Bản ghi chép do Trúc Giang thực hiện. Bài học được phát trên Hồn Việt Television.
QUỲNH ANH: Ðây là chương trình Anh Ngữ Trong Ðời Sống Hàng Ngày do Bùi Bảo Trúc phụ trách. Bùi Bảo Trúc, Trúc Giang và Quỳnh Anh xin kính chào quí vị. Chương trình đến với quí vị hàng tuần để ôn lại một số điều liên quan đến Anh ngữ mà quí vị gặp trong đời sống. Quí vị có thắc mắc xin liên lạc với Hồn Việt TV nhờ chuyển lại.
TRÚC GIANG: Thưa chú, hai đứa con của cháu mấy hôm nay lại bày đặt có một lối ăn nói mới. Cháu không biết con chị nói gì mà cứ bị con em sửa, bắt phải nói lại. Thế là con chị cứ WOULD LIKE thế này, WOULD LIKE thế kia. Mấy tháng trước hai đứa có ăn nói như thế đâu. Như vậy là thế nào thưa chú? Tự nhiên hai đứa đổi hẳn cách ăn nói nghe kỳ ghê vậy đó.
BÙI BẢO TRÚC (BBT): Cô nên lấy đó làm vui thì hơn. Tôi chắc ở trường, thầy giáo, cô giáo của nó mới dạy nó cách ăn nói sao cho lễ phép nên nó về nhà sửa lưng, bắt bẻ con chị chứ gì. Cô nên mừng vì con gái cô được dạy cho ăn nói lễ phép thay vì cứ I WANT cái này, I WANT cái kia như khi còn ở nhà với mẹ trước khi đi học. Nói vậy không phải là tôi chê cô không dạy các con ăn nói lễ phép, mà vì cha mẹ nhiều khi quá bận nên không có thì giờ đem chuyện đó ra nói và dạy con mà thôi. Hơn nữa, chúng nghe cô giáo và thầy giáo, bạn bè nhiều hơn là học ở mẹ.
QUỲNH ANH: Như vậy có phải là cha mẹ chúng, như Quỳnh Anh và Trúc Giang không biết dạy con không thưa anh?
BBT: Không đúng. Hai cô chắc chắn đã dạy chúng đi thưa, về trình, ăn nói lễ phép với ông bà, cha mẹ bằng tiếng Việt rồi đấy chứ. Nhưng có thể tiếng Anh thì chưa. Hai cô biết là ở Mỹ cũng phải có những chương trình chuyên dạy cho trẻ con cách ăn nói sao cho đúng phép lịch sự và lễ phép để dùng trong những lúc ra ngoài.
Người Mỹ mà còn như vậy huống chi chúng ta là người sử dụng tiếng của họ. Có một phụ nữ chỉ chuyên nói chuyện về phép lịch sự , bà là người thẩm quyền nhất về những cách ăn nói, hành xử sao cho đúng phép lịch sự. Ðó là Emily Post. Bà qua đời từ năm 1960 nhưng những cuốn sách bà viết về phép lịch sự thì vẫn còn được dùng cho đến tận ngày nay. Trên nhiều tờ báo còn có mục ASK MISS MANNERS để độc giả hỏi và được giải đáp về phép lịch sự. Học ăn, học nói, học gói, học mở là như vậy.
TRÚC GIANG: Trở lại chuyện mấy đứa con của cháu thì như vậy không nên nói I WANT hay sao thưa chú?
BBT: Khi mới học tiếng Anh, chúng ta được dạy những câu, những chữ giản dị. Qua khỏi giai đoạn ấy, chúng ta từ từ mới được dạy thêm những cách ăn nói sao cho lịch sự như trường hợp các con của cô ở trường mà cô vừa nói vậy. Ðể cho dễ nghe hơn, lịch sự hơn, chúng ta tránh dùng động từ WANT nghe có vẻ đòi hỏi, ra lệnh quá. Thay vì I WANT COFFEE, người ta thay thế WANT bằng WOULD LIKE để thành I WOULD LIKE SOME COFFEE nghe nhẹ nhàng, lịch sự hơn. Cũng lại còn tùy vào giọng nói nữa, chính cái INTONATION cũng có thể làm cho câu I WANT… nghe nhẹ đi nhiều. Nhưng I WOULD LIKE thì nhất định là nhẹ hơn, dễ nghe hơn, dễ lọt tai hơn, dẫu cho INTONATION, lên giọng, xuống giọng như thế nào cũng thế.
QUỲNH ANH: Thưa anh, vậy thì chúng ta nên bỏ luôn động từ WANT trong khi nói chuyện chăng?
BBT: Không hẳn thế. Chỉ khi người ta muốn lịch sự, bớt vẻ hoạnh họe, ra lệnh, đòi hỏi thì mới bỏ WANT để thay thế bằng WOULD LIKE mà thôi. Thực ra, người ta vẫn dùng WANT được, nhưng đi trước nó là WOULD thì nghe cũng lịch sự hẳn ra, không khác gì WOULD LIKE. Thí dụ I WOULD WANT MORE SUGAR WITH MY COFFEE thì cũng không khác gì I WOULD LIKE MORE SUGAR IN MY COFFEE.
TRÚC GIANG: Bây giờ cháu mới thấy khi nói WHAT DO YOU WANT? nghe đầy vẻ gây sự hơn là WHAT WOULD YOU LIKE… và WHAT WOULD YOU WANT…
BBT: Ðúng vậy. WOULD LIKE và WOULD WANT khi dùng trong thể hỏi (QUESTION) thì nghe như một lời đề nghị nhiều hơn là một lời hạch sách hay ra lệnh. Có điều là trong cách nói lễ phép này thì gần như bao giờ cũng là những câu hỏi. Tuy là những câu hỏi nhưng lại là những đề nghị, những ý kiến, những gợi ý. Khi nói OPEN THE DOOR thì đó là một mệnh lệnh. Nhưng khi nói WOULD YOU (LIKE TO) OPEN THE DOOR? thì đó lại là một lời yêu cầu, một lời đề nghị.
QUỲNH ANH: Quỳnh Anh còn nghe một động từ khác cũng được dùng trong những câu như vậy, đó là động từ TO MIND thì phải.
BBT: Ðúng vậy. Ðộng từ TO MIND là một động từ chúng ta cũng nên biết . TO MIND là để ý, là coi chừng… thí dụ TO MIND THE BABY là coi (chừng) em bé; TO MIND THE STORE là trông coi cửa hàng… Nhưng TO MIND YOUR HEAD thì lại không phải là để ý đến chuyện suy nghĩ, đầu óc của mình, mà là coi chừng đụng đầu như những tấm bảng ở cạnh những cái cửa thấp tại một vài ngôi đền ở Nhật. MIND YOUR P’S AND Q’S có nhiều lối giải thích khác nhau, đại khái là coi chừng, để ý đến các chi tiết, hãy hành động một cách tử tế, lịch sự…
MIND YOUR (OWN) BUSINESS, nói tắt lại là MYOB nghĩa là hãy lo, hãy để ý đến chuyện của mình, đừng xía vào chuyện của người khác. TO MIND còn có nghĩa là quan tâm, coi trọng một chuyện gì đó. MIND YOUR MANNERS là hãy lễ phép, coi chừng lời ăn tiếng nói, giữ lịch sự. Trong những câu phủ định thì TO MIND lại có nghĩa là không để ý, không lý gì tới, không coi là quan trọng.
PLEASE DON’T MIND HIS TALKING xin đừng để ý tới chuyện ông ấy nói / THE BOY’S CRYING chuyện thằng bé đang khóc / THAT MAN’S BRAGGING / chuyện ông ấy đang khoác lác… hay trong những câu như I DON’T MIND WAITING / TALKING TO HIM/ PAYING A BIT MORE/ DRIVING IN THE SNOW là không phiền, không lấy làm buồn phải đợi, phải nói chuyện với ông ấy, phải trả thêm chút ít, phải lái xe dưới trời tuyết. Trúc Giang cho nghe mấy thí dụ coi. Sau MIND nhớ dùng danh từ (NOUN) hay danh động từ tạo thành bởi VERB +ING tức là GERUND.
TRÚC GIANG: WE DON’T MIND SHARING THE HOUSE WITH HIM là chúng tôi không thấy phiền phải ở chung nhà với ông ấy.
THEY DON’T MIND LETTING HER USE THE PHONE là họ không thấy phiền để cho cô ấy dùng điện thoại.
QUỲNH ANH: Quỳnh Anh cũng xin thêm hai thí dụ: MY DAUGHTER DOESN’T MIND COOKING FOR THE FAMILY DURING THE WEEKEND là con gái Quỳnh Anh không nề hà, không phiền phải nấu ăn cho cả nhà vào dịp cuối tuần. MY SPONSOR DID NOT MIND SPEAKING TO US SLOWLY IN ENGLISH WHEN WE FIRST CAME là người bảo trợ cho gia đình Quỳnh Anh không thấy phiền khi phải nói tiếng Anh chậm chậm lúc gia đình Quỳnh Anh mới tới Mỹ.
BBT: Bây giờ chúng ta nói về cách dùng của TO MIND trong những câu nói lễ phép. Trong những trường hợp này, chúng ta dùng động từ TO MIND trong thể hỏi. Khi đó, câu chúng ta dùng có nghĩa là ông bà có thấy phiền nếu chúng tôi … mở cửa, bật đèn, có một câu hỏi… trong tiếng Anh sẽ là WOULD ( DO) YOU MIND ME OPENING THE DOOR? (HIM) TURNING ON THE LIGHT? (US) HAVING A QUESTION? Trúc Giang và Quỳnh Anh cho nghe thí dụ của hai cô coi.
TRÚC GIANG: WOULD YOU MIND THEM SMOKING INSIDE THE HOUSE? Ông có phiền nếu họ hút thuốc trong nhà không? WOULD YOU MIND HER COMING A BIT LATE? Ông có phiền nếu cô ấy đến hơi muộn một chút không?
QUỲNH ANH: WOULD THEY MIND HER PLAYING THE STEREO THAT LOUD? là họ có phiền nếu cô ấy vặn nhạc lớn như vậy không? WOULD HE MIND US COOKING WITH NƯỚC MẮM IN THE KITCHEN? ông ta có phiền nếu chúng tôi nấu ăn bằng nước mắm trong bếp không?
BBT: Bây giờ chúng ta qua những câu với TO MIND để xin phép. Chúng ta sẽ thấy cách dùng này giống hệt như cách chúng ta nói trong tiếng Việt: Phiền ông làm cái gì đó… WOULD YOU MIND CLOSING THE DOOR? là phiền ông làm ơn đóng hộ cái cửa lại. WOULD YOU MIND SAYING THAT AGAIN? Phiền ông nhắc lại điều ông vừa nói. Trúc Giang cho nghe hai câu của cô, rồi sau đó đến lượt Quỳnh Anh.
TRÚC GIANG: WOULD YOU MIND EXPLAINING THIS NEW WORD? xin phiền ông giảng nghĩa chữ mới này.
WOULD YOU MIND SPEAKING A LITTLE BIT LOUDER? phiền ông nói lớn hơn một chút được không?
QUỲNH ANH: WOULD YOU MIND MOVING THE CAR JUST A LITTLE BIT? phiền ông dời cái xe của ông một chút xíu.
WOULD YOU MIND LETTING ME GET OUT? phiền ông cho tôi đi ra được không?
BBT: Bây giờ đến cách trả lời những câu xin phép hay yêu cầu như ở trên. Khi được hỏi MAY I SIT DOWN ? mà chúng ta đồng ý để cho người hỏi ngồi xuống thì Trúc Giang trả lời thế nào?
TRÚC GIANG: Cháu sẽ nói YES, OF COURSE… YES, CERTAINLY… YES, SURE…
BBT: Thế Quỳnh Anh sẽ trả lời thế nào nếu có người xin ngồi xuống cùng bàn với cô như trong cafeteria của trường chẳng hạn: WOULD YOU MIND ME SITTING HERE WITH YOU?
QUỲNH ANH: Thì Quỳnh Anh cũng sẽ nói như Trúc Giang là YES, OF COURSE… YES, CERTAINLY… YES SURE…
BBT: Cô mà trả lời như thế thì người sinh viên kia sẽ mang khay thức ăn cao chạy xa bay lập tức, khôn hồn thì anh ta nên đi kiếm chỗ khác mà ngồi ngay.
QUỲNH ANH: Tại sao vậy thưa anh?
BBT: WOULD YOU MIND ME SITTING HERE? Nghĩa là ông, bà, cô có phiền nếu tôi ngồi xuống cùng bàn với ông, bà , cô không? Trả lời như Quỳnh Anh thì nghĩa là có, dĩ nhiên, chắc chắn là tôi phiền lắm đấy. Trả lời như thế thì ai còn dám ngồi xuống chung bàn với cô nữa!
QUỲNH ANH: Vậy thì Quỳnh Anh phải trả lời thế nào?
BBT: Nếu muốn người sinh viên kia ngồi xuống bàn với cô thì cô phải nói là NO, OF COURSE NOT… CERTAINLY, NOT AT ALL… như thế mới có nghĩa là tôi không phiền về chuyện anh / cô ngồi xuống đây chút nào hết. Nhưng muốn chắc ăn , thì cho dù là được hỏi MAY I SIT HERE ? hay WOULD YOU MIND ME SITTING HERE? thì cứ nói thế này: PLEASE SIT DOWN hay DO SIT DOWN, PLEASE là không ai hiểu lầm lòng hiếu khách của cô nữa.
TRÚC GIANG: Cám ơn chú. Cháu hỏi có một câu mà chú dẫn đi xa quá là xa. Vậy nhân đây, cháu xin chú giảng cho mấy idioms với MIND mà cháu tin là phải có khá nhiều.
BBT: Ðúng là như thế. Nhưng tôi sẽ không thể nói hết các idioms với MIND được đâu. Tôi sẽ chỉ đưa ra một số mà thôi. Trước hết là MIND YOU. Ðây là một câu dùng để cảnh cáo, để nhắc người nghe về một chuyện nào đó. Chúng ta thường dùng nó để bắt đầu câu, để làm cho người nghe phải chú ý, lắng nghe. Thí dụ MIND YOU, SHE IS NOT EASY TO TALK TO nghĩa là coi chừng nhé, bà ấy không phải là người dễ nói chuyện đâu. Quỳnh Anh có thể cho nghe hai thí dụ với MIND YOU coi.
QUỲNH ANH: MIND YOU, THE EXAM IS NEXT WEEK! là coi chừng đó, tuần tới là thi rồi đó.
MIND YOU, THE CAR NEEDS SERVICE AND OIL CHANGE là nhớ nhé, xe cần bảo trì và thay nhớt máy rồi đó.
TRÚC GIANG: MIND YOU, THE KIDS NEED VACCINATION VERY SOON là coi chừng bọn con nít sắp phải chích ngừa rồi đấy.
MIND YOU, THIS MEDICINE IS OUT OF DATE la coi chừng thuốc này đã hết hạn rồi.
BBT: Mấy idioms khác thì dễ đoán hơn. Ðố Trúc Giang câu này nghĩa là gì: WHAT IS ON YOUR MIND?
TRÚC GIANG: WHAT IS ON YOUR MIND? Nghĩa là ông đang nghĩ gì vậy?
BBT: HE IS NOT IN HIS RIGHT MIND là gì Quỳnh Anh?
QUỲNH ANH: HE IS NOT IN HIS RIGHT MIND là ông ấy không suy nghĩ một cách bình thường. Ông ấy hơi điên phải không thưa anh?
BBT: Ðúng thế. Trúc Giang hiểu câu này như thế nào…YOU HAVE TO MAKE UP YOUR MIND QUICKLY…
TRÚC GIANG: YOU HAVE TO MAKE UP YOUR MIND QUICKLY là câu mà cháu luôn luôn phải nói với mấy đứa con mỗi khi đưa chúng đi McDonald’s … cứ hết thích Big Mac rồi lại đổi qua quarter pounder … các con phải quyết định nhanh lên chứ.
BBT: Thế còn OUT OF SIGHT, OUT OF MIND là gì Quỳnh Anh?
QUỲNH ANH: Ra ngoài tầm mắt nhìn thì cũng ra ngoài đầu óc. Xa mặt cách lòng chăng thưa thầy?
BBT: Ðúng vậy. Trúc Giang dịch thử câu này sang tiếng Việt coi cô có hiểu đúng không nhé: AFTER SHE LEFT, HE ALMOST LOST HIS MIND.
TRÚC GIANG: Sau khi cô ấy bỏ đi, anh ấy gần như phát điên luôn.
BBT: Quỳnh Anh hiểu câu này như thế nào: HE HAS A ONE TRACK MIND?
QUỲNH ANH: Quỳnh Anh hiểu câu ấy là anh ta có lối suy nghĩ một chiều, lúc nào cũng chỉ nghĩ tới có một thứ, thí dụ như tiền bạc mà thôi.
BBT: Thế còn NEVER MIND là gì đây Trúc Giang?
TRÚC GIANG: NEVER MIND là đừng để ý tới chuyện đó, đừng coi nó là quan trọng, hãy quên đi…
BBT: OKAY… NEVER MIND…
QUỲNH ANH: Thưa quí vị, chương trình Anh Ngữ Trong Ðời Sống Hàng Ngày đến đây xin tạm chấm dứt. Chương trình sẽ trở lại vào tuần tới cùng với các chương trình khác của Hồn Việt TV. Bùi Bảo Trúc, Trúc Giang và Quỳnh Anh xin chào tạm biệt quí vị và hẹn gặp lại quí vị trong chương trình tới.




























































































































































