Để Nhớ hoặc Để Quên, Hay Nhớ hoặc Hay Quên, Khó Nhớ hay Khó Quên

(Nhìn để nhớ hay Nhớ khi Nhìn… Quá trình hình thành và xóa tan trí nhớ…)

Bài: Thái Lâm
Edited by BS Nhãn Khoa James Trương

Trước đây Bác sĩ Nhãn Khoa James Trương đã viết một bài giải thích về mối liên quan giữa ngũ quan và trí nhớ. Trong bài viết hôm nay, Bác sĩ James Trương sẽ giải thích sâu hơn về cơ chế hình thành trí nhớ, những yếu tố liên quan đến trí nhớ và cách thức giúp tăng cường trí nhớ.

Các vấn đề liên quan đến trí nhớ. Trí nhớ con người được phân làm 3 loại:

Courtesy image by Google.
Courtesy image by Google.
  • Trí nhớ cảm nhận (Sensory Memory): xảy ra ngắn hơn 1 giây, là cảm nhận từ ngũ quan (Nhìn, Nghe, Ngửi, Nếm và Sờ, đôi lúc từ cả giác quan thứ 6).
  • Sau đó thông tin sẽ được ghi lại vào Trí nhớ ngắn hạn (Short term Memory hay Working memory) xảy ra ngắn hơn 1 phút. Nếu không được nhắc hoặc lập lại, sẽ quên dần theo thời gian. (Vì thế có câu “Văn Ôn Vũ Luyện”). Muốn chuyển từ Trí nhớ cảm nhận sang Trí nhớ ngắn hạn cần có Sự Chú Ý.
  • Nếu lập lại nhiều lần tới 1 mức cần thiết, thông tin sẽ được mã hóa và dự trữ vào nhà kho vĩnh viễn hay lâu dài (life-time) còn gọi là Trí nhớ Dài Hạn (Long Term Memory).
Courtesy image by Google
Courtesy image by Google
Courtesy image by Google
Courtesy image by Google

Trong loại Trí nhớ Dài Hạn đươc phân loại tỉ mỉ hơn gồm 2 nhóm:

  • Trí nhớ có Ý Thức (Explicit Memory = Conscious) là nhận thức từ các yếu tố và sự kiện có khả năng truyền bá được). Loại này được phân thành 2 nhóm nhỏ:
    • Episodic: Sự kiện hay Kinh nghiệm (Ví dụ: Nhớ ngày tựu trường)
    • Semantic: Yếu tố hoặc Khái niệm nghiệm (Ví dụ: Thủ đô nước Ý)
  • Trí nhớ vô thức (Implicit Memory = Unconscious) là do thói quen mỗi ngày hình thành một cách tự nhiên (skills= kỹ năng, tasks= nhiệm vụ).

Khi cần nhớ lại việc gì (ví dụ các em cần trả lời các bài thi), thông tin sẽ được lôi từ Trí nhớ Dài Hạn ra và chuyển vào vùng Trí nhớ ngắn hạn để được truy cập và sử dụng.

Các vùng trong não bộ con người cũng được phân chia thành 7 vùng để lưu trữ  (xin xem hình minh họa):

Courtesy image by Google
Courtesy image by Google
  • 2 vùng Trí nhớ ngắn: Vùng Trước Trán = PreFrontal (Giữa 2 con mắt) và Vùng lưỡi Amygdala (Cảm xúc mới)
  • 1 Vùng chuyển đổi Trí nhớ ngắn thành Trí nhớ Dài: Vùng Thái Dương (Temporal)
  • 2 Vùng Trí nhớ Dài Vô thức còn gọi là Trí Nhớ Tự nhiên (từ thói quen ngắn nhưng lâu dài): Vùng Vận Động (Motor Cortex) và Vùng Tiểu Não (Cerebellum).
  • 2 Vùng Trí Nhớ Dài:
    • Vùng Trán (Frontal) là vùng dự trữ những Trí nhớ Dài quá cũ.
    • Vùng Hippocampus (Hồi Hải Mã)là vùng quan trọng nhất trong việc học tập của trẻ em, vì nơi đây hình thành những trí nhớ Dài mới nhất.

Chính nhờ biết các vùng trí nhớ, mà các nhà khoa học đã chế tạo được con chip với kích thước siêu nhỏ cấy vào não. Nghiên cứu này do Ông Bryan Johnson thuộc công ty Kernel đầu tư cả hơn 100 triệu mỹ kim để thực hiện. Ông này hợp tác với Tiến sĩ Theodore Berger thuộc Đại Học Los Angeles để cài đặt các chương trình tính toán và mã hóa vào vùng Hippocampus (vùng quan trọng nhất để chuyển tiếp và lưu giữ trí nhớ Dài). Phương pháp này đã thành công trên động vật nhằm phục hồi trí nhớ bằng những kích thích điện vào vùng Hồi Hải Mã này. Nếu thành công trên con người có thể giúp ta học nhanh gấp 1000 lần. Tuy nhiên đây vẫn là thử nghiệm, cần có nhiều thời gian để kiểm chứng.

Tại sao người lớn tuổi thường trở nên lú lẫn, mất trí nhớ ?

Vào năm 2010, khoảng 5.1 triệu người đang bị Alzheimer, con số này sẽ nhân đôi mỗi 5 năm ở người lớn hơn 65 tuổi. Khoảng nửa triệu người nhỏ hơn 65 tuổi bị mất trí nhớ ở nhiều dạng khác nhau bao gồm cả Alzheimer. Số người già hơn 65 tuổi sẽ tăng gấp đôi trong 50 năm tới (từ năm 2010 đến 2050).

¼ thành viên của gia đình phải chăm sóc bệnh nhân Alzheimer và gánh nặng y tế hiên nay là khoảng 100 tỷ để chăm sóc cho loại bệnh này. (Xin xem hình minh họa).

Thông thường cách để chẩn đoán chứng bệnh Alzheimer là dùng verbal memory tests (còn gọi là đọc và nhớ từ vựng), tuy nhiên test này khó phát hiện được những giai đoạn còn quá sớm. CT scan (chụp cắt lớp não) nhằm phát hiện sự teo nhỏ của bộ não, nhất là của vùng Hồi Hải Mã giúp chẩn đoán chính xác hơn những giai đoạn sớm.

Cơ chế của Alzheimer là các vùng não bộ bị thoái hóa thành các amyloid plaques and neurofibrillary tangles (Giống như bị xơ hóa và không còn chức năng nhớ nũa). Những mảng này gồm các protein fragment beta-amyloid càng lúc lan rộng và làm kích thước của não trở nên nhỏ dần đi. Hiện nay, phương pháp scan võng mạc bằng máy đặc biệt cũng giúp tìm ra cấu trúc và thành phần các chất beta-amyloid trong võng mạc (gần giống hoàn toàn với não) để phát hiện rất sớm nhưng người có khả năng bị Alzheimer.

Người bệnh Alzheimer thường lập lại các câu hỏi giống nhau và khó khăn để tìm được đúng từ vựng để diễn tả. Họ bị mất trí nhớ ngắn và vẫn còn một phần lớn các trí nhớ Dài.

Ho khó nhận diện được khuôn mặt người thân thuộc. Chúng ta sẽ nói qua cách phòng ngừa và điều trị căn bản chứng này.

Courtesy image by Google
Courtesy image by Google

Các phương thức tăng cường và hỗ trợ cho trí nhớ bao gồm:

  1. Các phương thức tự nhiên (học tập, luyện tập (văn ôn vũ luyện). Xin xem phần 13 phương thức tăng trí nhớ dưới đây.
  2. Các phương thức dùng thuốc (Các loai thuốc về trí nhớ…)
    • Hai họ thuốc chính để điều trị Alzheimer là – cholinesterase inhibitors (Aricept, Exelon, Razadyne) và memantine (Namenda).
    • Các dược thảo không có FDA approved, nên cẩn trọng khi dùng gồm Ginkgo biloba.
    • Các dược chất như Omega3 (DHA), Vitamin D, folic acid, B6, and B12 complex đều giúp cho tăng phần nào trí nhớ.
    • Một số thuốc làm giảm trí nhớ bao gồm: antihistamines; antidepressants, antianxiety drugs, sleep aids (Chống dị ứng, chống trầm cảm, chống lo âu, thuốc ngủ). Các thuốc này ức chế chất dẫn truyền thần kinh acetylcholine (rất cần thiết cho Trí nhớ ngắn).
  3. Âm thanh và trí nhớ (các tần số âm thanh ảnh hưởng lên não và trí nhớ).

