Cung Trầm Tưởng


LTS.
Ngày 28 tháng 10, trong hơi mưa của cơn giông sắp kéo tới, trên 300 người Việt yêu thơ Cung Trầm Tưởng đã họp mặt tại Virginia để nghe chính thi sĩ nói về “Một Hành Trình Thơ” của ông. Những bài thơ trữ tình trải suốt hơn sáu mươi năm cuộc đời của thi sĩ, dìu dặt điệu nhạc Phạm Duy, ngân dài qua hơi thở của các nữ ca sĩ yêu kiều vùng thủ đô, như Tuyết Lan, Bạch Cúc, Thái Ninh, Bạch Mai. Những bài thơ ấp ủ tâm trạng người trai thao thức trong hoàn cảnh xa quê, xa người tình, âm vang qua các giọng nam nồng ấm của Sĩ Tuấn, Nguyễn Xuân Thưởng, Nguyễn Cao Thăng, Hoàng Cung Fa.


Nhưng trong gần 300 khách yêu thơ kia, có đến 2/3 là chiến hữu, là bạn Không Quân, là đàn em trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Và đằng sau trái tim nồng ấm, dáng dấp hào hoa, phong cách đa tình của thi sĩ Cung Trầm Tưởng, là một người chiến sĩ kiên cường “Thép đã tôi rồi, đố bẻ cong“mà ít ai biết được, ngoài một số chiến hữu của ông.


Người Việt Ðông Bắc hân hạnh mời quý đồng hương đến với “Dòng Sử Thi Trong Ðời Tù Cộng Sản” của Cung Trầm Tưởng, qua cảm xúc của Trần Văn Thế, một sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.


 


Cung Trầm Tưởng


và dòng sử thi trong đời tù cộng sản


 


Trần Văn Thế


 


Cung Trầm Tưởng là một khuôn mặt, một danh vị nổi tiếng trong thế giới thơ của Việt Nam, nhất là trong thập niên 60 với những dòng thơ lãng mạn. Nhắc đến Cung Trầm Tưởng thời đó, mọi người đều biết nhà thơ với những “Mùa Thu Paris, hoặc Chưa Bao Giờ Buồn Thế và Lên Xe Tiễn Em Ði, Ga Lyon đèn vàng,…”










Nhà thơ Cung Trầm Tưởng trong buổi ra mắt “Một Hành Trình Thơ” tại Virginia, ngày 28 tháng 10, 2012.


Hôm nay, chúng tôi những người lính VNCH, những người tù Cộng Sản, muốn nói đến những dòng thơ TÙ, những dòng sử-thi viết trong tù của một người lính, một người tù. Người lính và người tù đó chính là thi-sĩ Cung Trầm Tưởng. Người đã hy sinh ở lại trong quốc nạn 1975, để được chứng kiến những đau thương, những oan khiên của dân tộc VN dưới một chế độ đối xử con người như những trò chơi, một trò chơi ngu xuẩn và vô nhân đạo. Và chính Cung Trầm Tưởng đã là một trong những trò chơi đó: 10 năm tù không bản án, qua 8 trại tù Cộng Sản, và không biết bao nhiêu lần còng tay biệt giam. Ông đã ví ông như những con thú bị vây hãm bởi lũ thợ săn hung bạo nhất:


“Ta như con thú bị vây,


Khổ sai trong cũi chúng bầy chúng chơi”


Ở lại với quốc nạn. Ðó là sự lựa chọn của ông và ông giải thích như sau: “Lựa chọn ở lại với lịch sử, áp sát vào lòng thời đại để nghe bằng mắt, nhìn bằng tai và nói bằng trái tim đập, nhịp đập của cộng đồng.” Và dòng lịch sử của dân tộc đã đưa ông đến những trại tù Cộng Sản để nghe chính trái tim mình muốn nổ tung ra vì căm thù.


Một câu hỏi thường được đạt ra là: Tại sao Cộng Sản lại sợ văn sĩ, thi sĩ? Tại sao Cộng Sản lại muốn triệt tiêu tư tưởng văn nghệ sĩ? Vì, đúng như nhà thơ Viên Linh đã viết: “Trong bất cứ một cuộc vận động nào, một thay đổi nào, thơ đi trước và thi sĩ là kẻ tiền hô… thi sĩ luôn đi hàng đầu…” Bởi lý do đó, mới có vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, mới có những Phan Khôi, Trần Dần, Nguyễn Hữu Ðang, v.v. đã bị Cộng Sản triệt tiêu cả tư tưởng lẫn thể xác, trong chính chế độ của họ.


Trong 10 năm tù, Cộng Sản nghĩ rằng cũng sẽ làm được như thế với các văn nghệ sĩ Miền Nam, đặc biệt với Cung Trầm Tưởng, Nhưng họ đã không làm được điều đó với Cung Trầm Tưởng, mặc dù họ đã sáng tạo ra những phương pháp tân kỳ nhất để bầm giập cả thể xác lẫn tinh thần con người, để con người tự hủy diệt tư tưởng của chính mình.


Trước những đe dọa, trước sự cheat, ông đã kiên trì, can đảm để sống và làm một cái gì cho lịch sử trong giai đoạn bi thương nhất của dân tộc. Và vì thế, chúng ta đã có được hai tập thơ tù: Lời Viết Hai Tay và Bài Ca Níu Quan Tài. Cộng Sản tìm mọi cách để cấm ông viết, nhưng ông đã quyết tâm:


“Giấy bút tôi ai cướp giật đi,


Tôi sẽ dùng dao khắc thơ lên đá.”


Là thi sĩ, nàng thơ là mạch sống, là tim là máu của ông đã hối thúc ông phải viết. Thêm vào đó, ý chí bất khuất của ông đã thôi thúc ông phải làm thơ. Những con chữ của ông, những con chữ có sinh thể, phải được sống và phải được nhẩy múa trong đầu ông, và con chữ của ông đã nhiều lần rớm máu. Do đó, ông đã viết bằng đầu, bằng tim, vì hai tay đã bị còng thường xuyên. Nhưng viết gì? Làm sao viết? Và ông đã mang nặng rất nhiều nỗi băn khoăn, tự vấn với một tâm trạng chao động, phẫn nộ, căm giận, khắc khoải, thao thức:


“Tim nào xót xáy tìm ra chữ,


Ngang tầm thảm họa thế kỷ hung.”


Và cũng vì:


“Ðịa ngục trần gian đất nước này


Một phường nga quỷ máu đầy tay


Bàn thờ Phật nó ngồi chồm hổm


Phóng uế ngay trên định nghĩa người.”


Trong lời mở đầu tập Tù Sử-Thi Lời Viết Hai Tay, Cung Trầm Tưởng viết:


“…Bởi cuộc hành trình dài hơn lịch sử. Lịch sử chỉ là một trạm quá cảnh đóng con dấu máu đỏ của tang thương lên quyển hộ chiếu của thi-lữ khách. Cơ bản thơ vượt lịch sử… Và Lời Viết Hai Tay hình thành từ và muốn thể hiện quan điểm này qua thơ.” Có lẽ Cung Trầm Tưởng và Ernest Hemingway đã cùng có cái nhìn giống nhau về sự kiên cường và can đảm của con người. Hemmingway viết: “Con người có thể bị giết chết, nhưng không thể bị đánh bại.”


Cung Trầm Tưởng đã không bị đánh bại, đã phấn đấu để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của một người tù, một người thơ, luôn luôn đi tiên phong. Muốn vậy, Ông phải tự lập cho mình một vòng đai tự bảo vệ cho mình để làm thơ:


“ Ta cất cho ta một pháo đài


Giăng vòng gai kẽm, lập vành đai


Sáng nghe, chiều ngóng, đêm phòng ngự


Dõi tiếng chân ai rảo lén ngoài”


 


Và cứ thế, nghe Nàng Thơ lại réo rắt gọi:


“Ngữ điệu ngân nga, vần réo rắt


Nàng Thơ gióng trống giục ran lòng


Ðau thương mồi bén lên tư tưởng


Thép đã tôi rồi, đố bẻ cong”


Khi thép đã tôi rồi, thì ông chẳng còn gì để lo sợ và vì thế chúng ta có được những dòng sử-thi hôm nay.










Trần Văn Thế, nói về “Cung Trầm Tưởng và dòng sử thi trong đời tù cộng sản.”


Rồi khi viết “Bài Ca Níu Quan Tài”, Cung Trầm Tưởng lại viết: “Cách trừng phạt của Cộng Sản là một thứ bạo lực nguội vì không có khói, không có lửa. Một thứ lăng trì tân thời, có kế hoạch và làm chảy máu trắng, hữu hiệu hơn một phát súng tại pháp trường…” Trước bao nhiêu nhà tan cửa nát, bao nhiêu nước mắt, ông đã dùng cái tâm của mình để viết sử-thi mà ông gọi là Tâm Sử Thi, chúng tôi gọi là Tù Sử-Thi. Ðây là tập thơ viết để khóc cho dân tộc Việt Nam trầm luân, oan khiên, khóc cho gia đình ly tán, những người mẹ già, những người vợ, những đứa con thơ, những người tù, những người nữ tù khốn cùng mà Cung Trầm Tưởng gọi là “Những Nữ Thần Huyền Sử.” Trước cảnh tang thương ly tán tình nghĩa phu thê, Cung Trâm Tưởng viết về những người vợ tù như sau:


“Có chồng mà tưởng như chồng chết,


Hương nhang đã cháy ở trong lòng.


Em là dòng dõi nàng Tô Thị


Nghìn năm hóa đá vẫn chờ mong.”


Chứng kiến những cảnh tượng như vậy, Cung Trầm Tưởng đã không ngăn được những dòng nước mắt, vì đã được nghe và thấy:


Tiếng khóc của nàng thiếu phụ có chồng chết trong tù,


Tiếng khóc của những bà cụ đòi xác con.


Tiếng khóc của bần cố nông đòi lại ruộng vườn.


Tiếng khóc của trí thức đòi lại quyền tự do tư tưởng.


Tiếng khóc của những trẻ thơ mất cha, mất mẹ, bị mang danh hiệu ngụy quyền.


Tiếng khóc của những người vợ, những nàng Tô Thị thời đại:


“Trĩu gánh đời em theo bước chị,


Bầy con chia gửi mấy cô dì


Em thành thiếu phụ của sầu ly”


Hơn 600 trang sách trong thi phẩm “Cung Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ” gồm 7 tập thơ gom lại, trong quá trình 60 năm làm thơ. Từ những ngày son trẻ với thơ tình lãng mạn, rồi đến thơ làm trong thời kỳ oan khiên của dân tộc, và thơ làm ở hải ngoại. Người đọc cũng như chúng tôi đã chú ý nhiều đến hai tập “Lời Viết Hai Tay và Bài Ca Níu Quan Tài.” Ðó là hai tập Tù Sử-Thi.


Martin Heidegger có nói rằng: “Tác phẩm phải là một biểu tượng.” Biểu tượng của thơ Cung Trầm Tưởng là biểu tưởng lịch sử của Việt Nam trong giai đoạn đau thương nhất, nỗi oan khiên không bao giờ xóa nhòa trong tâm khảm của những người Việt Nam.


Chúng tôi những người lính VNCH, những người tù Cộng Sản rất hãnh diện về chiến sĩ văn hóa Cung Trầm Tưởng, đã hy sinh gần suốt cuộc đời mình để viết lên những dòng sử-thi, đã để lại cho chúng ta, chúng tôi, và thế hệ hậu sinh những chứng tích hùng hồn nhất về lịch sử Việt Nam trong giai đoan khổ cùng nhất, một bản cáo trạng mạnh mẽ nhất, trung thực nhất về chế độ Cộng Sản Việt Nam.










Hoàng Song Liêm và Cung Trầm Tưởng.


Chúng tôi nguyện sẽ cùng Cung Trầm Tưởng:


“Hãy mài cho sắc lưỡi dao tông,


Hãy nung cho tốt quắm tôi hồng


Thù này góp gió, mai làm bão


Về xáp tăng thù hất chổng mông.”


Xin chúc thi sĩ Cung Trầm Tưởng sống vui để tiếp tục sáng tác thơ, tiếp tục đi tìm một trường phái thơ cho riêng mình, để những đêm trăng Thi Bá không còn phải ngồi nói chuyện với con Tắc-Kè mà buồn cho thế sự:


“Chứng câm này mắc do nhân định,


Người chẳng buồn nghe chuyện của người…

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT