Nước Úc trong thế kỷ Á Châu


Nguyễn Hưng Quốc


(Nguồn: VOA)


 


Thủ tướng Úc, bà Julia Gillard, mới công bố bản bạch thư “Nước Úc trong thế kỷ Á Châu” (Australia in the Asian century) dài trên 300 trang. Mục tiêu chính của bản bạch thư là vạch ra những mục tiêu chiến lược để phát triển nước Úc cho đến năm 2025.










Thủ Tướng Julia Gillard của Úc. (Hình: Mak Remissa/AFP/Getty Images)


Về phương diện kinh tế, có hai mục tiêu chính:


Thứ nhất, nâng mức thu nhập thực sự trên đầu người tại Úc từ 62,000 đô-la vào năm 2012 lên thành 73,000 đô la vào năm 2025.


Thứ hai, nâng mức sống của dân Úc từ hạng thứ 13 hiện nay lên thành hạng thứ 10 trên thế giới.


Các mục tiêu ấy gắn liền với một tiền đề chính: Sự phát triển của Châu Á đang làm thay đổi diện mạo và các tương quan lực lượng trên thế giới. Trong vòng hai mươi năm vừa qua, Trung Quốc và Ấn Ðộ đã tăng gấp ba lần thị phần của họ trong nền kinh tế toàn cầu. Thu nhập trung bình trên đầu người ở Châu Á nhảy vọt từ mức dưới 5,000 Mỹ kim vào năm 1990, lên gần 10,000 Mỹ kim vào năm 2010, và sẽ đạt đến mức 15,000 Mỹ kim vào năm 2025. Lúc ấy, kinh tế Á Châu sẽ chiếm một nửa tỉ trọng trên thế giới.


Ðối diện với sự phát triển của Châu Á, đặc biệt của Trung Quốc, cách nhìn của Úc hoàn toàn khác với Mỹ. Với Mỹ, đó là một đe dọa; với Úc, đó là một cơ hội. Úc là quốc gia Tây phương và phát triển gần với Châu Á nhất. Châu Á càng giàu có, càng đô thị hóa và càng phát triển tầng lớp trung lưu bao nhiêu, nước Úc càng có thêm nhiều khách hàng bấy nhiêu. Từ mấy thập niên vừa qua, Úc là nơi cung cấp chính cho Châu Á về tài nguyên thiên nhiên, các sản phẩm nông nghiệp, các dịch vụ tài chính, nơi du lịch cũng như cơ hội du học. Tất cả các xu hướng ấy sẽ tăng dần theo thời gian. Vào năm 1960, Châu Á chỉ chiếm một phần năm nguồn hàng xuất khẩu của Úc (phần lớn bán sang Nhật); năm 1980, tỉ lệ này tăng lên thành một phần ba; năm 2010, thành hai phần ba.


Ngoài việc buôn bán các sản phẩm cụ thể, nguồn thu nhập của Úc còn đến từ nhiều nguồn khác, trong đó, nổi bật nhất là hai lãnh vực: Giáo dục và du lịch.


Giáo dục là nguồn thu nhập đứng hàng thứ tư trong nền kinh tế Úc. Số du học sinh đến Úc từ các nước Châu Á càng ngày càng tăng. Riêng ở cấp đại học, nó tăng gấp đôi trong vòng một thập niên. Hiện nay, trong số hơn một triệu du học sinh tại Úc, 80% đến từ Châu Á; trong số đó, 29% từ Trung Quốc, 13% từ Ấn Ðộ, 5% từ Hàn Quốc, 4% từ Việt Nam và Mã Lai.


Du lịch mang lại cho Úc mỗi năm trên 20 tỉ đô la (ví dụ năm 2010: 24 tỉ). Trong năm 2011, 7 trên 10 du khách đến Úc là người Á Châu, trong đó, nhiều nhất là người Ấn Ðộ, Indonesia, Trung Quốc và Việt Nam.


Ðể tận dụng các cơ hội đến từ Châu Á và để đạt được các mục tiêu phát triển, chính phủ Úc đề ra nhiều chiến lược, từ kinh tế đến thuế khóa, cơ sở hạ tầng đến môi trường, và đặc biệt, giáo dục. Ví dụ, về giáo dục, họ đặt chỉ tiêu là, vào năm 2025, 90% thanh niên thuộc lứa tuổi 20-24 sẽ tốt nghiệp phổ thông hoặc tương đương (hiện nay là 86%); 40% thanh niên từ 25 đến 34 tuổi sẽ có bằng cử nhân (hiện nay là 35%); sẽ có 10 đại học Úc được lọt vào danh sách 100 đại học đứng đầu thế giới (hiện nay có 5 – hoặc 6, tùy từng cơ quan đánh giá và xếp hạng).


Trong lãnh vực giáo dục, nội dung đáng chú ý nhất được nêu lên trong bản bạch thư là: Tăng cường việc giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa Á Châu trong các trường học tại Úc.


Ở bậc đại học, sinh viên được khuyến khích: Thứ nhất, ghi danh học các bộ môn liên quan đến ngôn ngữ văn hóa Á Châu; thứ hai, đi du học dài hạn hoặc ngắn hạn tại các nước Á Châu. Bản thân các trường đại học cũng được khuyến khích kết nghĩa với các đại học Á Châu để tạo cơ hội cho sinh viên nâng cao sự hiểu biết về các nước Á Châu.


Ở bậc phổ thông, tất cả các học sinh sẽ được khuyến khích và được tạo cơ hội để học một trong các ngôn ngữ Á Châu, đặc biệt có bốn ngôn ngữ được ưu tiên: Tiếng Trung Quốc (Quan Thoại), tiếng Hindi, tiếng Indonesia và tiếng Nhật.


Do tầm vóc kinh tế của Việt Nam còn quá nhỏ, tiếng Việt không được nằm trong danh sách các ngôn ngữ được ưu tiên nhất. Tuy nhiên, bản bạch thư cũng nhấn mạnh: Ngoài bốn ngôn ngữ ưu tiên ấy, chính phủ tiếp tục ủng hộ các nỗ lực làm gia tăng việc học các ngôn ngữ khác như tiếng Hàn, tiếng Việt và tiếng Thái.


Còn nhớ, vào đầu thập niên 1990, khi chính phủ Lao Ðộng, dưới thời Paul Keating, chủ trương đưa nước Úc lại gần hơn với Châu Á và khuyến khích việc dạy và học các ngôn ngữ Á Châu, vai trò của các ngôn ngữ Á Châu, trong đó có tiếng Việt, trong hệ thống giáo dục Úc, từ tiểu học lên đến đại học, được phát triển rất mạnh. Trong nửa đầu thập niên 1990, hầu hết các trường đại học tại tiểu bang Victoria đều mở khóa dạy tiếng Việt. Có trường chỉ mở một thời gian ngắn, một hoặc hai học kỳ; có trường lâu hơn, vài ba năm; và có trường, như trường Victoria University, đến tận bây giờ vẫn còn.


Tuy nhiên, khi Liên Ðảng lên cầm quyền, Thủ Tướng John Howard chủ trương mặc dù về phương diện địa lý, Úc gần với Châu Á, nhưng về phương diện văn hóa, Úc vẫn là một quốc gia Tây phương, do đó, có khuynh hướng ủng hộ các ngôn ngữ Tây phương. Hậu quả là việc giảng dạy các ngôn ngữ Á Châu càng lúc càng yếu dần. Ở trường đại học nơi tôi dạy, người ta vội vàng đổi khoa Á Châu học (Asian studies) thành khoa Quốc Tế học (International studies) với hy vọng sẽ tiếp tục nhận được tài trợ từ chính phủ.


Bây giờ, với sự thay đổi chính sách được nêu lên trong bản bạch thư, hy vọng việc giảng dạy các ngôn ngữ Á Châu, trong đó có tiếng Việt, nếu không trở lại thời hoàng kim như trước thì ít nhất cũng không đến nỗi èo uột như những năm vừa rồi.


Hy vọng vậy.


Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Cường Quyền và Nhân Sĩ

Chúng ta bắt buộc phải luôn quan ngại (và canh thức) về sinh mệnh của Trần Huỳnh Duy Thức, cùng hàng trăm tù nhân lương tâm khác, đang nằm trong vòng tay của cường quyền và bạo lực!

Khóc Thầm

Họp báo của Tổng Giám đốc Tư pháp Pennsylvania, ông Josh Shapiro, trình bầy kết quả cuộc điều tra của một đại bồi thẩm đoàn (DBTD) về nghi án nhiều tu sĩ hiếp dâm trẻ em, trong lúc giáo hội không chỉ nín thinh, mà còn che giấu trọng tội đó nữa.

Trần Thị Nga bị đánh đập và đe dọa giết chết trong trại giam Gia Trung

Bà Trần Thị Nga (tên trên facebook là Thúy Nga) là một trong số các nhà hoạt động nữ nhiều lần bị đánh đập dã man, thậm chí bị vây đánh bằng gậy sắt đến gẫy chân tay.

Chó cùng cắn giậu

“Tội” của Lê Đình Lượng là đã không chịu câm miệng để mặc cho đảng và nhà nước CSVN mặc sức mua bán lãnh thổ, đè đầu cưỡi cổ người dân.

Lính Miền Nam

Thời gian đã không đứng về phe thắng cuộc, và đã dần hé mở dần chân dung của những người lính miền Nam

Việt Nam có còn cửa ‘đi đêm’ với Slovakia?

Khủng hoảng ngoại giao Slovakia-Việt Nam mở màn tròn một năm sau vào Tháng Tám, 2018, đầy kịch tính và diễn biến sôi động theo từng tuần lễ.

Khát vọng trở về

Họ, trong nhiều hoàn cảnh, ra đi cũng chỉ bất đặng đừng, để đấu tranh cho mục tiêu dân chủ hóa đất mẹ, và cũng là để tìm hướng trở về.

Múa trên những xác người

Trung Cộng đang tổ chức 6 năm ngày thành lập thành phố họ đặt tên là Tam Sa trên đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa. Nghĩa là công khai nhục mạ tập đoàn cầm quyền ở Việt Nam.

Cuộc thẩm vấn cuối cùng

Hôm Thứ Tư, mùng 8 Tháng Tám, 2018, ông Jay Sekulow - một luật sư trong dàn luật sư đông đảo của Tổng Thống Trump - cho biết Bạch Cung đã trả lời lá thư mời tổng thống đến thẩm vấn của công tố viên đặc trách Robert S. Mueller III.

Vài suy nghĩ về ông Giáp

Võ Nguyên Giáp có công gây dựng nên một tập đoàn tội ác nhưng lại ra đi thanh thản và vinh quang, trong khi chính những nạn nhân vô tội của chế độ thì lại hứng chịu thảm trạng bi đát của gia đình để rồi phải ra đi trong uất ức, tủi nhục.