Nguyễn Bá Lộc
Tương quan kinh tế giữa hai nước thường là phức tạp. Tình trạng bang giao kinh tế giữa Việt Nam (VN) và Trung Quốc (TQ) trong vòng 10 năm trở lại đây trở thành một mối lo lớn cho đất nước.
Bởi vì sự cấu kết đó trên căn bản không bình thường. Quyền lợi kinh tế chánh yếu của hai dân tộc bị xem nhẹ hơn quyền lợi của đảng. Trong mối tương quan kinh tế giữa hai nước phần thiệt thòi lớn lại là Việt Nam.
Từ khi bang giao lại (1991), VN và TQ xúc tiến nhanh chóng nhiều thương ước và thực hiện nhiều chương trình hợp tác với nhau. Nhứt là từ khi TQ muốn và thực hiện được mộng ước siêu cường kinh tế, khi Liên Xô và Ðông Âu sụp đổ, và khi Hoa Kỳ chánh thức bang giao với VN. Tiến trình hợp tác đó được ký kết long trọng bằng những thỏa ước trong đó có hai lần quan trọng: Vào tháng 7 năm 2005 chủ tịch nước Trần Ðức Lương ký với lãnh đạo TQ nhiều chương trình kinh tế với trị giá 1,071 tỷ Mỹ kim (theo Asia Times 21 tháng 7, 2005). Và thỏa ước ký giữa Hồ cẩm Ðào và Nông Ðức Mạnh tại Hà Nội vào tháng 11 năm 2006 khi dự Hội nghị APEC, nhiều dự án với trị giá 1.6 tỷ Mỹ kim (trong đó có dự án khai thác bauxite).
Tương quan kinh tế giữa hai nước, nhịp độ tiến nhanh đó đưa đến mức khá bất lợi và khá nguy hiểm cho VN. Chúng tôi xin tóm tắt dưới đây một số hoạt động cho thấy sự xâm chiếm kinh tế của Trung Quốc đối với Việt Nam.
Vấn đề này được xem xét qua các lãnh vực chánh yếu:
1. Xuất nhập cảng.
2. Thầu thực hiện các dự án lớn.
3. Viện trợ kinh tế & Ðầu tư trực tiếp.
4. Kế hoạch hợp tác rộng lớn và lâu dài.
1. Tình trạng xuất nhập cảng:
Trong 10 năm đầu sau 1991, giao thương giữa hai nước dù có gia tăng nhưng không đáng kể. Sau đó thì nhịp độ gia tăng rất nhanh, đến 2004, TQ trở thành một bạn hàng lớn của VN. Giao thương hai chiều của hai nước tăng từ 1991 đến 2009 như sau:
Năm 1991 2001 2008 2009 2010
Trị giá (triệu US $) 32 1,500 17,800 21,500 27,000
(Nguồn: Tuần báo Kinh tế Saigon tháng 5, 2011)
Như vậy chỉ trong 10 năm gần đây trị giá ngoại thương hai bên tăng 18 lần. Hàng VN qua TQ thì giảm hay tăng không đáng kể, nhưng hàng TQ qua VN thì tăng quá nhanh. Trong đó VN nhập siêu hàng TQ lên rất cao, như năm: Năm 2007: 9 tỷ Mỹ kim; năm 2011: 11.5 tỷ; năm 2010: 12 tỷ.
Nghĩa là VN mua hàng của TQ gần ba lần TQ mua của VN. Trị gia nhập siêu từ TQ chiếm 80-90 % tổng nhập siêu của VN.
Các món chánh TQ nhập của VN là than đá, cao su, dầu thô. Chỉ ba món nầy chiếm trên 60%. Gần đây có thêm khoáng sản, như vậy VN là nơi cung cấp nguyên liệu và năng lượng cho nền kỹ nghệ TQ. Từ năm 2001 TQ là nước nhập cảng dầu thô lớn nhứt của VN (theo China Foreign Economic Policy towards Vietnam, đại học University of Glasgow, UK). VN lấy dầu đổi hàng TQ kể cả lấy dầu lọc rồi. Tình trạng giống như thực dân ngày xưa đi khai thác thuộc địa.
Còn VN thì nhập từ TQ rất nhiều thứ. Nhiều nhứt là phân bón thuốc sát trùng (gần 2 tỷ Mỹ kim/năm), dầu xăng, ciment, vải, đồ gia dụng đủ thứ. Hàng vài, máy móc trang bị…
Riêng về máy móc tăng từ 103.7 triệu Mỹ kim (1999) lên 1,200 triệu (2006), tăng hơn 10 lần trong vòng 7 năm.
Số lượng sắt thép VN cũng nhập từ TQ khá lớn: 42.8 triệu Mỹ kim (1999) lên 1,296 triệu (2006).
Về nhập hàng trang thiết bị từ TQ đều qua công ty quốc doanh của hai nước, mà quốc doanh thì chiếm ưu thế tuyệt đối. Cho nên việc định giá trên hóa đơn cao hơn nhiều so với giá thực tế là chuyên dễ làm, để rồi chia chác lợi lộc cho cả hai bên mua và bán. Nói chung là hàng TQ giá khá rẻ, phẩm chất hơn hàng VN, người tiêu thụ VN ưa thích vì lợi tức thấp. Nhưng hàng vào VN ào ạt như vậy gây tai hại cho nền kỹ nghệ non yếu và nông nghiệp của VN.
Ngoài ra trong giao thương với TQ, VN bị nạn rất lớn là hàng lậu từ TQ tràn ngập ở VN với đủ thứ, nhiều nhứt là hàng gia dụng và thực phẩm. Tổng số hàng lậu nầy ước tính trên một tỷ Mỹ kim/một năm. Hàng lậu nầy có giá khá rẻ mà dân chúng thì nghèo, nên có số lượng hàng tiêu thụ lớn. Mặt khác, thương gia TQ qua VN gần như không có phép tắc nào cả. Chúng gom mua nhiều thứ nông sản hay gia cầm với giá cao lúc đầu để nông dân thấy lợi trước mắt trồng trọt nhiều, sau đó thương gia TQ ngưng mua hay ép giá xuống. Nhà nông VN điêu đứng.
2. Thầu xây dụng những công trình lớn
Trong khoảng gần 5 năm trở lại đây, TQ tiến thêm một bước khác khá nhanh là “trúng thầu” một số dự án công trình hay kỹ nghệ lớn, mỗi dự án trị giá hàng trăm triệu Mỹ kim. Nói là trúng thầu nhưng thực sự là TQ ép VN giao cho các dự án lớn, trong khi các công ty rất tốt của những nước khác không đấu lại. Chánh quyền VN thì nói sở dĩ TQ được nhiều là do họ bỏ thầu với giá rẻ. Nhưng như chúng ta biết khoa học kỹ thuật TQ hãy còn yếu nên tất cả các dự án thực hiện rất chậm trễ hay phẩm chất rất kém. Một số dự án lớn mà TQ đã trúng thầu có thể kể ra như sau:
-Dự án xây nhà máy chế biến quặng nhôm (bauxite) ở Tân Rai, thuộc tỉnh Lâm Ðồng và ở Gia Nghĩa, tỉnh Dak Nông.
TQ trúng thầu hai dự án nầy lên tới 980 triệu Mỹ kim vào năm 2008. Ðiều làm cho nhiều người ngạc nhiên là công ty quốc doanh trúng thầu của TQ Chalieco, trình độ công ty nầy rất kém so với nhiều công ty lớn và nổi tiếng của Mỹ, Anh, Úc mà bị rớt thầu. Trong gói thầu nầy TQ đem qua bán cho VN phần lớn máy móc trang bị cũ bị phế bỏ, nay đem qua VN. Công ty trúng thầu chỉ mua ít máy móc tối tân của Nhựt để che mắt.
-Cung cấp tàu bè và trang thiết bị cho Tập Ðoàn Kinh Tế Vinashin. Chúng ta có biết tập đoàn Vinashin bị lỗ lã đến 4.2 tỷ Mỹ kim, gần như phá sản vào năm 2010 chỉ sau có 4 năm hoạt động. Qua điều tra sơ khởi Vinashin đã mua của TQ nhiều tàu cũ trị giá hàng trăm triệu Mỹ kim, về sửa chữa lại và sau khi sử dụng chưa được một năm thì bị nằm ụ.
-Xây cất các nhà máy điện và hạ tầng cơ sở. Từ mấy năm qua, tổng công ty điện lực VN (EVN) đã cho TQ trúng nhiều thầu dự án to lớn xây cất một số nhà máy điện.
-Xây nhà máy điện Trà Vinh (Duyên hải 3): Chủ đầu tư dự án là Tổng công ty điện lực VN đã thuận ngày 5 tháng 8 năm 2011 cho Trung Quốc trúng thầu xây nhà máy điện cho vùng duyên hải, đặt tại Trà Vinh. Trị giá món thầu nầy tới 1.3 tỷ Mỹ kim (theo bản tin của Reuter).
TQ cho VN vay 85% số vố đầu tư dự án nói trên, và 20% do EVN cung ứng.
-Xây nhà máy nhiệt điện Duyên hải 1: Nhà máy nầy cũng do TQ trúng thầu và bắt đầu xây dựng từ tháng 9 năm 2010. Trị giá công trình nầy lên tới 5 tỷ Mỹ kim. Chủ đầu tư là EVN và công ty trúng thầu là Tập đoàn Ðông Phương của TQ.
Có tất cả 5 nhà máy nhiệt điện và thủy điện đều do TQ trúng thầu hết. Nhà thầu TQ rất chậm trễ trong việc hoàn thành các nhà máy điện từ một đến 3 năm (theo báo Saigon Tiếp Thị 17-11-2010), cũng như sử dụng máy móc xấu cũ kỹ.
Dù có bê bối như vậy nhưng TQ vẫn được trúng thầu tiếp chẳng những về điện lực mà còn nhiều dự án xây cất đường sá, cầu cống, bến cảng… Ví dụ: TQ trúng thầu xây dụng xa lộ Long Thành-Dầu Giây (51 km) trị giá 800 triệu Mỹ kim.
Trong các dự án đầu tư của TQ tại VN, các công ty TQ mang theo rất nhiều công nhân mà đa số không có tay nghề chuyên môn. Ðiều này sai luật đầu tư ngoại quốc của VN, theo luật VN chỉ cho phép các công ty ngoại quốc được đem qua nhân viên chuyên môn mà thôi. Theo báo cáo của Bộ Lao Ðộng thì có tới 74,000 công nhân TQ đang làm việc tại VN (2010) trong đó có rất ít người có chuyên môn, và chưa kể những công nhân không khai báo.
3. Viện trợ kinh tế của TQ và đầu tư trực tiếp
Một trong những cách mà TQ muốn dụ dỗ các nước nghèo là cho các nước nầy vay. Có nhiều trường hợp cho vay không lấy lời. Nhu cầu vay mượn của VN rất lớn (vì vay được nhiều thì mới có nhiều dự án, có nhiều dự án thì mới có tham nhũng lớn). Cái may của VN là trong hơn chục năm qua được nhiều định chế tài chánh quốc tế như Ngân Hàng Thế Giới, Ngân Hàng Á Châu, Quỹ Tiền Tệ Thế Giới cùng một số quốc gia cung cấp cho một số viện trợ kinh tế khá lớn (từ 4-6 tỷ Mỹ kim/năm). Cho nên VN chưa phải năn nỉ xin viện trợ TQ nhiều. Trong năm 2000 TQ cho VN vay lập nhà máy thép Thái Nguyên 55.2 triệu Mỹ kim và nhà máy phân bón Hà Bác 32.38 triệu Mỹ kim. Các món tiền này không phải hoàn trả. Năm 2007, TQ cho vay 2.6 tỷ Mỹ kim lập công ty điện thoại.
Cũng như các cường quốc kinh tế khác, TQ có quỹ viện trợ cho thế giới rất lớn. Thông thường lúc nào và ở đâu viện trợ luôn có điều kiện, nhứt là điều kiện về chánh trị.
Trong 10 năm nay viện trợ quốc tế cấp nhiều cho VN là vì VN đã thay đổi chánh sách kinh tế cam đoan theo nền kinh tế thị trường. Ðối với TQ thì điều nầy không quan trọng vì VN đi theo những nét chánh, bài bản và mánh khóe của TQ. Cái mà TQ muốn áp đảo kinh tế VN là muốn VN (Cộng sản) luôn là tay sai của bá quyền kinh tế TQ và VN là nơi thuận tiện nhứt để khai thác tài nguyên kinh tế phong phú của VN. Vì vậy trong tương lai TQ sẽ còn cấp nhiều viện trợ với điều kiện dễ dãi.
Về đầu tư trực tiếp của TQ tại VN cho tới giờ hãy còn yếu, nhưng có đà gia tăng. Nhìn chung đầu tư trực tiếp của TQ ở VN, rất khác các nhà đầu tư trực tiếp đến từ các nước khác như Nhựt, Nam Hàn, Pháp, Hoa Kỳ. Những công ty đầu tư TQ hầu hết là quốc doanh, mục đích là khai thác tài nguyên.
Ðầu tư trực tiếp của TQ tại VN
Năm 1998 2004 2006 2008
Số dự án 61 391 71 628
Trị giá (triệu US$ ) 220 774.9 401.3 2,198
(Nguồn: Tổng cục Thống kê VN)
TQ sẽ đẩy mạnh đầu tư trực tiếp tại VN về khai thác khoáng sản, lâm sản và ngay cả các đại siêu thị.
TQ coi việc mở rộng đầu tư trực tiếp, có thể vốn 100% (hay liên doanh với công ty quốc doanh với nhau thì dễ chia chác) hoặc với người Hoa hải ngoại.
Ngoài việc xâm chiếm kinh tế qua kinh doanh, TQ còn đưa qua VN nhiều công nhân viên. Họ xây dựng các khu “China town” như ở Bình Dương hiện nay. Dần dần như là đợt di dân âm thầm ngụy tạo dưới danh nghĩa làm ăn.
4. Kế hoạch họp tác rộng lớn và lâu dài
Kể từ khi nối lại bang giao (1991), hai đảng và chánh quyền hai nước VN và TQ rất gần gũi, chia sẻ quyền lợi và cộng tác càng ngày càng chặt chẽ. Trong 20 năm qua có 58 hiệp ước kinh tế lớn. VN luôn luôn bị ép, không cưỡng lại nổi áp lực TQ.
CSTQ có những tham vọng và âm mưu với CSVN cái gọi là “hợp tác toàn diện”.
Những mục tiêu và kế hoạch mà TQ đang và nhắm tới trong một số kế hoạch rộng lớn có thể kể:
-Khai thác khoáng sản của VN. Sau khi giao hai nhà máy chế biến, có lẽ xong vào năm tới khi thầu thì nói năm nay xong, TQ sẽ trực tiếp trong giai đoạn kế là chế biến và nhập nhôm về TQ mà hiện TQ thiếu nguyên liệu này. Sau đó TQ sẽ khai thác nhiều loại khoáng sản quan trọng của VN, mà kỹ nghệ TQ rất cần, và VN có như sắt, than, và kể cả “đất hiếm” mà trong vòng 10 năm qua TQ đi khai thác khắp thế giới. Cách thức và kỹ thuật của TQ đưa đến ít nhứt hai hậu quả tai hại trầm trọng cho VN: Năng suất kém vì kỹ thuật yếu, giá bán tài nguyên sơ chế cho TQ thấp, và tai hai cho môi trường.
-Khai thác lâm sản. VN có nhiều rừng ở miền Bắc cũng như miền Trung. TQ đã và sẽ nhắm tới. Hoặc dưới hình thức thu mua lâm sản hoặc dưới hình thức thuê rẽ trồng rừng. Chương trình nấy có phần nguy hiểm cho an ninh quốc gia. Công nhân và cán bộ TQ đông đảo ở lẫn lộn trong dân, nhứt là dân thiểu số, sẽ dụ dỗ tiến tới khu tự trị.
-Khai thác tài nguyên dưới biển vùng biển Ðông rộng lớn và có nhiều đảo thuộc chủ quyền nhiều quốc gia, đã và đang tranh chấp ác liệt. Như chúng ta biết sự tranh chấp rất phức tạp và có tính cách quốc tế. TQ muốn chiếm phần lớn dầu và hải sản trong vùng này. Theo tin tức có được thì tiềm năng dầu khí ước lượng ở đây rất lớn. Tranh chấp gần đây trở nên gây cấn vì TQ đưa ra bản đồ vùng biển thuộc TQ rất lớn, rất vô lý, không có căn cứ pháp lý. Các nước trong vùng phản đối trong đó có VN. TQ càng làm mạnh tới như đe dọa công ty tìm kiếm dầu lửa của Mỹ, Úc, Ấn Ðộ đã có hợp đồng với VN. Tình trạng TQ muốn làm chủ vùng biển này đã khiến Hoa Kỳ can thiệp vào, vì đây là vùng có nhiều dầu mà còn là con đường biển qua đại dương rất quan trọng. Hoa Kỳ đã khẳng định không thể bỏ vùng này. Ðiều này làm cho VN và các nước có tranh chấp với TQ có phần bớt sợ TQ. Nhưng CSVN trong điều kiện chủ quan và khách quan khó thoát khỏi gọng kềm của TQ.
Ngoài dầu lửa, vùng này còn là ngư trường khá, nên có nhiều đụng chạm vì tranh giành đánh cá. TQ đã nhiều lần bắt ngư dân VN cách ngang nhiên và sai luật.
-Dự án xa lộ Ðông Nam Á. TQ chủ đạo kế hoạch xây xa lộ qua các nước từ Malaysia, Thái Lan, Cambodia, Lào và Việt Nam đến TQ tạo một vành đai lớn có lợi cho TQ nhiều hơn. TQ còn hợp tác với VN xây một số xa lộ từ Vân Nam xuống Bắc VN.
-Tiếp tục thầu lớn xây dựng hạ tầng. VN có nhu cầu lớn xây dựng hạ tầng cơ sở, cầu cống, cảng. Nhu cầu này còn nhiều trong tương lai. Một phần lớn viện trợ quốc tế đổ vô xây dụng hạ tầng. Và cũng phần lớn các dự án xây dựng lọt vào tay TQ một cách không chánh đáng.
Với phần tóm lược trên đây chúng tôi muốn đóng góp số dữ kiện kinh tế trong mối bang giao và cấu kết giữa hai nước Cộng sản trong hai thập niên qua. Sự xâm chiếm kinh tế của TQ rất đáng lo ngại vì nằm trong bá quyền của một cường quốc gian ác và một bên là đàn em vừa sợ vừa không dám làm phật lòng đại ca, vừa có nhiều quyền lợi riêng tư. Xâm chiếm kinh tế tự nó là sự áp đảo, sự cưỡng đoạt. Một sự cưỡng chiếm từ từ, không có võ lực, và khó khiếu kiện. Người bị mất mát là dân chúng Việt Nam. Sức khỏe kinh tế bị suy mòn. Từ đó có thể đưa tới nhiều loại tai họa khác. Khi đã kẹt vào vòng vây kinh tế thì khó thoát ra.
Qua diễn trình xâm chiếm kinh tế của TQ, chúng ta thấy rõ thêm là chuẩn mực bang giao “bốn tốt” mà TQ và VN đặt ra (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt) khi thực thi thì phương châm đó trở thành “bốn xấu”.
Cali, tháng 4 năm 2012














































































































