Có 5 loại sóng não bao gồm Gamma, Beta, Alpha, Theta, Delta … Sóng Gamma rất quan trọng trong việc học tập với trí nhớ tốt của cả trẻ em và người lớn. (Gamma waves are important for learning, memory and information). Có những thiết bị phát sóng này đồng bộ với não để giúp tăng chất Dopamin (cần thiết cho Trí nhớ Dài).

4. Ánh sáng và trí nhớ (liệu pháp ánh sáng để tăng cường trí nhớ) Chi tiết và hiệu quả của các nghiên cứu cho thấy rằng các ánh màu Xanh Dương (không phải là xanh tím), Xanh Lá, Vàng, Cam đều giúp không những trí nhớ mà còn tăng Chỉ số Thông minh (IQ). Trong đó mạnh nhất là màu Xanh Dương, giúp tăng chất Dopamin (cần thiết cho Trí nhớ Dài).

Courtesy image by Google
Courtesy image by Google

5. Điện Từ Trường và trí nhớ. (Magnetic Field với tần số 6 hz sẽ giúp tăng chất Dopamin (cần thiết cho Trí nhớ Dài).

Tóm lại nhờ khoa học người ta khám phá ra các phương cách tối tân và lối tắt để đi thẳng vào Trí nhớ Dài bằng cách tăng cường chất Dopamin (cần thiết cho Trí nhớ Dài) giúp trẻ em và người lớn rất nhiều trong học tập. Các phương pháp này gồm Sóng Âm, Ánh Sáng và Điện Từ Trường hoặc cả 3 phối hợp lại cùng lúc. Hiện có vài máy móc đáp ứng cả 3 nhu cầu này. Tham khảo với Bác Sĩ James Trương về Mắt và Trí Nhớ hoàn toàn miễn phí.

13 Phương Thức để tập luyện trí nhớ (theo Bác Sĩ chuyên khoa Thần Kinh Học David Poulad, a neurosurgeon at IGEA Brain and Spine in Union, New Jersey):

  1. Soạn thảo và đăng tải những sự kiện cần nhớ lên trang mạng: Theo Giáo sư Qi Wang thuộc trường Đại Học Cornell, quá trình này sẽ giúp bạn nhớ lâu hơn.
  2. Ăn uống đúng cách: Khẩu phần ăn ít mỡ và Cholesterol để giảm bệnh tim và Stroke là những nguyen nhân dẫn đến mất trí nhớ. Giáo sư Sanam Hafeez (Nhà Tâm Thần Học) khuyên nên ăn các thức ăn giàu Omega 3 (từ Dầu Cá, các loại Đậu và từ Dầu con Tép (Krill)). Và cũng ăn các loại chống Oxy hóa mạnh (mạnh nhất là Blueberries). Như vậy “Thức ăn tốt không những tốt cho cơ thể mà còn tốt cho não bộ.
  3. Ngủ đủ giấc: Ông Courtney B. Johnson, a neuro-psychologist (nhà Thần Kinh – Tâm Thần Học) nói ở người lớn tuổi ít ngủ, trí nhớ sẽ bị kiệt quệ. Chỉ cần vài đêm mất ngủ có thể dẫn đến suy sụp trí nhớ. Ông khuyên nên ngủ ít nhất 7 tiếng một đêm. Tránh đem các dụng cụ điên tử vào phòng ngủ.
  4. Tập thể dục thể thao đầy đủ: Ông Johnson cũng cho biết viêc tập luyện sẽ giúp lưu thông máu huyết và gia tăng trí thức. Đây cũng được coi là hình thức thư giãn não 1 cách chủ động.
  5. Tránh làm nhiều việc cùng lúc: Dr. Shafeez khuyên không nên ôm đồm nhiều việc cùng lúc ở lứa tuổi từ 60 tới 80. Nhiều nghiên cứu cho thấy nếu coi tivi cùng lúc nghe phone và gửi tin nhắn sẽ làm giảm lượng chất xám trong não.
  6. Kiểm soát sự căng thẳng và lo âu: Hai kẻ thù số một của trí nhớ là Lo Âu và Mất Ngủ. Hít sâu, đi bộ, luyện Yoga, chăm sóc gia súc là những biện pháp giúp giảm stress (lo âu).
  7. Viết chữ hơn là đánh máy: Khi viết chữ ta đang vận dụng trí não nhiều hơn là đánh máy.
  8. Uống trà Xanh (Green Tea): Loại trà này giúp gia tăng dẫn truyền của các dây thần kinh, giúp tăng hoạt động của trí nhớ.
  9. Tập bóp banh cao su: (Squeeze a ball): Một thử nghiệm để nhớ 36 chữ khi tâp bóp banh cao su, nhóm có tập nhớ được hơn 10 chữ so với nhóm không tập chỉ nhớ được 5 chữ… Ngoài ra khi tập bàn tay phải sẽ kích hoạt não Trái (là não có tác dụng mã hóa trí nhớ Dài (encode)), trong khi đó não Phải là não gọi ra các thông tin trong Trí nhớ Dài Hạn.
  10. Ngồi và Đứng thẳng: Theo Giáo sư Erik Peper (a professor in the College of Health and Social Sciences at San Francisco State University) tư thế thẳng giúp tăng tính lạc quan và trí nhớ, ngược với tư thế chùng xuống dẫn đến bi quan và mất dần trí nhớ.
  11. Tập đọc phông chữ lạ: Khi đọc phông chữ lạ, sẽ bắt não bộ phải hoạt động nhiều hơn, nhờ đó ta nhớ dai hơn.
  12. Nhai Kẹo Cao Su: Theo BioMed Research International in 2015, nhai Gum (Keo cao su) sẽ tăng nhịp tim, lưu thông máu não và hoạt động của não bộ.
  13. Học kỹ năng mới: Dr. Hafeez khuyên ta nên học thêm kỹ năng mới, thí dụ như chơi game, nấu ăn, đi du lịch và học lịch sử… sẽ tăng khả năng vận động trí nhớ Dài.

Con mắt là cửa sổ của tâm hồn, cũng là cửa ngõ của trí tuệ và trí nhớ, thiếu đi con mắt sẽ có ảnh hưởng rất nhiều đến việc học tập. Mắt kém cũng là nguyên nhân quan trọng khiến các em học kém. Nếu các em bi cận thị không chịu đeo kính (vì sợ bị trêu chọc), hoặc gãy kính, mất kính, hoặc kính mờ do lên độ đều cản trở các em trong việc nhớ bài và làm bài trắc nghiệm dẫn đến điểm kém và bỏ học.

Quý vị phụ huynh nên thường xuyên cho các em đi khám mắt để phòng ngừa quá trễ. Bác sĩ Nhãn Khoa James Trương có rất nhiều phương pháp hiện đại từ Ortho-K, Vision Therapy, Color Vision Therapy, Magnetic Field for Eye (Điên từ trường)  nhằm giúp phục hồi thị lực cho các em (cũng cho cà người lớn). Tham khảo luôn miễn phí.

Mọi thắc mắc xin liên lạc văn phòng Bác Sĩ James Trương, OD, Fellowship Orthokeratologist. (Hội viên cao cấp nhất của Hiệp Hội Ortho-K Hoa Ký).

Quý vị có thể xem lại tất cả các bài viết cũ, nghe lại các Talkshow và xem các Video Talkshow cũ trên trang nhà của Bác Sĩ James Trương là www.BACSIMAT.com hoặc www.IOrthoK.com


Bác Sĩ Nhãn Khoa James Trương,  OD, FIAO, COVD, CSO, NORA
(Fellowship Orthokeratologist)
Board Certified Optometry.
Eye Care Optometry FV & Ortho-K World.
11075 Warner Ave.
Fountain Valley, CA 92708
Tel: (714) 418-9607
Web: www.BacSiMat.com or www.iOrthoK.com
Tham khảo hoàn toàn miễn phí về Phương Ngừng Độ Cận Ortho-K với Bác Sĩ James Trương.


 

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT