Bùi Bích Hà
Mấy hôm nay, dư luận báo chí sôi nổi tán thưởng bài viết của Barack Obama, tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ như danh xưng trong bài viết này, được đăng tải trên tạp chí Glamour.
Bài viết đầy thiện chí và cảm xúc của một người đàn ông hiện cầm chịch cường quốc Hoa Kỳ gần 8 năm qua, chồng của một phụ nữ xuất sắc không kém ông và cha của hai cô thiếu nữ được nuôi dạy bởi hai cha mẹ Mỹ ngoài tiêu chuẩn bình thường. Ai đọc bài viết cũng thấy rõ tâm cảnh tác giả được khởi động bởi lòng quý trọng người bạn đời và tình yêu vô bờ bến đối với các con gái ông muốn thấy chúng lớn lên, sống hạnh phúc trong một xã hội không định kiến hoặc về phái tính, hoặc về màu da, hay cả hai.
Tôi đọc đâu đó câu viết: “Con người sinh ra bình đẳng trước Thượng Ðế,” ngụ ý mọi đứa trẻ dưới mọi gầm trời ra đời với quyền sống như nhau. Nếu không thế, chúng đã bị hoặc thể chế chính trị nơi chúng sinh ra, hoặc các thế hệ đi trước lạm dụng quyền hạn của họ đi kèm với bạo lực để áp đặt cái gọi là văn hóa truyền thống do họ làm ra, dựng lên, lấy đi quyền làm người của trẻ con ngay từ lúc chúng chưa có khả năng tự vệ. Vì vậy, trong các xã hội nhiều bất công, những kẻ bị áp bức phải đấu tranh để đòi lại quyền làm người bị tước đoạt của họ chứ không chờ đợi hay van xin để được cho chính cái họ sở hữu và bị mất. Sau trẻ con, phụ nữ là đối tượng thứ hai bị chà đạp.
Trên thế giới hiện nay, các hủ tục nhằm phục vụ nhu cầu của nam giới đang dần dần bị đào thải, như tục tảo hôn, mua vợ cho con trai để có thêm lực lượng lao động, cô dâu thất tiết bị đàn hặc trong ngày nhị hỉ, bị trả về nhà cha mẹ để đòi lại sính lễ đám cưới, vợ thất tiết bị gọt gáy bôi vôi và thả trôi sông trong khi đàn ông năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ một chồng… Từ quan niệm trọng nam khinh nữ, nhiều bà vợ không sanh được con trai bị buộc tội trọng (bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại) phải bằng lòng cho chồng lấy thêm vợ cho tới khi chồng có được đứa con trai nối dõi. Cũng vì quan niệm coi rẻ phụ nữ này, nhiều bé gái Trung Quốc không được cơ hội thấy ánh mặt trời, nhiều bé gái Việt Nam may mắn hơn thì suốt đời tủi hổ với thân phận “kẻ dư thừa” trong gia đình. Bị hạn chế cả giáo dục (học lắm chỉ tổ viết thư cho trai) là phương cách giúp chúng mở mang trí tuệ, thăng tiến bản thân, vô hình trung, chúng bị hàng trăm thứ định kiến đẩy vào hoàn cảnh làm dây tầm gửi, tự thân chẳng có giá trị gì (đàn bà đái không qua ngọn cỏ).
Sự bất công phi nhân, tàn ác nhất thấy trong hủ tục cha mẹ chủ trương cắt bỏ âm vật các bé gái tuổi từ lên 4 đến lên 10 ở các nước Phi Châu từ 4,000 năm qua. Việc làm man rợ này, cho tới nay, được giao cho các mụ phù thủy hay các lang băm hành nghề dạo, thực hiện với các dụng cụ han rỉ, dơ bẩn, không có cả thuốc tê khiến những đứa bé bất hạnh chết đi sống lại trước mắt cha mẹ. Tin tức cho biết hiện nay vẫn còn 28 quốc gia trong khu vực địa lý này áp dụng hủ tục gần với hành vi sát nhân nói trên vì nhiều bé không chịu nổi đau đớn và mất máu mà chết, không chết cũng thường bị nhiễm trùng với nhiều biến chứng khác khiến cuộc sống các em trở thành địa ngục. Nhân loại đã bước vào thế kỷ 21 nhưng thống kê Liên Hiệp Quốc cho thấy hiện mỗi năm vẫn còn hơn 2 triệu bé gái, đổ đồng mỗi ngày 6,000 em, chờ ở ngưỡng cửa lò sát sinh để bị đối xử như súc vật.
Ðứng trước thảm nạn ghê tởm này, câu hỏi đặt ra là thế giới văn minh có thể làm gì để chấm dứt nó thay vì đứng nhìn và ghi vào tài liệu thông tin như những việc thường tình khác xảy ra hàng ngày? Ðã có một nạn nhân từ Somalia, cô Waris Dixie, can đảm liều chết vượt hàng ngàn dặm đường sa mạc để được là cứu tinh của các bé gái nhiều thế hệ sau. Bản thân phấn đấu không ngưng nghỉ với ý chí ngoi lên từ số phận nghiệt ngã, Waris trở thành người mẫu sáng giá của thế giới văn minh trong thập niên 90 thế kỷ trước nhưng vết thương gây đau đớn lâu dài trên thân thể cô đã thúc đẩy cô lên tiếng về quãng đời hẩm hiu của mình, ước mong đánh động sự quan tâm của thế giới đến phần địa cầu tăm tối từng là nơi những trẻ sơ sinh như cô không chọn để vào đời. Cuối năm 1997, cô được Tổng Thư Ký LHQ Kofi Annan phong tặng hàm Ðại Sứ đặc biệt của tổ chức này. Năm 2009, cuốn tự truyện Desert Flower (Cánh Hoa Sa Mạc) của cô xuất bản năm 1998 được dựng thành phim và từ những bước chân khai phá này, cô từ giã thế giới siêu sao, dấn thân vào cuộc hành trình đi về Châu Phi vận động bãi bỏ hủ tục cắt âm vật các bé gái, bất chấp bị chống đối, bị sỉ nhục, bị nguyền rủa về việc làm coi như một hình thức phản bội của cô. Qua nhiều thập niên kiên trì đi theo tiếng gọi của lương tâm, kể cả nhà cửa bị đập phá, người bị bắt cóc, những kết quả mà cô đạt được là có vài quốc gia như Tanzania, Zambia, Congo và Kenya đã ban hành luật cấm cắt bỏ âm vật phụ nữ. Waris thề rằng hủ tục còn thì cô còn tranh đấu. Chao ôi, một con én sao làm nổi một mùa Xuân?
Trở lại bài viết của đương kim Tổng Thống Obama đề cao nữ quyền, ông đã kết luận như sau: “Tôi muốn tất cả con cháu chúng ta hiểu rằng thế hệ trẻ hôm nay có trách nhiệm trong việc tiếp nối và bảo đảm rồi đây, mỗi bé gái sinh ra đều có trọn quyền định đoạt cuộc sống của mình theo cách mà cô ấy mong muốn.” Có vẻ như tổng thống tin rằng quyền tự do sống cuộc đời theo cách riêng của mỗi cô gái là một tặng phẩm tốt đẹp do xã hội (những người khác) ban tặng trong khi ở một đoạn trên, ông nhận định rất chính xác: “Chúng ta cần hiểu rằng có những thay đổi không thể thực hiện được nhờ luật pháp.” Không có bàn tay thần tiên nào hóa phép biến Waris Dixie từ một bé gái chăn cừu nghèo khó, chẳng biết nữ quyền là gì, bị hiếp đáp từ tuổi lên 4, lên 5 và ở tuổi 15, bị cha bán cho một ông lão 61 tuổi để đổi lấy 10 con lạc đà, trở thành một người mẫu đắt giá trong xã hội thượng lưu phương Tây mà chính con tim quả cảm, đầu óc kiên cường, đôi bàn chân chấp nhận đi trên cát đá nóng bỏng đến rách nát da thịt của cô cộng với quyết tâm tự rèn luyện mình cho một cảnh đời mới đã đưa cô tới tuyệt đỉnh vinh quang, có nằm mơ cũng không thể nào thấy được.
Tôi vẫn cực tin rằng con người sinh ra có đủ mọi quyền hạn như nhau, như một thứ quặng mỏ tiềm tàng trong đất cần công trình khai quật. Nhiều hay ít, sâu hay nông là tùy nỗ lực từng cá nhân. Chính những thành tựu đến từ công sức của mỗi người là của cải chôn giấu bên trong người đó, thuộc về họ và là giá trị đích thực của họ, không do vay mượn, không do trúng số, dễ dàng tới rồi đi một khi họ không ở ngang tầm những giá trị ấy. Nhiều thế kỷ trước, trong một kiểu mẫu xã hội phong kiến, hủ nho, tuyệt đối đề cao vai trò gia trưởng của người đàn ông với đủ mọi tập tục (tam tòng tứ đức) với đủ thứ khẩu hiệu (nữ nhi nan hóa) trói buộc người đàn bà vào thân phận thấp hèn nhưng các bà vợ, bà mẹ thuở ấy vẫn để lại dấu ấn đáng nể của họ trong phép xử thế phản chiếu qua ca dao tục ngữ, “Lệnh ông không bằng cồng bà,” “Gái có công, chồng chẳng phụ,” “Dù chàng năm thiếp bảy thê, cũng không ra khỏi gái sề này đâu!”
Cho nên, phong trào nữ quyền chỉ có tác dụng gợi ý để nữ giới nhìn thấu bản thân mình hầu có phương hướng phát triển. Hoạt động nữ quyền xuất phát từ đám đông nhằm bênh vực đám đông, tựa như luật phụ nữ được đầu phiếu, được đi học, được lãnh lương đồng đều như người nam khi cả hai cùng làm một công việc nhưng trên thực tế, không phải người đàn bà nào cũng hãnh diện đi bầu hay tốt nghiệp đại học hay được trả lương bằng nam đồng nghiệp mà chỉ các phụ nữ xuất sắc vượt lên ngang hàng, thậm chí vượt trội so với nam giới mới có cơ hội thụ hưởng các quyền lợi tưởng chừng như do hoạt động nữ quyền mà có. Sự bình đẳng nam nữ, nếu đạt được, là do phẩm chất riêng của người trong cuộc, không do chính sách. Nước Mỹ văn minh là thế. Người phụ nữ Mỹ được cởi trói rất sớm sủa về mọi phương diện nhưng mãi tới bây giờ, cuối năm 2016, sau 240 năm lập quốc, nay mới có người phụ nữ đầu tiên hy vọng vượt được “cái trần nhà bằng kiếng” để trở thành nữ tổng thống đầu tiên của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Bà đã phải lặn lội, xông pha đèo cao dốc thẳm, lên thác xuống ghềnh, chống trả biết bao trận mưa lằn tên mũi đạn để tới được vị thế bà đang đứng. Chẳng có cái cần cẩu nào nhân danh nữ quyền thả bà vào chiếc ghế tổng thống cả!
Ấy là chưa kể hai chữ “nữ quyền” gợi ý một cuộc tranh thắng phái tính như thường thấy trong bất kỳ cuộc tranh chấp nam nữ nào, người nữ dễ vui lòng khi bóng được đưa vào tay mình, biết đâu nữ quyền chỉ là sự hiển lộ những đức tính tiềm tàng bên trong họ đi kèm với khả năng và trách nhiệm, những chất liệu giữ cho sự hiển lộ ấy tỏa sáng lâu dài, bền bỉ.
Sau cùng, tôi xin được đồng ý với phát biểu then chốt của Tổng Thống Obama trong bài viết về nữ quyền của ông: “Thay đổi quan trọng nhất và khó nhất là thay đổi chính mình.” Quan trọng nhất vì nó định hình cuộc sống của mỗi người chúng ta. Khó nhất vì nó phải bắt đầu một cách chân thật với ý niệm bản thân ta bất toàn. Thay đổi để mỗi ngày một hoàn thiện và tốt hơn hôm qua.

















































































