tế.

Những nơi ít ca mắc bệnh có điểm chung không chỉ là giãn cách xã hội, bà Binkin nói, mà còn là những chiến thuật tích cực để truy tìm và cô lập những người bị nhiễm COVID-19.


(Hình: Hannah Norman/KHN Photo Illustration; NIAID)

2. Hoa Kỳ so với các nước khác?

Ngân sách và nhân viên y tế Hoa Kỳ đã bị “chảy máu” từ nhiều năm, kèm theo làn sóng liên tục cảnh báo rằng Hoa Kỳ không sẵn sàng để ứng phó với bệnh dịch.

Khi COVID-19 tới, truy tìm và theo dõi mọi người bị virus là không khả thi đối với cơ quan y tế địa phương vì xét nghiệm thiếu sót và hướng dẫn hạn hẹp về những ai cần xét nghiệm. Thêm vào đó, cơ sở hạ tầng y tế công cộng bị khó khăn vây hãm.

Luật “ở yên tại nhà” phần lớn để làm chậm sự lây lan của virus, để bệnh viện đừng bị quá tải, không nhất thiết để ngừa bệnh, theo Adia Benton, nhà nhân chủng học tại Norwesthern University chuyên nghiên cứu về bất bình đẳng sức khỏe toàn cầu. Huy động một lực lượng lớn để cô lập mọi người với virus có thể ngừa bệnh, Benton nói. “Những can thiệp ta nhìn thấy phản ảnh điều ta trân trọng,” bà nói.

Y tế công cộng do địa phương quản lý, và các cơ quan y tế có những nguồn lực và tổ chức khác nhau. Họ cũng phải đối đầu dịch bệnh bùng phát với cường độ khác nhau.

Tại Tennessee, nhân viên y tế ở tuyến đầu vẫn truy tìm sự liên hệ của những người bị nhiễm bệnh. Để làm việc này, nhiều nhân viên làm việc bảy ngày một tuần, 12 giờ mỗi ngày, theo Bác Sĩ Mary-Margaret Fill, y sĩ và nhà dịch tễ học làm việc với tiểu bang giúp phối hợp đáp ứng cứu cấp.

“Họ là những mắt xích bên trong của hệ thống; không có họ chúng tôi sẽ sụp đổ,” bà nói.

Tại California, y tế công cộng là trách nhiệm của các quận, và nguồn lực khác nhau rất lớn. Nhiều quận, gồm có Sacramento và Orange, không còn truy tìm liên hệ (giữa người nhiễm bệnh với người khac) đã vài tuần qua, vì thiếu khả năng xét nghiệm và đột biến ca bệnh. (Thiếu khả năng xét nghiệm là điều gần như mọi cơ quan y tế gặp phải.)

Ngay cả tại San Francisco, với tài nguyên phong phú và chuyên nghiệp điều trị HIV nổi tiếng, đã phải dựa vào số nhân viên ít ỏi để làm công việc hàng ngày theo dõi các bệnh truyền nhiễm như ban đỏ, lao phổi, và hoa liễu, theo Bác Sĩ Tomás Aragón, viên chức y tế của thành phố.

Quận Los Angeles, với 4,000 nhân viên y tế công cộng, vẫn truy tìm liên hệ cho tất cả người xét nghiệm dương tính, theo Bác Sĩ Barbara Ferrer, giám đốc Cơ Quan Y Tế Công Cộng Quận Los Angeles.

Quận nông thôn Tulare cố gắng làm theo, nhưng lưu ý rằng rào cản lớn nhất là cần có thêm người để theo dõi các ca bệnh.

Những kỹ thuật này quan trọng ở khắp nơi. “Giãn cách xã hội, truy tìm liên hệ, nhận biết, cách ly và cô lập. Chúng ta cần tất cả những phương án này,” bà Ferrer nói.

3. Làm sao để tăng tốc?

Các chuyên gia nói hoàn cảnh bắt buộc, ít nhất tạm thời, phải có thêm hàng ngàn người vào hàng ngũ y tế công cộng. Ba viên chức hành chánh cũ của Obama kêu gọi lập một “đội ngũ chữa cháy về y tế công cộng” thông qua một chương trình như AmeriCorps hoặc Peace Corps.

Số chuyên gia khác đề nghị dùng những chương trình sẵn có. Chương trình Medical Reserve Corps, một mạng lưới chuyên viên y tế và sức khỏe công cộng thiện nguyện, có 175,000 tình nguyện viên, một số đã được tuyển dụng vào các cơ quan y tế của tiểu bang, bà Bieseadecki nói. Chương trình này có thể nới rộng thêm.

“Chúng ta cần một Marshall Plan. Chúng ta cần một New Deal. Chúng ta cần một WPA cho y tế công cộng,” phát biểu của Gregg Gonsalves, nhà dịch tễ học ở Yale, được MacArthur Fellowship cho công việc về công lý và sức khỏe toàn cầu của ông.

Và điều này không nhất thiết đòi hỏi phải là Bác Sĩ Y Khoa, Thạc Sĩ, hoặc ngay cả cấp bằng về y tế công cộng. Ở nhiều quốc gia, chính quyền đã huấn luyện nhân viên y tế trong những trường hợp như hoàn cảnh này.

Nhưng khi không có một chương trình liên bang, vài cơ quan địa phương ở Hoa Kỳ đã đảm nhận việc này. Thí dụ như San Francisco, đang có kế hoạch thu nhận khoảng 160 người để theo dõi những người bị nhiễm virus. Aragón nói ông hi vọng nếu có thể sắp xếp lại nhân viên trong quận và thuê thêm người khi cần.

“Chúng ta khởi đầu bằng tâm lý khan hiếm,” ông Aragón nói. “Chúng ta phải có tâm lý dư thừa. Số tiền mất đi vì kinh tế, nếu chỉ dùng một phần của số đó vào đội ngũ y tế công cộng, chúng ta có thể vực dậy nền kinh tế và tiến tới.”

Massachusetts yêu cầu cơ quan y tế vô vị lợi toàn cầu Partners in Health giúp thuê 1,000 người để đảm đương hàng loạt việc truy tìm liên hệ.

Tại Connecticut, giảng viên đại học Yale nói họ ý thức rằng tiểu bang có khả năng truy tìm liên hệ chỉ ở Fairfield County, một “cộng đồng mà đa phần cư dân làm việc ở cộng đồng khác giàu có của New York,” để lại nguồn lực ít ỏi cho cộng đồng nghèo khó New Haven, nơi có trường đại học.

Vì thế họ tuyển hơn 100 sinh viên các phân khoa y tế công cộng, y tá, và y khoa, theo Bác Sĩ Sten Vermund, viện trưởng Yale School of Public Health. Những tình nguyện viên được tiểu bang huấn luyện qua mạng và, làm việc bên cạnh nhân viên trường đại học, đang làm công việc truy tìm liên hệ cho các bệnh viện địa phương.

Nhưng ông không nghĩ những nỗ lực thiện nguyện này là đáp án. Vermund gọi đó là “định nghĩa của sự điên rồ” nếu Hoa Kỳ không nắm lấy thời gian này để đầu tư trở lại vào y tế công cộng.

“Không có đe dọa nào cho sức khỏe kinh tế của toàn cầu lớn hơn một bệnh dịch virus về đường hô hấp,” ông nói.

(*) Người Việt đăng bài này với sự đồng ý của California Healthline.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT