Tôi cũng như chiều, tôi mồ côi

 


Du Tử Lê, tùy bút


 


“làm sao em biết khi xa bạn,


tôi cũng như chiều, tôi mồ côi.”


(thơ dtl.)


 


Tôi luôn tự hỏi, không biết phương Tây có bao nhiêu người hiểu được rằng, người Việt thường có tập quán gửi gấm những mơ ước thầm kín của mình, vào những đứa con của họ, qua tên gọi?


 



Cao Lập. (Hình Quý Hòa – SGTT)


 Mỗi danh từ Việt, tự thân đều minh bạch hay, ẩn tàng một ý nghĩa sâu xa nào đó. Ngay cả những đứa trẻ được cha mẹ chọn những tên gọi đơn giản, bình dị, hoặc theo vần tên của người vợ hay chồng, để bày tỏ lòng thương yêu, biết ơn người bạn đời của mình… Thì, chúng vẫn là những hy vọng, khao khát, bày tỏ, mặc nhiên đặt lên đôi vai nhỏ bé, mỏng manh của những đứa trẻ ngay tự thuở nằm nôi. (Mặc dù, thực tế rất thường, đã phũ phàng, đánh tráo những mơ ước thầm kín kia, bằng khá nhiều bẽ bàng, hờn tủi!)


Câu hỏi, càng lúc càng trở nên thao thiết hơn trong tôi, khi tình thân, cũng như những điều tôi nghe được về cuộc đời chông chênh, lênh đênh gập ghềnh, bất trắc của C. Lập, bạn tôi.


Tôi không biết khi song thân bạn tôi, đặt tên cho bạn tôi là Lập, chỉ hàm ý muốn đứa con trai họ, mai sau, có được một đời sống tự lập, độc lập? Hay họ còn thầm kín mơ ước khi trưởng thành, bạn tôi sẽ thiết lập được những khế ước cao cả, ý nghĩa với xã hội, đất nước?


Hẳn nhiên, đó là điều tôi không biết. Thậm chí, tôi nghĩ, có thể bạn tôi cũng không biết! Vì, hiếm khi những đứa con dám cất tiếng hỏi cặn kẽ mơ ước, ý nghĩa sâu xa mà, đấng sinh thành đã kín đáo đặt để lên vai chúng.


Ðiều duy nhất tôi biết, khi còn là sinh viên, rất sớm, bạn tôi đã có xu hướng tranh đấu cho quyền làm người, cho tự do, dân chủ một đất nước, bằng những cuộc xuống đường, biểu tình. Chính những tỏ bày này, cũng đã rất sớm, đưa bạn tôi vào vòng lao lý!


Sợi dây buộc chặt chúng tôi với nhau, là văn chương, nghệ thuật – Với những mơ mộng, lãng mạn chấp chới không chỉ trong ánh mắt mà, trong cả nụ cười của bạn tôi, mỗi khi chúng tôi có cơ hội gặp nhau. Nhưng chưa bao giờ bạn tôi kể tôi nghe, về những năm tháng tù tội ấy…


Làm như bạn tôi cho, đó là một công việc tự nhiên. Tựa mỗi con người, trước khi ra đời, đã được Thượng Ðế định sẵn cho họ một công việc. Một phần vụ. Dù lớn hay bé. Ðơn giản, nhẹ nhàng hay, khó khăn phức tạp. Nó là một thứ định mệnh khởi kiếp. Muốn hay không, con người khó thể né tránh. Thí dụ, bạn tôi có những người bạn viết nhạc như Phúc, như Sơn. Làm thơ như Thái, như Quân. Lại phim như Ðiền, như Dũng…


Tôi sẽ không biết mảng quá khứ bầm giập kể trên của C. Lập, nếu một người bạn chung của chúng tôi là Vỵ, không vô tình, hào hứng, phấn khích kể tôi nghe phần bóng tối thanh niên đó. Tôi cũng sẽ không hay biết một chút gì, về cái mà C. Lập cho rằng “nó cũng bình thường, cũng tự nhiên thôi…!” Nếu Thái không kể tôi nghe, những cuộc xuống đường, biểu tình đòi chủ quyền cho đất nước, của Thái, Ðằng, Lập… giữa Saigon hôm nay. Lãnh vực tôi hoàn toàn bù trớt!


Tôi không biết song thân bạn tôi nghĩ gì, cảm nhận gì, trước những việc làm của bạn tôi, mang tính thiết lập những khế ước cao cả, ý nghĩa với xã hội, đất nước? Nhưng tôi không hỏi và, sẽ không bao giờ hỏi bạn tôi, chuyện ấy.


Tôi luôn nghĩ, trong tình bạn, dù ở mức độ thân thiết nào, vẫn có những giới hạn, những vạch phấn ta nên dừng lại. Tôi muốn nói, trừ phi bạn tự ý tâm sự, phần riêng, tôi tôn trọng mơ ước song thân bạn tôi, đã sớm đặt lên đôi vai nhỏ bé, mỏng manh của bạn, từ thuở nằm nôi. Tôi tôn trọng xu hướng, như một thứ trách nhiệm, bạn tôi sớm nhận lãnh từ khao khát thầm kín của đấng sinh thành ra bạn.


Cũng vậy, chưa bao giờ C. Lập hỏi tôi về công việc tôi đã đeo đẳng gần hết đời mình. (Mặc dù đó không hề là mơ ước, khát khao thầm kín của thầy, me tôi, khi tôi được sinh ra. Nếu không muốn nói, ngược lại!)


Thật thế! Chưa bao giờ tôi hé lộ cho bạn biết, công việc, đúng hơn, đam mê phù phiếm từ thuở thơ dại của tôi, tới hôm nay; vốn là niềm kinh hoàng, nỗi hãi sợ tương tự một bất hạnh, một hình phạt ghê gớm mà, ông trời đã giáng xuống đời tôi, trong cảm nhận của mẹ tôi. Vẫn trong mắt nhìn của bà, trước khi biết tôi bị vướng vào cái nghiệp “chữ nghĩa vớ vẩn!” (cách nói quê mùa của mẹ tôi,) thì tôi, chính tôi, chứ không phải bà (?)đã sớm phải nhận lãnh một tai họa không thể to lớn hơn! Không thể bất hạnh hơn! Ðó là sự kiện thầy tôi mất, khi ông còn rất trẻ! Và tôi, chỉ mới lên ba!


C. Lập cũng chưa bao giờ hỏi tôi về mặt trái, của thế giới gọi là sinh hoạt văn học, nghệ thuật.


Mỗi lần có cơ hội gặp C. Lập, dù ở đâu, ngoài hay trong đất nước (Cali hay Saigon,) tôi chỉ thích được nhìn sâu, nhìn thấu phía sau ánh mắt tinh anh (thấp thoáng chút giễu cợt) và, nụ cười (cũng như tiếng cười) lúng liếng niềm vui của bạn – Kẻ thiết tha với đời sống. Ðắm đuối với lý tưởng (hạnh phúc?) cống hiến phần tim, óc mình cho bằng hữu. Ðám đông. Mọi người.


Cụ thể, tôi thích lắm, khi biết bạn tôi là người biến khu Bình Quới, Văn Thánh, thành hai quần-thể giải trí. Kết hợp được khá nhiều những nét tiêu biểu truyền thống văn hóa Việt.


Tôi cũng vui lắm (hãnh diện nữa,) khi biết bạn tôi, có nhiều năm là linh hồn của khu Chợ Hoa đường Nguyễn Huệ, mỗi dịp Xuân về.


Tôi cũng không che giấu hân hoan, khi biết liên tiếp mười năm qua, bạn tôi và bằng hữu, đã tổ chức ngày giỗ T. C. Sơn. Cho những người yêu ca khúc của tác giả này. Cho cả Saigon, một thời khuất, lấp.


Tôi cũng cảm kích lắm, khi biết bạn tôi, bằng vào tình yêu thiên nhiên, hoa cỏ, đã thiết lập những chuyến xe hoa/tang, cho những người bạn như Sơn, rồi Bảo Phúc, Huỳnh Phúc Ðiền, đến nơi an nghỉ cuối cùng của họ!…


Tôi biết, bạn tôi không viết văn, làm thơ. Bạn tôi cũng không soạn nhạc. Nhưng tôi nghĩ, bất cứ ai, một khi biết rõ C. Lập, đều có thể nói mà, không sợ quá lời rằng, đó là một người viết nhiều ca khúc tuyệt vời, không ca từ. Không nốt nhạc.


Bất cứ ai, một khi biết rõ C. Lập, theo tôi, đều có thể nói mà, không sợ quá lời rằng, đó là tác giả của những bài thơ… không chữ. Viết cho thiêng liêng, tình bạn.


Bây giờ là buổi chiều, nơi tôi ở. Bé đã chở T. đi công việc. Tôi, một mình, đứng trước hai chuồng chim do Thuần…“thiết kế” giùm, trên mảnh đất giữa vườn sau. Trước đây, vốn là căn nhà gỗ, trống. Nơi một trong bốn vách ván, trên, dưới mười năm trước, một buổi chiều, tôi đã nguệch ngoạc viết: “Làm sao em biết khi xa bạn / tôi cũng như chiều, tôi mồ côi.”


Nhớ lại này, dẫn độ tôi đối diện với sự thật rằng, tôi đã hết lâu rồi, những chiều lề đường Trương Ðịnh. Những sáng vỉa hè Lê Thánh Tôn. Những tối nhập nhoạng với Lập, Hãn, Minh, cùng những củ lạc, những hạt đậu phụng luộc mà, mỗi tẽ ra, lại thấy một chứa chan ánh mắt tinh anh (thấp thoáng chút giễu cợt) của bạn. Hay, một chớm khuya với Thắng, Dung, Hãn, Tuấn và, những ly café đá, góc đường Lê Anh Xuân – Ðối diện cây xăng nghỉ bán, lặng lẽ, âm thầm bốc hơi cùng Saigon, mờ, tỏ nỗi niềm mà trong mỗi hớp café, tôi lại thấy lúng liếng niềm vui của bạn, phút cuối.


Bây giờ, nơi tôi ở, chiều đã tắt hẳn. T. chưa về. vẫn đứng trước chuồng chim, phần riêng, trong nỗi nhớ bạn, tôi hiểu, thể tạng tôi không hợp lắm, với cách thế yêu đất nước của C. Lập. Nhưng tôi vẫn yêu (yêu lắm,) việc làm của bạn. Bởi vì, với tôi, tự thân đời sống bạn tôi, đã là một trường khúc:


– Bài thơ dài của một trong những người, thương yêu biết bao, đất nước mình!


Du Tử Lê


(Tháng 3, 2012)

Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Tuyển Tập 100 Năm Thơ Việt

Bài Thề Non Nước in trong truyện ngắn cùng nhan đề vào năm 1922, tới nay vẫn là một bài thơ giữ nguyên ý nghĩa và giá trị, và tác giả của nó vẫn là một thi bá trong làng thơ

Nguyễn Sỹ Tế, thơ, phao cứu sinh của người tù cải tạo?

Đa số thành viên nòng cốt nhóm Sáng Tạo, căn bản vốn là nhà văn, họa sĩ hay lý luận văn học như Mai Thảo, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Doãn Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp,... không phải là nhà thơ...

Những người xa khuất dịp Xuân sang

Những người vĩnh biệt dương gian vào Tháng Hai Dương Lịch là những người ra đi vào dịp nhân gian đang bận rộn mừng Xuân đón Tết.

Hà Nội, những mùa Xuân phai

Tôi chưa hề nghe ai nói “yêu muốn khóc” bao giờ, chỉ độc nhất có một người làm thơ là Hoàng Anh Tuấn. Yêu đến như thế là... yêu quá là yêu.

Những cánh hoa cuối năm

Vào những ngày cuối tháng của năm, tôi có dịp lên thành phố Saigon, không khí sinh hoạt trông nhộn nhịp hẳn lên, bao hình ảnh xem như đã chuẩn bị trước từ nhiều tháng qua, những sắc màu,những...

Em có hay xuân về! – Thơ Mặc Phương Tử

Em có hay!/ Những chiếc lá thức tàn canh/ Cây chuyển mạch,/ Dòng đời thay sắc áo/ Hoa đương nụ dưới ngàn sương huyền ảo/ Cánh chim về chở trĩu ước mơ xanh.

Sương chiều ngồi nhớ bằng hữu – Thơ Trần Tuấn Kiệt

Sương lạnh chiều vây phủ/ Ngồi rồi nhớ cố nhân/ Độc ấm trà ra khói/ Thời gian quyện lững lờ.

Sắc màu tình yêu – Thơ Lê Minh Hiền

mùa đông lá đỏ/ mùa hạ lá vàng/ xuân hồng thấp thoáng/ thu nay mắt huyền

Dấu vết dòng sông – Thơ Phan Nam

Những con sông rời xa bến đợi/ Nặng trĩu nỗi niềm cỏ hoa/ Mùa chạp bay trong nhang khói/ Tháng giêng lặng lẽ đưa thoi.

Mùa Xuân đến – Thơ Nguyễn Thị Khánh Minh

Ban mai đến/ Ngày đưa tôi đến/ Lời hôm qua mối đùn/ Lời hôm qua xanh cỏ/ Mớ ý nghĩ nháo nhào tiếng sấm