Ngộ nghĩnh ngôn ngữ


Người Việt Ðông Bắc xin giới thiệu bài viết của Lê Anh Thư. Tác giả có quá trình học vấn ở Trung Quốc và sau này sang định cư ở Pháp. Bài viết nói về về nguồn gốc một số từ ngữ Việt Nam thông thường. Bài viết thể hiện sở học và cách hành văn của tác giả.


 


Tiếng Việt có đến 70% là vay mượn chữ Hán, cái này là do lịch sử để lại. Từ thời nhà Ðường chữ Hán dần dần thâm nhập nước ta. Nhưng có một điều rất thú vị là Việt Nam giữ nguyên vẹn ngữ nghĩa cách đọc (từ thời Ðường) của các từ Hán. Trong khi ở Trung Quốc, qua bao vật đổi sao dời, những từ cổ đã biến thiên đi nhiều lắm. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Trung Quốc khi muốn tìm hiểu về ngôn ngữ, cách phát âm thời Ðường, đã phải lần mò tiếng Việt hiện đại để tìm cứ liệu.


Có một số ví dụ hay hay mà rất gần gũi:


Từ “Yếm”, ừ thì cái yếm mỏng manh bảng lảng các chị các cô xưa hay mặc, làm xốn lòng mấy anh. Mấy ai biết nó bắt nguồn từ ý nghĩa bao bọc, che chở (nay ta vẫn còn thấy vết tích của nó trong các từ yếm thế, yểm trợ). Trải qua hàng nghìn năm, người Việt Nam vẫn gọi Yếm là cái Yếm (chứ gọi là gì nữa). Còn bên Trung Quốc, nay họ dùng từ mới là cái Ðỗ Ðâu, không ai còn nhớ cái tên gọi cũ rích Yếm nữa. Nguồn gốc cái Yếm thì… vui lắm. Sử sách bảo thời Ðường, Trung Quốc thịnh trị, văn hóa cởi mở và khá phồn thực, hơi giống kiểu phương Tây phục hưng đó. Phụ nữ thường mặc những cái áo cổ rất rộng, ngực được đẩy lên cao… khoe cái đẹp phong mãn.


Dương Quý Phi với đôi má hây hây, thân hình phốp pháp, bầu ngực sương sa tuyết đọng… được Ðường Minh Hoàng sủng ái nhất mực. Nàng lại tư thông với An Lộc Sơn, một tướng gốc người Trung Á, con nuôi của Ðường Minh Hoàng. Ngày ngày An Lộc Sơn được tự do đi lại trong cung, mượn cớ thỉnh an “mẹ nuôi”, nhưng thực chất cùng Dương Quý Phi thỏa tình mây nước. Dương Quý Phi cũng khéo bỡn cợt mẹ mẹ con con, lúc thả Sơn ta vào bồn nước rồi đích tay tắm táp… như một đứa trẻ. Có khi lại bầy trò… cho bú. Một lần mải vui đùa bỡn quá đà, An Lộc Sơn làm xước da ngực Dương Quý Phi, chảy cả máu. Quý phi hoảng sợ kiếm một vuông vải lụa đỏ thêu hoa lá, đem buộc che trước ngực, rồi mới khoác áo vào. Ðường Minh Hoàng thấy lạ hỏi cái gì thế. Nàng bèn lắp bắp để che gió lạnh (Yếm! Yếm). Vua chả những không nghi ngờ mà còn khen đẹp. Từ đó các hoàng phi công chúa cũng bắt chước lấy vải đỏ thêu thùa, đính thêm hai dây buộc làm thành cái yếm đào. Tục này lưu truyền đến tận hôm nay.


Từ Quần: bên ta cái quần là cái quần. Nhưng trong tiếng Tàu, cái quần tức là… cái váy. Ngày xưa đi học, có thầy giáo giải thích “quần hồng” là từ để chỉ giới nữ, vì trước đây họ hay mặc quần màu… hồng??!!! Bố khỉ ạ, hồng quần… tức là cái váy màu đỏ chứ. Nữ giới Trung Quốc ngày xưa toàn mặc váy dài màu đỏ, không tin giở lại Hồng Lâu Mộng coi.


Ờ thôi chấp nhận Quần trong tiếng ta lại thành cái váy tiếng Tàu. Thế… chả lẽ người Tàu không mặc quần? Tất nhiên có mặc chớ, mặc ác. Xin thưa, cái quần nhá, trong tiếng Tàu được đọc là cái Khố nhá (như đóng khố ấy).


Từ Lãnh Tụ: phe “Kách Mệnh” của Tàu lẫn Việt Nam đều thích từ này. Ta cứ tưởng nó là từ mới, nhưng thực chất là từ rất cổ lai hy tám hoánh đó. Xa xưa nó chỉ những tướng quân có công lao. Tách bạch ra thì thế này, lãnh tức là cái cổ áo, tụ là cái tay áo. Lãnh tụ nôm na thành… tay và cổ áo. Chắc thời xưa dân chúng đều áo vải sơ sài. Chỉ có quan văn quan võ mới được cân đai áo thụng, cổ áo tay áo đàng hoàng đâu ra đó. Lâu dần, lãnh tụ thành từ chỉ người đứng đầu, có công trạng hiển hách.


Từ Háng: từ này trong tiếng Ta có nghĩa rất tế nhị, chỉ khoảng nằm giữa hai chân. Ai ngờ được Háng… lại bắt nguồn từ chữ Hạng (hang), vd: hang động, hang ổ. Trong tiếng Tàu cổ, Hạng để chỉ những lối đi âm u sâu thẳm, nhiều… bí hiểm. Các cụ nhà ta bèn dùng nó để chỉ… một số nơi trên cơ thể nữ giới. Sau dần dần… dùng cho cả nam giới. Mặc dù nam giới không hề có… lối nào thâm sâu. Ở bên Tàu, từ Háng, và Hang đều đã tuyệt chủng, chúng chỉ còn tồn tại bên Ta.


Lê Anh Thư

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT