Tại sao sinh viên ngoại quốc nên ghi danh vào đại học cộng đồng?


Lê Tâm


 


HOA KỲ – Các đại học cộng đồng (Community College) với chương trình học hai năm ở Mỹ cho các sinh viên quốc tế một cơ hội vào hệ thống đại học Mỹ với học phí thấp, và cũng cho người sinh viên thời gian để hội nhập vào đời sống đại học ở Mỹ. Các sinh viên này sau đó sẽ thuyên chuyển vào các đại học bốn năm để hoàn tất chương trình cử nhân của mình.


Theo bản tin của US News and World, một thí dụ điển hình về lợi ích này có thể thấy được ở trường đại học cộng đồng Diablo Valley College ở vùng Bắc tiểu bang California, nơi tiền học và các lệ phí khác cho 24 tín chỉ sẽ vào khoảng $6,000 cho các sinh viên quốc tế, trong khi cũng với số tín chỉ đó, họ sẽ phải chi ra hơn $16,500 nếu ghi danh học đại học San Jose State University (CSU San Jose) ở cạnh đó.


Với số tiền tiết kiệm được trong hai năm học này, người sinh viên có thể dùng để trả tiền ăn uống, sách vở và các chi phí khác cho năm thứ ba đại học.


Và với số tiền dành dụm đó, người sinh viên tốt nghiệp đại học cộng đồng có rất nhiều nơi lựa chọn để tiếp tục con đường học vấn của mình.


Vẫn theo bản tin, các sinh viên tốt nghiệp đại học cộng đồng Green River Community College ở tiểu bang Washington có cơ hội lựa chọn hơn 100 trường đại học bốn năm ở khắp nước Mỹ khi họ đến tham dự ngày hội các đại học tuyển mộ sinh viên nơi này, từ John Hopkins University cho đến Ohio State University hay Arizona State University, theo lời Ross Jennings, phó giám đốc đặc trách sinh viên quốc tế của trường Green River.


Bản tin viết, có tới 94 trường đại học bốn năm bảo đảm sẽ nhận sinh viên tốt nghiệp từ Green River Community College, miễn là họ đáp ứng các điều kiện về điểm trung bình, từ 2.0 đến 3.5 và hoàn tất được một số tín chỉ nhất định, theo ông Jennings. Tương tự, trường Diablo Valley College cũng có các thỏa thuận bảo đảm nhận sinh viên của phần lớn các đại học trong hệ thống University of California (UC), theo bà Gloria Zarabozo, giám đốc chương trình sinh viên quốc tế của trường.


Các trường trong hệ thống UC không ký thỏa thuận này với Diablo Valley College là UC Berkeley, UCLA, và UC San Diego. Tuy nhiên, bà Zarabozo cho hay là các trường này cũng nhận nhiều sinh viên từ Diablo Valley.


Thí dụ, trong niên khóa 2009-2010, có hơn 10% sinh viên đại học hai năm được thâu nhận vào UC Berkeley xuất thân từ Diablo Valley College. Các sinh viên theo học nơi đây cũng có thể vừa lấy lớp ở Diablo vừa lấy thêm một lớp ở UC Berkeley.


Theo ông Jennings, lý do khiến các trường đại học hàng đầu ở Mỹ đến tuyển mộ sinh viên ngoại quốc từ các trường đại học cộng đồng là vì họ đã chứng tỏ khả năng học vấn cũng như khả năng sinh ngữ qua các lớp bậc đại học, và nhất là có sự hiểu biết về cách hoạt động của hệ thống đại học Mỹ.


Chứng tỏ khả năng học vấn ở bậc đại học cũng giúp các sinh viên có điểm trung bình bậc trung học hay điểm thi vào đại học không cao đủ để vào các trường họ ước mơ, có thêm một cơ hội nữa. Ông Jennings ước tính rằng có tới 90% các sinh viên quốc tế ông tuyển mộ đang theo học ở Green River Community College rồi sẽ chuyển sang các trường danh tiếng hơn.


Các đại học cộng đồng cũng thường có các lớp Anh Văn căn bản để chuẩn bị cho các sinh viên có khả năng lấy các lớp Anh Văn trình độ đại học, theo bà Zarabozo. Dịch vụ dạy kèm ở các trường này cũng giúp người sinh viên rèn luyện khả năng sinh ngữ của mình, bà cho hay.


Darina Pogodina, một sinh viên người Nga ở đại học Bunker Hill Community College ở Boston, là một thí dụ điển hình. Dù đã có bằng cử nhân ở Nga, cô đến học ở Bunker Hill để trau giồi khả năng Anh Văn của mình, bên cạnh đó là có thêm bằng cao đẳng ở Mỹ và hoàn tất các lớp căn bản mà chương trình cao học của cô đòi hỏi phải có. Cô Pogodina nói rằng các giáo sư của cô ở Bunker Hill “nói chậm hơn và giúp cô cảm thấy thoải mái với cách học ở Mỹ.”


Vì các trường đại học cộng đồng ở Mỹ thường có các chương trình khác nhau liên quan đến sinh viên quốc tế, các sinh viên này nên liên lạc trước với các nhân viên phụ trách chương trình sinh viên quốc tế hay phòng thu nhận sinh viên, qua điện thoại hay email, để biết thêm chi tiết.

SAP-VN, 20 năm tình yêu và hy vọng

 


Trangđài Glassey-Trầnguyễn


 


mệnh đề YÊU


 


20 tuổi. Cái tuổi thật kêu của đời người, tràn đầy, và sung mãn.


Ở tuổi này, có người bắt đầu yêu, có người đã yêu được ít năm. SAP-VN thì không. Yêu từ khi mới 0 tuổi, nghĩa là khi mới ra đời, là đã yêu! Có thể nói, SAP-VN “ngầu” hơn cả Thánh Gióng, vì đến 3 tuổi, Thánh Gióng mới biết nói. Và SAP-VN còn “ngầu” ở chỗ không chỉ lội sông qua đèo như kiểu yêu trong ca dao:


Yêu nhau mấy núi cũng trèo


Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua


SAP-VN còn vượt cả Thái Bình Dương, từ Hoa Kỳ về Việt Nam, để yêu. Về đến Việt Nam, thì lại tiếp tục lên vùng cao, vào vùng xa để gặp những người mình yêu. Ôi, sao mà đa tình thế!










SAP-VN trong một lần họp mặt. (Hình: Tác giả cung cấp)


Không biết SAP-VN đã yêu bao nhiêu người rồi? Hàng ngàn, hàng vạn. Mà con số ấy – tuy rất lớn và cũng rất “ngầu,” nhưng không nói lên hết được cái nồng nàn của SAP-VN trong việc phục vụ những người kém may mắn. Tình yêu này vượt trên tất cả mọi thứ tình yêu. Vì SAP-VN chọn yêu những đôi môi không lành lặn, những đôi chân khuyết tật, những đôi mắt bị cườm, những bàn tay dị dạng, những hàm răng sụp lở. Một tình yêu đứng ngoài lý trí thường tình. Một mệnh đề YÊU của trái tim nhân bản, không đòi hỏi được đáp trả. Một tình yêu thật bất thường, được trao đi một cách thật bình thường trong 20 năm qua.


 


mệnh đề HY VỌNG


 


Nếu nhìn vào các loạt hình Mobile Care hằng năm, hay các sinh hoạt khác của SAP-VN, chắc nhiều người cũng thắc mắc như tôi: Sao các thành viên và thiện nguyện viên của SAP-VN… tươi tắn thế? Họ lúc nào cũng cười tươi, lúc nào cũng hăng hái, lúc nào cũng nhiệt thành. Giữa những cảnh khổ của cuộc đời, họ vẫn rạng ngời một niềm tin yêu, một cùng đích phục vụ.


Phải chăng, vì họ mang trong tim sứ mệnh Hy Vọng? Nên khi đối diện với cái khổ, họ càng được thêm sức, để thắp lên tương lai mới cho đồng bào trong cảnh khó khăn. Nên khi gặp cảnh đời bế tắc, họ cùng nhau rọi ánh tin yêu cho một hướng đi mới.


Hy Vọng. Một lý tưởng đẹp, nhưng không dễ thực hiện. Một mệnh đề nhiều thử thách. SAP-VN đã trải qua bao nhiêu thử thách để giữ mệnh đề này làm trung tâm điểm cho hội trong suốt 20 năm qua? Từng bước chân bất toàn nay thoăn thoắt qua những nhịp cầu tre lắt lẻo trên quê hương. Mỗi nụ cười được lành lặn, xun xoe với đời mà không còn mặc cảm. Những đôi chân bất toại nay đã đi đứng bình thường, đi bộ đến trường, cùng cha mẹ đi cày đi cấy. Những đôi mắt tìm lại được thị giác, bớt chông chênh hơn trên những con đường chiều gồng gánh bãi bươn. Những cuộc đời tìm thấy hy vọng lần đầu tiên và mãi mãi.


SAP-VN đã kiên trì trong từng nhịp chân tật nguyền của đồng bào, từng nỗi đau của người cùng khổ.


Ðể cùng bước đi với họ, cùng tìm ánh sáng với họ, cùng mỉm cười với họ.


Ðể cùng hy vọng với họ. Ðể là hy vọng của họ.


Ðể sau 20 năm, mệnh đề Hy Vọng của hội vẫn tinh tuyền và mạnh mẽ như ngày nào. Và để 20 năm sau, và 20 năm sau nữa, những đồng bào vẫn còn cần sự giúp đỡ của SAP-VN sẽ còn được nắm trong tay cái cơ may đổi đời, như biết bao đồng bào đã nắm lấy cơ may ấy trong hai thập niên qua.


 


“Cho Em Niềm Hy Vọng 10”


 


Chủ Nhật ngày 21 tháng 10, năm 2012, SAP-VN sẽ đánh dấu năm thứ 10 của dạ tiệc gây quỹ thường niên “Cho Em Niềm Hy Vọng,” với phần triển lãm đặc biệt của nữ họa sĩ Ann Phong.


Tôi nghĩ, có rất nhiều sự tương đồng giữa sứ mạng của Xanh của SAP-VN và nhà danh họa này.


Tôi có dịp phỏng vấn họa sĩ tại tư gia năm 2000 cho Dự án Việt Mỹ (Vietnamese American Project). Ðây là một dự án do tôi chủ xướng với cương vị giám đốc sáng lập tại Ðại Học CSU Fullerton từ thập niên 1990s. Tôi thực hiện Dự án VAP bằng phương pháp Lịch sử Truyền khẩu, nhằm ghi lại chứng từ của người Việt về kinh nghiệm sống của họ tại Việt Nam, trong hành trình di tản, và hoàn cảnh hội nhập tại Hoa Kỳ.


Trong buổi phỏng vấn nhiều giờ, Ann Phong đã kể cho tôi nghe “hành trình Hy Vọng” của chính cô. Họa phẩm của cô trong suốt mấy chục năm qua chính là dương bản của hành trình này. Trong những tác phẩm đầu tay, biển là nỗi ám ảnh, là niềm thao thức của Ann Phong. Biển đen đậm, đặc sệt hãi hùng và bi thương. Có những tác phẩm choán hết một bức tường, cao gấp mấy lần cô, cũng choáng ngợp cái màu đen của biển không trăng không sao, biển của thuyền nhân, biển của những thập niên 80 và 90, của tỵ nạn và của mất mát.


Nhưng trong những năm về sau, màu đen đã loãng đi, và những gam màu khác đã tìm đến với khung vẽ của Ann Phong. Cô vẽ những bức tranh tươi hơn, tuy người xem vẫn bắt gặp những sần sùi của quá khứ trong từng nét cọ. Có lẽ người thưởng lãm cũng gặp một Ann Phong thư giãn hơn, cười tươi hơn, tuy vẫn sâu sắc và thấm thía.


Gần đây, Ann Phong kết hợp điêu khắc và hội họa. Tôi gọi những tác phẩm này là tranh-điêu-khắc. Trong loạt tranh-điêu-khắc này, Ann Phong đã cất cánh. Cô bước ra khỏi cái không gian giữa bốn cạnh của khung vẽ, nhón ra ngoài canvas, bay lên cao. Cô đã giải phóng cho tác phẩm của mình, để chúng đi vào ba chiều, vươn tới những đỉnh cao mới. Cô phóng túng với chất liệu đa dạng, thoải mái bay lượn với ý tưởng của những vòng đời mới, nhặt nhạnh mảnh vỡ của hôm qua để làm nền cho một đóm hy vọng nhỏ nhoi. Cô không để màu sắc và ý tưởng nằm ì trên khung vẽ nữa. Cô cho chúng leo vào những bậc thang không khí xung quanh, và nếu thích, chúng có thể tự do “ra ràng,” bay bổng.


Chúng ta được chứng kiến một Ann Phong đã cất cao đôi cánh hy vọng trong đời thường và trong hội họa. Cô cũng mang hy vọng vào đời qua những dấn thân của một nhà hoạt động nghệ thuật trong cộng đồng và một giáo sư hội họa tại Ðại Học Cal State Pomona. Và năm nay, đúng 20 năm thành lập SAP-VN và 10 năm chương trình “Cho Em Niềm Hy Vọng,” họa sĩ Ann Phong tự nguyện cống hiến những họa phẩm của mình vào sứ mạng Xanh của hội.


Cho đến ngày hôm nay, trên 9,000 em đã được các ân nhân tài trợ phẫu thuật. Những giấc mơ xa vời của các trẻ em khuyết tật trong hoàn cảnh nghèo khó đã vượt vũ môn nhờ vào chương trình chỉnh hình của SAP-VN. Sự bảo trợ của các cơ sở thương mại, các mạnh thường quân, và các thân hữu đã làm nên bầu trời hy vọng của hơn 9,000 thanh thiếu niên này.









Họa sĩ Ann Phong sẽ có cuộc triển lãm vào ngày 21 tháng 10, nhân dịp năm thứ 10 dạ tiệc “Cho Em Niềm Hy Vọng.” (Hình: Tác giả cung cấp)


Như mọi năm, “Cho Em Niềm Hy Vọng 10” tiếp tục cống hiến một chương trình văn nghệ chọn lọc, với các ca sĩ Diễm Liên, Diệu Hương, Chu Minh Quân, và Vân Khanh. Kính mời quý vị cùng đến thắp lên hy vọng với SAP-VN, với Ann Phong lúc 5 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 21 tháng 10, tại nhà hàng Mon Amour, tức Mon Cheri 2 cũ, tọa lạc tại 3150 W. Lincoln Ave, #134, Anaheim, CA 92801.


Xin quý vị bảo trợ cho dạ tiệc và mua vé trước tại nhà sách Tự Lực (714) 531-5290, hoặc tiệm kính Optometry (714) 418-0190, hay qua email tại [email protected]. Nếu có thắc mắc về chương trình gây quỹ, xin quý vị gọi số điện thoại (714) 901-1997.


Hãy đến, để cùng yêu với SAP-VN, và yêu như SAP-VN. Và để cho hy vọng được chắp cánh bay cao trên nhiều mảnh đời khuyết tật khó nghèo trên quê hương.

Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 65)


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 65


 


Ðàn bà kêu gào, cào mặt, dứt tóc. Khi họ thấy xác chết được mang đi, họ chạy theo nắm chặt lấy. Nhưng lão Mavrandoni, vung gậy lên, xua đuổi họ và bước lên đi trước đoàn người. Bọn đàn bà theo sau, vừa đi vừa hát truy điệu. Bọn đàn ông im lặng đi sau cùng.


Họ biến mất trong ánh hoàng hôn. Người ta lại nghe thấy hơi thở dịu dàng của biển. Tôi nhìn xung quanh. Tôi đơn độc.


“Ta sẽ trở về nhà,” tôi tự nhủ. “Lại một ngày đầy cay đắng!”


Tôi bước đi, chìm đắm trong suy tưởng. Tôi thán phục những người đó đã ràng buộc quá chặt chẽ, quá nhiệt thành trong những nỗi khổ đau của con người; mụ Hortense, Zorba, góa phụ, và gã Pavli xanh xao và can đảm trầm mình xuống biển để chôn vùi nỗi phiền muộn. Và Deli-Katerina đòi cắt cổ góa phụ như một con cừu, và Mavrandoni không chịu khóc và ngay cả nói năng trước mặt những người khác. Riêng mình tôi bất lực và lý trí, máu tôi không bao giờ sôi sục, tôi không yêu cũng không ghét với tất cả nhiệt tình. Tôi vẫn còn muốn xếp đặt mọi sự, một cách hèn nhát, bằng cách phó mặc tất cả cho bàn tay định mệnh.


Trong ánh chiều tà tôi nhận ra bác Anagnosti hãy còn ngồi đó, trên một hòn đá. Lão tỳ cằm lên cây gậy dài và ngắm nhìn biển cả.


Tôi gọi lão, nhưng lão không nghe tiếng. Tôi lại gần, lão thấy tôi, lắc đầu:


– Ðáng thương thay loài người! Lão lẩm bẩm. Uổng một đời thanh niên! Nhưng kẻ khốn khổ kia, không chịu nổi nỗi sầu muộn của mình, trầm mình xuống nước và chết. Thế là gã được cứu rỗi.


– Ðược cứu rỗi?


– Ðược cứu rỗi, con ạ, phải, được cứu rỗi. Ðời gã có thể làm được gì hơn? Nếu gã cưới mụ góa, những cuộc gây gổ chẳng bao lâu sẽ xẩy ra, có thể ô danh nhục nhã nữa chưa biết chừng. Y thị đúng là một con ngựa cái, con đàn bà dâm đãng đó! Vừa thấy đàn ông một cái là thị đã hí lên. Và nếu gã không cưới được y thị, có thể đó là điều ân hận của đời gã, bởi gã đã có định kiến rằng gã đã mất một nguồn hạnh phúc lớn lao! Vực thẳm trước mặt, hố sâu sau lưng.


– Ðừng nói vậy bác Anagnosti, bác khiến người nghe phải thất vọng.


– Cứ nói đi, đừng sợ, không có ai nghe thấy lão nói đâu. Mà dù cho họ có nghe thấy, họ cũng chẳng tin nào. Này, đã có ai may mắn hơn lão chưa? Lão có ruộng, có vườn nho, vườn ô-liu và một căn nhà hai tầng, lão giầu và và là kỳ mục trong làng. Lão vớ được một mụ đàn bà hiền thục ngoan ngoãn đẻ cho mụ thuần con trai. Lão chưa bao giờ thấy mụ dám ngước mắt lên nhìn thẳng vào mặt lão bao giờ còn các con trai lão đều là những người cha tốt. Lão không có điều gì phải phàn nàn cả. Lão có cả cháu nội đầy đàn. Lão còn đòi hỏi gì hơn nữa? Gốc rễ lão cắm quá sâu rồi. Vậy mà nếu lão phải bắt đầu lại cuộc đời chắc lão cũng buộc một hòn đá vào cổ như Pavli và gieo mình xuống biển cho xong. Ðời nhọc nhằn lắm; ngay cả đối với những kẻ may mắn nhất, cuộc đời cũng nhọc nhằn lắm, cuộc đời chó đẻ!


– Nhưng bác còn thiếu gì nữa, bác Anagnosti? Bác ta thán điều gì nào?


– Lão không thiếu gì hết, thực thế! Nhưng con đi mà hỏi lòng dạ con người!


Lão yên lặng một lát, và lại nhìn biển đang tối mầu.


– Thôi được, Palvi, con làm như vậy là phải! Lão vừa nói to vừa vung cây gậy. Mặc kệ bọn đàn bà kêu gào; họ là đàn bà, họ không có đầu óc. Thế là con đã được cứu rỗi, Pavli, cha con biết vậy vì thế lão lặng thinh không nói gì hết.


Lão đưa mắt ngó trời và núi lúc này đã nhạt nhòa.


– Tối rồi, lão nói. Ta về thôi.


Thốt nhiên lão ngừng bặt, có vẻ hối tiếc những lời đã thốt ra như thể lão đã để lộ một điều bí mật lớn mà bây giờ lão muốn che đậy lại.


Lão đặt bàn tay khô héo run run lên vai tôi.


– Con còn trẻ, lão vừa nói vừa mỉm cười với tôi; đừng nghe lời bạn già. Nếu thế giới nghe lời bọn già, nó sẽ lao nhanh tới chỗ suy sụp ngay. Nếu một góa phụ đi trên đường con, hãy nhẩy chồm vào mụ. Cưới liền, sinh con đẻ cái ngay, đừng lưỡng lự! Những lộn xộn phiền nhiễu được làm nên cho bọn trẻ!


Tôi về đến bãi biển của tôi, nhúm lửa và pha trà buổi tối. Tôi mệt, đói, và tôi ăn ngấu nghiến, hoàn toàn buông mình vào niềm hạnh phúc thú vật này.


Ðột nhiên Mimiko thò cái đầu dẹt của gã qua khuôn cửa sổ, nhìn tôi đang ngồi xổm ăn bên bếp lửa. Gã mỉm cười một cách tinh quái.


– Em đến có chuyện gì đó, Mimiko?


– Bà góa nhờ tôi đem đến cho ông cái này, ông chủ… Một giỏ cam. Bà nói đây là những trái cuối cùng trong vườn bà.


– Bà góa nhờ? Tôi giật mình hỏi lại. Tại sao bà ấy lại gửi cam cho tôi?


– Bởi những lời tử tế của ông chiều nay nói với dân làng, bà ấy nói vậy.


– Lời nói tử tế nào?


– Tôi biết đâu! Tôi chỉ nhắc lại lời bà ấy nói với tôi, thế thôi!

Lùm sùm vụ ‘đại gia’ Trầm Bê mất sừng tê giác

 


TRÀ VINH (NV) –Báo chí tại Việt Nam trong mấy ngày qua liên tục loan tin về vụ mất cắp chiếc sừng tê giác tại dinh thự của ông Trầm Bê (phó chủ tịch ngân hàng Sacombank, một trong những người giàu nhất Việt Nam) tại xã Hàm Giang, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.









Dinh thự ông Trầm Bê (ở Trà Cú, Trà Vinh) – nơi bị mất cắp sừng tê giác. (Hình: Báo Thanh Niên)


Thoạt đầu là bản tin của tờ Công An thành phố Sài Gòn dẫn lời công an huyện Trà Cú, cho hay dinh thự của ông Trầm Bê bị mất cắp một chiếc sừng tê giác trị giá 4 tỷ đồng, khoảng 200,000 đô la.


Sau khi tin tức lan ra, Hiệp Hội Bảo Tồn Ðộng Vật Hoang Dã (WCS), một tổ chức phi chính phủ, có văn bản yêu cầu công an xác nhận tính hợp pháp của chiếc sừng tê giác “bị trộm” từ nhà ông Trầm Bê.


Nội dung văn bản có đoạn: “Cuộc trao đổi của chúng tôi với Cites VN (Cơ quan quản lý việc buôn bán quốc tế các động vật hoang dã nguy cấp) cho thấy, ông Trầm Bê không nằm trong danh sách những người nhập khẩu hợp pháp sừng tê giác vào Việt Nam. Ông này cũng không có tên trong danh sách những người xuất khẩu sừng tê giác hợp pháp như là mẫu vật săn bắn từ Nam Phi theo thông tin của chúng tôi. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, chiếc sừng tê giác được đề cập đến trong bài báo mà công an đang truy tìm có khả năng lớn là bất hợp pháp.”










Con tê giác của ông Trầm Bê bị trộm lấy mất sừng. (Hình: Xã Luận)


Ngay sau đó, trong một cuộc trả lời phỏng vấn với đài BBC, ông Trầm Bê lấp lửng khi không khẳng định mà cũng không phủ nhận chiếc sừng tê giác này là thật hay giả.


Tuy nhiên, hôm 6 tháng 10, báo Tiền Phong cho biết, “Ông Trầm Bê bất ngờ công khai hồ sơ sừng tê giác mất cắp.”


Theo đó, ông này “công khai hồ sơ nhập khẩu hợp pháp ‘tê giác trắng, hàng đã qua xử lý làm khô’, có giấy chứng nhận kiểm dịch của nước xuất hàng (Nam Phi).”


Báo Tiền Phong nói rằng, “Con tên giác trắng có sừng được xử lý thành thú nhồi bông được ông Nh. (ngụ đường Phạm Hữu Chí, phường 12, quận 5, Sài Gòn) tặng ông Bê nhân dịp tân gia nhà năm 2007.”


Theo báo này, “Mẫu thiệp chúc mừng tân gia ông Trầm Bê có chữ ký của ông Nh. với nội dung ‘Chúc mừng tân gia gia đình anh chị Trầm Bê. Em tặng gia đình anh chị một con tê giác trắng. Mong rằng món quà này đem lại may mắn cho gia đình anh chị. Ngày 1 tháng 3, 2007. Ng.Th.Nh. ký tên.”


“Ông Nh. là người đứng tên nhập khẩu kiện hàng chứa con tê giác trắng (đã qua xử lý làm khô).”


Báo Tiền Phong trích “hồ sơ nhập khẩu do Chi Cục Hải Quan khu vực IV (thuộc Cục Hải Quan cảng IDC Phước Long I), mở ngày 24 tháng 10, 2006, lô hàng chứa con tê giác hai sừng (chân đế bằng cốt thép xi măng và nhựa composite), đã xử lý làm khô, không thích hợp làm thực phẩm.”










Văn bản kiểm dịch con tê giác nhập cảng vào Việt Nam. (Hình: Tiền Phong)


“Xuất xứ nơi gửi hàng là Nam Phi và có giấy phép kiểm dịch của nước xuất hàng (Heath certification số 2107213), vào sổ 2948TC, ngày 20 tháng 10, 2006 của Trung Tâm Thú Y Sài Gòn.”


Báo Tiền Phong trích lời ông Trầm Bê nói, “Nếu nghi ngờ nguồn gốc con tê giác, thì có thể gọi thẳng cho ông để hỏi, đằng này một số người lại suy diễn và tưởng tượng cái sừng con tên giác đến cả trăm ký và nhân giá trị của nó lên hàng tỷ đồng.”

Truyền hình và thông tấn bỏ thăm dò cử tri ở 19 tiểu bang

WASHINGTON (Washington Post) –Từ bỏ truyền thống đã có từ hai thập niên nay, các cuộc thăm dò dư luận cử tri khi rời khỏi phòng phiếu cuối năm nay chỉ diễn ra ở 31 tiểu bang, thay vì tất cả 50 tiểu bang như trong năm cuộc bầu cử tổng thống trước đây.










Cử tri ở Cedar Falls, Iowa, bỏ phiếu sớm ngày 28 Tháng Chín. Nhiều hãng truyền hình và thông tấn cho biết sẽ bỏ thăm dò cử tri tại một số tiểu bang. (Hình: Scott Olson/Getty Images)


Ông Dan Merkle, giám đốc đặc trách thu thập dữ kiện bầu cử cho ABC News và là thành viên của nhóm các cơ quan truyền thông điều hành việc thăm dò dư luận cử tri sau khi rời khỏi phòng phiếu, xác nhận điều này hôm Thứ Năm. Ông giải thích lý do của quyết định này là để giảm bớt chi phí thăm dò mà vẫn cung câp các chi tiết cần thiết “ở các tiểu bang quan trọng nhất.”


Các tiểu bang sẽ không còn được thăm dò là: Alaska, Arkansas, Delaware, District of Columbia, Georgia, Hawaii, Idaho, Kentucky, Louisiana, Nebraska, North Dakota, Oklahoma, Rhode Island, South Carolina, South Dakota, Tennessee, Texas, Utah, West Virginia và Wyoming.


Cử tri ở các tiểu bang này sẽ vẫn được hỏi sau khi bỏ phiếu cho các cuộc bầu cử có tầm vóc quốc gia, nhưng sẽ không còn các chi tiết có tính cách địa phương như trước đây.


Một trong những lý do khiến các tiểu bang này bị đưa vào danh sách nói trên vì được coi là đã ngả hẳn về phía ông Obama hay Romney. (V.Giang)

Mức thất nghiệp Mỹ xuống dưới 8% lần đầu tiên trong 4 năm

WASHINGTON (NYT) – Các dữ kiện do Bộ Lao Ðộng Mỹ công bố hôm Thứ Sáu cho thấy mức thất nghiệp đã xuống dưới 8% trong Tháng Chín, mức thấp nhất kể từ khi Tổng Thống Obama lên cầm quyền.









Liệu tỉ lệ thất nghiệp giảm có giúp gì cho ông Obama trong cuộc bầu cử sắp tới. (Hình minh họa: Chip Somodevilla/Getty Images)


Trong khi con số công việc mới tạo ra trong tháng qua chỉ ở con số khiêm nhường là 114,000, mức thất nghiệp giảm từ 8.1% xuống còn 7.8%, dù rằng có thêm nhiều người tham gia vào lực lượng lao động.


Tuy nhiên, các kinh tế gia cảnh giác là hãy còn quá sớm đề đón mừng, vì mặc dù nền kinh tế có vẻ đã có bước phục hồi tốt đẹp, nhưng chưa được xem là vững chắc.


Lãnh vực tư nhân, vốn liên tục tạo công việc làm từ Tháng Ba, 2010, tăng 104,000 nhân viên trong Tháng Chín. Chính quyền ở các cấp, sau khi giảm bớt nhân viên thời gian qua, đã tạo thêm 10,000 việc làm.


Lãnh vực sản xuất giảm 16,000 việc làm trong Tháng Chín sau khi đã giảm 22,000 việc trong Tháng Tám. Ngành xây cất chỉ thêm có 5,000 việc làm. Con số các công việc tạm thời, được coi là chỉ dấu của phát triển trong tương lai, đã giảm 2,000 việc.


Bản báo cáo, được đưa ra chỉ một tháng trước ngày bầu cử, là dịp cho cả hai phía Cộng Hòa và Dân Chủ, tùy tiện khai thác theo cách có lợi cho cuộc tranh cử.


Tổng Thống Obama có thể nói rằng số công việc làm ở Mỹ tiếp tục gia tăng, liên tục trong 24 tháng qua, cho thấy chính sách của ông có kết quả. Trong khi đó, phía Cộng Hòa vẫn có thể nói rằng mức độ phục hồi kinh tế quá chậm chạp vì chính sách của ông Obama.


Chỉ mấy ngày sau khi ông Mitt Romney thắng thế bất ngờ trong cuộc tranh luận, báo cáo này không khỏi tạo nên mối hoài nghi cho những người Cộng Hòa rằng Bộ Lao Ðộng đã thiên vị đưa ra những dữ kiện có lợi cho tổng thống.


Ban tranh cử của ông Mitt Romney tránh không có phản ứng kiểu huỵch toẹt như vậy, nhưng phụ họa với lập luận của một số giới lãnh đạo Cộng Hòa rằng có nên coi báo cáo là một chỉ dấu chính xác về tình trạng kinh tế tiến triển.


Hầu hết những nhà lãnh đạo Cộng Hòa khác phản ứng thận trọng hơn. Dân Biểu Eric Cantor (Virginia), trưởng khối đa số Hạ Viện, nhìn nhận “bản báo cáo đem đến một số tin tức đáng khích lệ, nhưng chưa đủ để coi là tốt đẹp.”


Phía Dân Chủ, Dân Biểu Nancy Pelosi (California), trưởng khối thiểu số Hạ viện, cũng bày tỏ thái độ thận trọng: “Báo cáo việc làm hôm nay đánh dấu mức thất nghiệp thấp nhất từ bốn năm, tuy nhiên hãy còn nhiều việc cần làm. Nhưng nhờ sự lãnh đạo về kinh tế của Tổng Thống Obama, chúng ta đã tránh khỏi một cuộc suy thoái khác để bây giờ ghi nhận được 31 tháng liên tục có số việc làm gia tăng trong lãnh vực tư nhân và tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn khi ông bắt đầu nhiệm chức…”


Theo lịch trình đã định, Bộ Lao Ðộng sẽ còn đưa ra một bản báo cáo khác về tình hình nhân dụng ngay trước cuộc bầu cử, vào ngày 2 Tháng Mười Một. (V.Giang, HC)

Lướt tin

Việt Nam


 



  • Báo Nhân Dân phải cải chính và xin lỗi ông Nguyễn Tấn Dũng vì viết nhầm “thủ trưởng” thành “thủ tướng” trong một bài viết chống tham nhũng.

 



  • Công an giải thoát thành công con trai của một phó giám đốc ở tỉnh Thái Nguyên bị một nhóm bắt cóc và đòi nhiều tỷ đồng tiền chuộc.

 



  • Bộ Lao Ðộng Nam Hàn chính thức có văn bản gửi Bộ Lao Ðộng Việt Nam thông báo việc dừng tiếp nhận các công nhân Việt Nam đến làm việc tại quốc gia này.

 



  • Nhiều chợ và siêu thị ở Sài Gòn nhập cảng loại trứng gà không còn giá trị dinh dưỡng, chỉ dùng chế biến thức ăn gia súc, và bán cho người tiêu dùng.

 


Cộng Ðồng/Ðịa Phương


 



  • Scott Adrian Peterson, 50 tuổi, cựu giáo viên trung học dạy tiếng Tây Ban Nha ở Orange, bị tuyên án 16 tháng tù vì có liên hệ tình dục với một nữ sinh 17 tuổi.

 



  • Thống kê tiểu bang cho thấy ngành buôn bán rau trái ở Orange County có thêm 700 công việc làm mới kể từ Tháng Tám năm ngoái.

 



  • Marcos Gonzalez, 28 tuổi, cư dân Fullerton, bị tuyên án 6 năm ở tù vì hành hung, lái xe lôi theo một cảnh sát viên và gây thương tích nặng cho nhân viên này.

 


Hoa Kỳ


 



  • Cảnh sát Chicago khám phá 1,500 cây cần sa trồng trong một căn nhà.

 



  • Ðiều tra của FBI cho thấy có thể nhân viên tuần tra biên giới bị bắn chết ở Arizona tuần này là do “phe ta bắn phe mình.”

 



  • Một tòa kháng án ở tiểu bang New York vừa phán quyết nạn nhân bị súng bắn có thể kiện người bán súng.

 



  • Cựu tổng quản trị một học khu ở El Paso, Texas, bị ba năm rưỡi tù vì tội đứng đầu một đường dây sửa điểm trong học bạ của học sinh.

 


Thế Giới


 



  • George Dalmon và Andy Miles, khách lâu năm của tiệm Gobi ở Brighton, Anh, sẽ bị từ chối trọn đời, vì mỗi lần hai người này vào ăn buffet với giá 12 bảng Anh ($19), đều ngốn hết ít nhất là 5 đĩa.

 



  • Giới hâm mộ bóng đá sẽ không thể bỏ qua trận gặp gỡ nổi danh có tên là ‘El Classico’ giữa hai câu lạc bộ hàng đầu Tây Ban Nha – Real Madrid và Barcelona – sẽ diễn ra vào Chủ Nhật 7 Tháng Mười.

 



  • Amplats, công ty khai thác platin lớn nhất thế giới, vừa loan báo sa thải 12,000 thợ mỏ ở Nam Phi sau cuộc đình công kéo dài ba tuần của 28,000 thợ mỏ để phản đối lương bổng quá thấp kém.

 



  • Giá vàng trên thế giới tiếp tục tăng, dự kiến sẽ tới $1,800/pound, trong khi đó tại Việt Nam giá vàng lên tới trên 48 triệu đồng ($2,300) một lượng.

Phi cơ chế độ Assad oanh tạc thành phố Homs

 


BEIRUT (AP) – Chính quyền Syria hôm Thứ Sáu sử dụng phi cơ, đại bác và súng cối ào ạt bắn phá nhiều nơi trong thành phố Homs, nhằm tìm cách đánh bật lực lượng nổi dậy ra khỏi nơi này.









Trẻ em tạm trú trong một trường học ở Homs. Thành phố này vừa bị phi cơ chế độ Assad oanh tạc. (Hình minh họa: Louai Beshara/AFP/GettyImages)


Cuộc bắn phá này diễn ra trong khi bộ binh chế độ Assad mở cuộc tấn công mới nhắm vào thành phố Aleppo, nằm về phía Bắc Syria.


Việc gia tăng tấn công ở các thành phố cho thấy chế độ Damascus không bận tâm về sự căng thẳng ở biên giới với Thổ Nhĩ Kỳ. Quốc Hội Thổ Nhĩ Kỳ hôm Thứ Năm thông qua nghị quyết cho phép có hành quân vượt biên giới nếu cần sau khi xảy ra cuộc pháo kích của phía Syria khiến năm thường dân Thổ Nhĩ Kỳ thiệt mạng ngày trước đó.


Một nhà tranh đấu ở Douma, khu vực ngoại ô thủ đô Damascus, ông Mohammed Saeed, cho hay phía nổi dậy chiếm được một căn cứ phòng không của chế độ ở vùng Eastern Ghouta gần thủ đô.


Nếu tin này được xác nhận thì việc phía nổi dậy chiếm được nơi có kho hỏa tiễn chống phi cơ sẽ là sự tăng cường hỏa lực mạnh mẽ cho lực lượng võ trang yếu kém này để có thể chống lại trực thăng võ trang và cả phi cơ phản lực chiến đấu. (V.Giang)

Bão số 7 đánh vào miền Trung Việt Nam

BÌNH ÐỊNH (NV) –Bão số 7 trên biển Ðông dự đoán sẽ đánh vào khu vực miền Trung Việt Nam từ Quảng Ngãi đến Phú Yên vào tối 6 tháng 10, 2012, và tâm của cơn bão có thể là ở Bình Ðịnh.










Tàu đánh cá của ngư dân Quảng Ngãi vào bờ tránh bão. (Hình: Báo Tiền Phong)


Báo Tiền Phong dẫn lời ông Bùi Minh Tăng, giám đốc Trung Tâm Dự Báo Khí Tượng Thủy Văn Việt Nam cho biết, “Bão số 7 tiếp tục di chuyển ổn định theo hướng giữa Tây và Tây Tây Nam, tốc độ 15-20 km/h và có khả năng mạnh thêm.”


“Ðến 4 giờ chiều hôm 6 tháng 10, bão cách bờ các tỉnh Quảng Ngãi đến Phú Yên khoảng 190 km về phía Ðông, gió mạnh cấp 8, cấp 9 (từ 62 đến 88 km/h), giật cấp 10, cấp 11.”


Vẫn theo lời ông Tăng, “Ðến tối khuya 6 tháng 10, bão sẽ thổi đất liền với trọng tâm là một trong ba tỉnh Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên, trong đó nhiều khả năng tâm bão sẽ vào Bình Ðịnh. Sức gió lúc bão cập bờ mạnh cấp 8, cấp 9, giật cấp 10. Bão số 7 cũng sẽ làm cho các tỉnh lân cận và Bắc Tây Nguyên có gió mạnh cấp 6, cấp 7, giật cấp 8. Dự báo vùng gió mạnh và mưa lớn do bão sẽ tập trung ở phía Bắc của cơn bão.”


Báo Tiền Phong cho biết thêm, “Vùng mưa do bão gây ra từ Thừa Thiên-Huế đến Bình Ðịnh với lượng mưa 200-300mm, một số nơi trên 300mm, vùng lân cận mưa trên 100mm.”


“Mưa sẽ bắt đầu từ sáng nay, kéo dài đến trưa 7 tháng 10. Từ chiều tối nay, mực nước trên các sông từ Quảng Bình đến Khánh Hòa và khu vực Bắc Tây Nguyên có khả năng lên nhanh.”


“Do mưa lớn trong thời gian ngắn, nên khả năng xảy ra lũ quét, sạt lở đất đá, ngập lụt vùng vũng là rất lớn.”


Tại Quảng Nam, người ta lo ngại bão sẽ gây mưa lũ đe dọa sự an toàn cho đập thủy điện Sông Tranh 2, nơi xả ra hàng loạt vụ động đất trong thời gian vừa qua. (KN)

Ðảng đánh nhau, nhân dân lãnh đủ


Song Chi/Người Việt


 


Hội nghị Trung Ương 6 khóa XI diễn ra giữa lúc đảng cộng sản Việt Nam đang phải đối diện với muôn vàn khó khăn cũng như đang trong giai đoạn khủng hoảng về mọi mặt.









Một người bán hàng rong đi ngang qua của hàng bán Iphone 5 ở Hà Nội. Chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn ở Việt Nam là vấn đề nóng bỏng của xã hội. (Hình: Dinh Nam/AFP/Getty Images)


Từ nguy cơ vẹn toàn lãnh thổ và độc lập chủ quyền, sự đoàn kết trong nội bộ đảng và uy tín trước nhân dân, các vấn đề đối nội đối ngoại cần phải giải quyết và hướng đi cho tương lai, đặc biệt là trong lĩnh vực điều hành quản lý kinh tế.


Sự khủng hoảng, bất lực của đảng và nhà nước cộng sản thể hiện rõ trên bức tranh chính trị xã hội Việt Nam.


Hậu quả là gần 90 triệu người dân phải gánh chịu sự bất ổn đang tác động trực tiếp lên đời sống của họ từng ngày. Lạm phát phi mã, thu nhập không theo nổi với vật giá leo thang, xăng dầu, thuế má, viện phí, mọi thứ đổ lên đầu dân…


Bên cạnh đó, những căn bệnh trầm kha của xã hội vốn đã tồn tại từ lâu, cứ ngày càng tệ hại hơn.


Trong đó, nạn tham nhũng, sự dối trá, giáo dục bị “lạc đường” (phát biểu của Giáo Sư Hoàng Tụy, Tiến Sĩ Chu Hảo tại hội nghị về đổi mới giáo dục diễn ra hôm 29 tháng 9), cái ác ngày càng gia tăng về số lượng lẫn mức độ, tình trạng môi trường sống không an toàn… là những vấn đề nhức nhối nhất.


Trước thực trạng này, nhà cầm quyền dù có muốn bưng bít, che giấu hoặc tìm cách mị dân đến đâu, cũng không thể.


Từng ngày từng giờ, những thông tin thực, kể cả nguyên nhân gốc rễ của vấn đề, đang bị mạng lưới truyền thông báo chí “lề trái” phơi bày.


Còn với quốc tế, bộ mặt thật của nhà cầm quyền Việt Nam đã lộ rõ.


Một nhà nước độc tài, cai trị bằng bạo lực và sự sợ hãi, tước đoạt mọi quyền tự do dân chủ của nhân dân, chà đạp lên mọi chuẩn mực, công ước quốc tế về nhân quyền…


Một nhà nước bị lệ thuộc nặng nề và ngày càng tự nguyện gắn chặt vào Trung Quốc, tách dần ra quỹ đạo chung của thế giới tự do dân chủ.


Một nhà nước mang tai tiếng nặng nề về tham nhũng và năng lực yếu kém trong điều hành quản lý kinh tế… Thế giới đã nói đến Việt Nam như một gương xấu về phát triển kinh tế, từ rồng biến thành mèo ra sao. (From Tiger to Pussycat: How Vietnam’s Economy Got Off Track,” Newsweek Magazine.)


Nhiều đảng viên cao cấp phải thừa nhận chưa bao giờ uy tín của đảng cộng sản Việt Nam xuống thấp đến vậy, chưa bao giờ câu hỏi về tính chính danh của đảng lại bị đặt ra gay gắt đến thế. Dẫn đến “cuộc chỉnh đốn đảng vì sự tồn vong của chế độ” từ hội nghị Trung Ương 4 mà người dân vẫn gọi là “đóng cửa, tắm rửa vệ sinh cho nhau.”


Tất cả tạo một sức ép nặng nề lên bầu không khí của Hội nghị Trung Ương 6, như chính ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu trong buổi khai mạc sáng 1 tháng 10: “Ít có hội nghị trung ương nào có nhiều nội dung và dự kiến họp dài như hội nghị lần này. Tất cả vấn đề được bàn và quyết định đều rất quan trọng và phức tạp…” (“Hội nghị Trung ương 6 bàn những vấn đề quan trọng,” báo Tuổi Trẻ)


Ðây cũng là một hội nghị mà từ trước đó, qua một số trang báo mạng độc lập, thông tin về những cuộc đấu đá tranh giành quyền lực dữ dội giữa các phe nhóm, đưa đến sự đồn đoán về những thay đổi trong nội bộ nhân sự cao cấp của đảng.


Dư luận đặc biệt quan tâm đến ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, người chịu trách nhiệm chính về bức tranh xám xịt của nền kinh tế Việt Nam hiện nay.


Có những người vẫn còn hy vọng vào một sự thay đổi nào đó, không đơn thuần chỉ là việc ông Nguyễn Tấn Dũng cùng một số nhân vật bất tài, phá hoại, thuộc phe nhóm của ông Dũng cũng phải ra đi. Mà đảng sẽ thực sự tạo được bước ngoặt lớn như đại hội đảng lần VI, năm 1986, thực hiện chính sách Ðổi Mới.


Tuy nhiên, những ai hiểu rõ bản chất cũng như năng lực, tư duy, viễn kiến của nhà cầm quyền Việt Nam và tình hình chính trị xã hội trong nước hiện nay sẽ không lạc quan như vậy.


Về phía nhà cầm quyền, mục tiêu lớn nhất là cố gắng hạn chế mọi xáo trộn có thể dẫn đến sự sụp đổ cả hệ thống, theo nhận định của nhiều người. Nhiều khả năng sẽ không có sự thay đổi lớn về nhân sự.


Một vài thay đổi nhỏ, điều chỉnh, cân bằng lại quyền lực giữa đảng và chính phủ – như người ta thường nói, giữa phe ông Trọng, ông Sang và phe ông Dũng.


Càng không bao giờ có sự thay đổi về đường lối chính trị, tiến hành những cải cách thực sự theo hướng tự do dân chủ đa nguyên đa đảng. Là điều mà không bao giờ những người cầm quyền hiện nay dám nghĩ đến hoặc chấp nhận.


Bởi sự sợ hãi. Lòng tham. Bởi những quyền lợi cắm rễ quá sâu sau bao nhiêu năm, cộng với một cơ chế, hệ thống mà quyền lực chồng chéo gắn chặt với nhau nên một vài cá nhân, nếu muốn, cũng rất khó làm nên chuyện.


Quan trọng nhất, không một ai trong số những con người đang ngồi trên những cái ghế lãnh đạo cao nhất hiện nay có một tầm nhìn xa hàng trăm năm. Và sự dũng cảm dám đặt quyền lợi đất nước lên trên quyền lợi của đảng, phe nhóm và cá nhân.


Ðiều mà Tổng Thống Thein Sein của Miến Ðiện đã làm được, chẳng hạn.


Do đó, những sự điều chỉnh, chỉnh đốn… cũng ví như chữa ghẻ trong khi căn bệnh của xã hội Việt Nam đã là ung thư giai đoạn cuối, do sai lầm của cả mô hình thể chế chính trị chứ không phải chỉ vài cá nhân.


Còn về phía người dân?


Phần lớn người dân không tin vào bất cứ sự thay đổi nào dù Hội nghị Trung ương lần này hay lần khác, dù bao nhiêu đợt chỉnh đốn đảng, phê và tự phê có diễn ra.


Dù nhân vật nào phải ra đi, nhân vật nào lên, xuống. Nghĩa là người dân đã mất lòng tin vào đảng, vào cái nhà nước này đến tận cùng.


Nhưng đáng tiếc là sự mất lòng tin, sự chán ngán đó thay vì tạo nên động lực để mọi người quyết tâm thay đổi thì lại đưa đến tình trạng thờ ơ, không quan tâm, coi “chính trị là chuyện của đảng, nhà nước lo.”


Bất chấp thực tế đất nước là của chung 90 triệu con người, không thể phó mặc cho một cái nhà nước mà trong suốt hơn 6 thập niên cầm quyền đã chứng tỏ sự thối nát, bất lực. Một nhà nước không của dân, do dân, vì dân.


Lại nói đến chuyện Miến Ðiện. Trong rất nhiều nguyên nhân đưa đến sự thay đổi, cải cách của chính phủ Miến Ðiện hiện nay, có nguyên nhân sâu xa từ chính nội lực, lương tri của dân tộc.


Bởi dù có một chế độ quân phiệt hà khắc, nhưng xã hội Miến Ðiện không bị cái lý thuyết lẫn mô hình của chủ nghĩa cộng sản ngoại lai tàn phá như TQ hay Việt Nam. Trong đó sự phá hoại lớn nhất là giềng mối gia đình, đạo đức lương tâm, tâm linh của con người.


Miến Ðiện, như nhiều người đã từng du lịch đến xứ sở này nhận xét, mặc dù nghèo khó lạc hậu nhưng con người còn giữ được sự hiền lương, niềm tin vào Phật giáo, thế giới tâm linh của con người chưa bị hủy diệt.


Phải chăng triết học Phật giáo với sự khoan dung từ bi hỷ xả, niềm tin vào luật nhân quả… khiến cho những con người như Tổng Thống Thein Sein hay lãnh tụ đảng đối lập Aung San Suu Kyi có thể ngồi lại trò chuyện với nhau, bỏ qua quá khứ?


Tổng Thống Thein Sein còn công khai ca ngợi bà Aung San Suu Kyi trước quốc tế và tuyên bố sẵn sàng rút lui, nếu nhân dân bầu bà làm tổng thống.


Xã hội Trung Quốc hay Việt Nam, đáng buồn thay, một thời thì bị cái chủ nghĩa cộng sản ngoại lai tôn sùng triết học duy vật, gạt bỏ cá nhân, gạt bỏ thế giới tâm linh, tín ngưỡng của con người làm cho méo mó.


Tiếp theo lại bị cái mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa què quặt, thực chất là sự kết hợp của tất cả những gì tệ hại nhất của chế độ phong kiến lạc hậu, chủ nghĩa tư bản thời kỳ man rợ cộng với thể chế độc đảng độc tài, phá hoại đến tận gốc rễ.


Con người không còn biết tin vào cái gì, dựa vào đâu, từ luật pháp, giáo dục cho đến tín ngưỡng, tâm linh. Khi cái xấu cái ác nhan nhản khiến con người trở nên chai sạn, vô cảm, cộng với sự đàn áp của nhà cầm quyền khiến con người sợ hãi và không còn muốn dính líu tới chuyện chính trị.


Phong trào dân chủ ở Việt Nam thì rời rạc, yếu ớt, không thể tập hợp lại thành một khối cũng không lớn mạnh nổi.


Với một cái nhà nước và thực trạng dân tộc như vậy, mọi sự thay đổi là vô cùng khó.

Vụ hối lộ in tiền cho Việt Nam

 


Lãnh đạo Ngân Hàng Trung Ương Úc bao che tham nhũng


 


MELBOURNE, Aus.( NV) –Nhiều hơn một lần, một viên chức đã phúc trình bằng văn bản rằng ông Glenn Stevens, thống đốc Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang tức Ngân Hàng Trung Ương Úc (RBA), được biết Phó Thống Ðốc Ric Batellino đã cảnh cáo một người tố cáo hối lộ là “đừng bao giờ” lập lại sự quan ngại về việc các công ty con của RBA sử dụng các người môi giới tham nhũng ở hải ngoại.










Thống Ðốc Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang Úc Glenn Stevens. (Hình: ABC.Net.Au)


Brian Hood, một viên chức thư ký tại công ty in tiền NPA (Note Printing Australia), hồi tháng 11 năm ngoái đã bí mật gửi cho ông Stevens bức thư lược thuật lại những nỗ lực của ông từ năm 2007 phúc trình với cấp trên, các bằng chứng có dấu hiệu tham nhũng tại hai công ty NPA và Securency.


Công ty in tiền NPA do chính phủ liên bang Úc làm chủ hoàn toàn trong khi công ty dịch vụ in tiền Securency chính phủ chỉ làm chủ 50%, một nửa là đầu tư của một công ty Anh quốc.


Vì phúc trình tố cáo nhiều lần nên ông Hood đã bị sa thải năm 2008.


Ông Hood tiết lộ năm ngoái ông đã tường thuật kỹ lưỡng bằng văn bản cho ông Stevens về việc RBA biết tai tiếng hối lộ viên chức ngoại quốc, qua những bằng chứng ông trình ở tòa án hôm Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012.


Trong phiên tòa, Tổng Cục Xúc Tiến Ngoại Thương (Austrade) cho biết đã mở cuộc điều tra nội bộ về hành động của một trong những viên chức bị truy tố trong vụ này.


Những lời khai của ông Hood khiến người ta thấy có những vấn đề mới được đặt ra cho các lời tuyên bố trước đây của ông Hood khi ông ra trước Quốc Hội điều trần là ông không biết gì.


Ông Hood cho biết như sau:


-Ông hoặc luật sư của ông từng viết trực tiếp cho ông Stevens 3 lần trong vòng một năm rưỡi qua, lược thuật những gì ông đã báo cáo cấp trên vào các năm 2007 và 2008.


-Ông là nạn nhân của những lời tố cáo hối lộ và tham nhũng liên quan đến các kẻ môi giới ngoại quốc, đại diện cho NPA và Securency.


-NPA đã thuê một “người tư vấn” để “bịt mồm” ông sau khi ông tố cáo các quan ngại về tham nhũng.


Hồi năm ngoái, 8 viên chức và cả hai cơ quan NPA và Securency đều bị truy tố về tội hối lộ quan chức ngoại quốc tại các nước Việt Nam, Malaysia, Indonesia và Nepal để tranh lấy dịch vụ in tiền.


Sau khi ông Hood tố cáo, RBA thay vì trình báo lại cho Cảnh sát Liên bang thì lại thuê công ty luật Freehills mở cuộc điều tra. Cảnh sát chỉ được báo cho biết vụ việc sau khi báo The Age đăng tải một số bài điều tra, phanh phui vụ việc vào giữa năm 2009.


Trong những loạt bài này, viên chức NPA và Securency qua đầu cầu là bà Elizabeth Masamune (đại diện Austrade ở Hà Nội) sử dụng Lương Ngọc Anh làm môi giới thầu in tiền giấy nhựa Polymer cho Việt Nam. Dù biết ông này là sĩ quan tình báo cao cấp của công an CSVN, ông ta vẫn được dùng vì cái mối quan hệ chặt chẽ giữa ông ta với các người cầm đầu chế độ như Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng, Thống Ðốc Ngân Hàng Lê Ðức Thúy, Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh.


Cả hai ông Stvens và Battellino sẽ ra điều trần tại một phiên đặc biệt hôm Thứ Hai tới đây về những lời tố cáo của ông Hood. Ông Stevens từng tuyên bố không một ai ở RBA biết gì về các lời tố cáo có tham nhũng hối lộ gì ở Securency trước khi báo chí khui ra hồi năm 2009.


Ông Hood cáo buộc ông bị sa thải vào tháng 9, 2008 bởi phụ tá thống đốc RBA là Bob Rankin khi đó đồng thời là chủ tịch của cả NPA và Securency.


Sau các lời tố cáo một viên chức cao cấp (bà Elizabeth Masamune) dính líu tình ái với một viên chức tình báo của Việt Nam (Ðại tá Công an Lương Ngọc Anh, tổng giám đốc công ty CFTD), Austrade cho hay đang chấn chỉnh lại các thủ tục về bảo đảm an ninh và điều hành do hậu quả của vụ tai tiếng. (TN)

Báo Nhân Dân lo sợ ‘phi chính trị hóa’ trong quân đội

 


HÀ NỘI (NV) – Nhật báo Nhân Dân, cơ quan tuyên truyền chính thức của đảng CSVN có một bài viết kêu gọi “Phòng, chống khuynh hướng ‘phi chính trị hóa’ trong quân đội” trong số báo ngày Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012.









Một đơn vị CSVN diễn hành nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long ngày 10 tháng 10, 2010. (Hình: AFP/Getty Images)


Người viết bài này là Tướng Võ Tiến Trung thấy nêu cấp bậc là trung tướng và chức vụ là ủy viên Trung Ương Ðảng, ủy viên Quân Ủy Trung Ương, giám đốc Học Viện Quốc Phòng.


“’Phi chính trị hóa quân đội’ là âm mưu và thủ đoạn chính trị trong chiến lược ‘diễn biến hòa bình’ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực chống chủ nghĩa xã hội, nhằm tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của đảng cộng sản, đối lập quân đội với đảng và nhân dân, tiến tới vô hiệu hóa quân đội và cao hơn nữa là sử dụng quân đội vào mục đích lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa.”


Ông Võ Tiến Trung viết ngay từ đầu bài viết dài gần 3,000 từ như thế và đưa ra 4 giải pháp để đối phó.


Quân đội CSVN tổ chức giống Cộng Sản Trung Quốc và các nước cộng sản khác đã tan rã, có một bộ phận chính trị (đảng) đứng đầu các cấp chỉ huy chiến đấu. Chính ủy bao giờ cũng nhiều quyền hơn tư lệnh.


Những cuộc cách mạng “Hoa Nhài” ở Bắc Phi và Trung Ðông đã và đang diễn ra dẫn đến sự sụp đổ của một số nước độc tài hay quân phiệt như Tunisia, Ai Cập, Libya, và đang diễn ra ở Syria làm cho chế độ độc tài đảng trị tại Hà Nội bối rối không ít.


Rất nhiều bài viết kêu gọi cán bộ, đảng viên tỉnh táo trước các “âm mưu diễn biến hòa bình” của “các thế lực thù địch” xuất hiện trên cả báo đảng và quân đội. Các cuộc họp đảng và cán bộ chống “diễn biến hòa bình” cũng được tổ chức khắp nơi.


Bài viết của tướng Trung không phải bỗng dưng mà phải viết nếu không có những lo sợ trong guồng máy đảng và bộ phận đảng ủy của quân đội. Hoặc tệ hại hơn, có thể có khuynh hướng trong nội bộ đòi tách chính trị ra khỏi quân đội nhằm tăng tính chiến đấu chuyên nghiệp và giảm bớt cồng kềnh tổ chức của bộ máy quân sự như quân đội của nhiều nước trên thế giới.


Nhưng trong nhu cầu của đảng CSVN như tướng này mô tả thì “quân đội xuất hiện và tồn tại gắn liền với chính trị, bị chi phối bởi chính trị, là công cụ thực hiện mục tiêu chính trị ấy. Mọi mặt hoạt động của quân đội đều bị quy định bởi chính trị và phụ thuộc vào chính trị.”


Ngày 12 tháng 7, 2012 tạp chí “Ðảng CSVN” viết một bài dài đả kích “các thế lực thù địch” ở bên ngoài cấu kết với các thành phần “phản động trong nước” thực hiện các hành động “diễn biến hòa bình” nhằm lật đổ một chế độ độc tài thối nát đang đè đầu cưỡi cổ nhân dân Việt Nam.










Tài liệu để cán bộ các cấp học tập “Chống Diễn Biến Hòa Bình” của nhà cầm quyền Hà Nội. (Hình: Báo ÐCSVN)


Những lời kêu gọi chế độ Hà Nội trả lại cho dân các quyền tự do chính trị, tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do hội họp và lập hội mà bản Hiến Pháp của chế độ công nhận đều bị coi là “diễn biến hoà bình.” Chế độ Hà Nội nắm chặt các phương tiện truyền thông đại chúng vì sợ nhân dân biết mặt trái tồi tệ của chế độ và tiến đến lật đổ chế độ.


Dùng Internet để vận động dân chủ hóa đất nước, là cái mà nhà cầm quyền Việt Nam không dung tha.


Năm 2009, chế độ Hà Nội phát hành một quyển tài liệu tựa đề “Phòng, chống ‘Diễn biến hòa bình’ ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn,” phát cho cán bộ. Nay thì cảnh giác với vấn đề đòi tách chính trị ra khỏi quân đội mà nếu xảy ra, đảng độc tài tham nhũng CSVN mất chỗ dựa để tồn tại. (TN)

Nhờ đâu không mất nước?


Ngô Nhân Dụng


 


Mấy ngày nay, tôi cứ nghĩ đến anh Nguyễn Chí Thiện. Cứ quên đi một lúc lại nhớ; lại nghĩ: Anh Nguyễn Chí Thiện đã đi rồi. Sáng nay, khi nghĩ về anh, tôi chợt nhớ một câu thơ cổ, “Il est mort, le vieux orgeuil chêne de la forêt.”


Ðã chết rồi, cây sồi già kiêu hãnh trong rừng sâu. Tôi không còn nhớ thi sĩ nào là tác giả vì chả bao giờ được học văn chương Pháp. Câu thơ này tôi nghe từ hồi học lớp đệ tứ, đệ tam, khi một thầy giáo Pháp văn lấy làm thí dụ cho một bài dạy văn phạm. Hoặc có thể do một thầy giáo dạy Việt Văn cho thí dụ khi dạy về cách viết văn cho hay. Anh Nguyễn Chí Thiện có lẽ lại biết, vì anh đã học nhiều tiếng Pháp hơn tôi. Nhưng anh đã mất rồi. Nếu thời nhỏ học trường Pháp chắc nhiều bạn phải biết thi sĩ nào là tác giả câu thơ này.


Nguyễn Chí Thiện đã qua đời. Anh đúng là hình ảnh cây sồi già kiêu hãnh trong rừng thẳm. Nhưng nghĩ lại, không nên ví Nguyễn Chí Thiện với một cây sồi, một loại cây miền ôn đới. Một thi sĩ Việt Nam có thể ví anh như cây hoa gạo mọc trên đồi. “Tháng Tư hoa gạo đỏ – Mở cánh ngập đồi xa – Máu hồng tung tóe vỡ – Chân mây thở sáng lòa.” Nhưng chắc Nguyễn Chí Thiện không thích hình ảnh cây hoa rực đỏ, của một thi sĩ mà anh khinh. Anh là một người giản dị, mộc mạc, không phô trương hào nhoáng như cây hoa gạo. Cây hoa gạo cũng không thuộc loại gỗ tốt. Chắc ví anh như một cây đa thì thích hợp hơn. Cây đa vững chãi, bền bỉ, chung thủy, bám lấy mặt đất. Ðó là Nguyễn Chí Thiện. Ðã chết rồi, cây đa cổ thụ ở đầu làng tôi!


Chúng tôi chưa thân đến độ nói chuyện với nhau về sự sống và cái chết. Không bao giờ hỏi nhau đến cuộc sống riêng tư. Chưa bao giờ ngồi nhậu chung, hoặc la cà ở quán cà phê. Mỗi năm chắc chỉ đi ăn trưa với nhau ba bốn lần, không Song Long thì cũng Nguyễn Huệ. Mà đi ăn với anh thì buồn lắm; anh chỉ nhấp qua vài miếng rồi ngưng, coi việc ăn uống là một điều bất đắc dĩ. Tôi chả bao giờ hỏi chuyện về thơ của anh, mà anh cũng vậy. Chỉ có mấy lần nói đến tập hồi ký “Hỏa Lò” mà tôi thấy rất hay. Và anh thì góp ý kiến về những bài bình luận tôi viết. Tôi không thể kể mình là một người bạn thân của anh. Chỉ có một mối giao tình đạm bạc theo lối người xưa: “Kính yêu từ trước đến sau – Trong khi gặp gỡ biết đâu duyên giời.” Gặp gỡ nhau, thường chỉ nói đến những mối ưu tư cùng chia sẻ: Nước Việt Nam, người Việt Nam, tương lai Việt Nam. Ðó là những chuyện chung, của bao nhiêu người, không chỉ riêng chúng tôi. Anh luôn luôn có ý kiến, rất rõ ràng, rất quả quyết, nhưng không cố chấp. Lòng anh cũng thanh thản, không bày tỏ một nỗi thù hận, chua cay nào.


Lần chót anh với tôi nói chuyện lâu là vì anh đọc bài của tôi in trên Ðặc San Bắc Ninh, cách đây ba tháng. Vì bài viết về quá trình Hán hóa miền Nam Trung Quốc đụng tới mối quan tâm chung: Quan hệ Việt Nam và Trung Quốc hiện nay. Chúng tôi đã nhiều lần bàn bạc, cùng bày tỏ niềm vui khi nói đến những đàn anh như anh Tô Hải, những người cùng tuổi như Nguyễn Huệ Chi, hoặc các bạn trẻ hơn như Ðiếu Cầy, Tạ Phong Tần. Và chúng tôi cùng thấy những người quá lo lắng nghĩ rằng Việt Nam sẽ mất vào tay Trung Quốc là sai; không có gì phải lo cả. Cứ nhìn lại lịch sử nước Việt Nam thì biết. Anh góp ý kiến với tôi về cuốn sách tôi đang viết: Vì sao sau một ngàn năm Bắc thuộc, dân tộc Việt Nam vẫn còn, nước Việt Nam không mất. Anh cũng đồng ý, đó là một phép lạ lịch sử. Nhưng anh đề nghị cứ gọi đó là phép lạ Việt Nam, không cần nói “lịch sử” nghe nó to, nó lớn quá. Anh vốn là người khiêm tốn; nhưng đồng ý đó là một phép lạ.


Trong Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim viết: “Hết thời Bắc thuộc rồi thì người Giao Châu ta có một cái nghị lực riêng và cái tính chất riêng để độc lập, chứ không chịu lẫn với người Tàu.” Dân tộc ta vẫn còn vì “cái nghị lực riêng và cái tính chất riêng.” Nhưng nó là những cái gì? Anh Nguyễn Chí Thiện đồng ý là người miền Lưỡng Quảng, Phúc Kiến, thực ra giống người mình, khác với người Hoa Bắc. Tần Thủy Hoàng là người đầu tiên sai nửa triệu quân xuống xâm chiếm vùng Hoa Nam và bắt đầu việc đồng hóa. Các triều Hán, triều Ðường tiếp tục, kéo dài 2,000 năm. Tất cả những người “anh em họ xa” của chúng ta nay biến thành người Trung Hoa hết. Tại sao dân Việt Nam không mất gốc, không mất nước? Lê Thành Khôi, Lê Mạnh Hùng đều nhắc đến một yếu tố là người mình còn giữ được tiếng nói. Keith Taylor giải thích thêm với yếu tố tôn giáo. Nhưng tiếng nói và tín ngưỡng ảnh hưởng đến sức đề kháng của dân tộc Việt Nam như thế nào? Nguyễn Chí Thiện cũng nghĩ là mình nên tìm hiểu thêm những lý giải cho “cái nghị lực riêng và cái tính chất riêng” như cụ Lệ Thần đã viết. Anh còn khuyên tôi nên viết thêm về trường hợp những nước như Nam Hàn, Miến Ðiện, Nhật, họ cũng vẫn giữ được độc lập như dân mình. Tôi đã làm theo ý kiến đó.


Rất tiếc, anh Nguyễn Chí Thiện đã qua đời. Nếu anh còn sống, hôm nay tôi sẽ nói với anh một cách thành thật, rằng nước Việt Nam còn được đến bây giờ là vì tổ tiên chúng ta từ 2,000 năm trước đã có những người cứng đầu như anh. Có những người bướng bỉnh, nhất định làm người Việt, không chịu làm người Hán. Trong hàng ngàn, hàng vạn người mới có một người “ngoan cường, bất khuất” như thế. Nhưng hào kiệt đời nào cũng có. Cho nên, dân tộc Việt Nam vẫn còn đến bây giờ. Và sẽ không bao giờ mất.


Trong đời sống bình thường, không ai muốn đóng vai anh hùng. Sống giữa những cái sai, cái ác, người ta vẫn lẳng lặng làm thinh. Vì người ta biết sau cùng những thứ gian tà, độc ác sẽ chấm dứt, sẽ bị lịch sử tiêu diệt. Hoặc vì người ta nhát, không muốn “đa sự.” Nhiều khi những người cương cường bất khuất còn làm cho người chung quanh sợ hãi, rồi vì thế, bực mình.


Như hồi hai mươi tuổi Nguyễn Chí Thiện thấy học sinh được dạy rằng Nhật Bản đầu hàng sau khi bị Hồng quân Liên xô tấn công. Tất cả các thầy giáo, cô giáo cứ phải dạy trẻ em như vậy. Họ biết là sai nhưng cứ phải bịt mũi lại mà dạy như thế. Chỉ có Nguyễn Chí Thiện không chịu. Anh nói lại rằng Nhật đầu hàng vì bị Mỹ thả bom nguyên tử. Nga Xô vẫn còn giữ hiệp ước bất tương xâm với Nhật suốt thời chiến tranh, chỉ sau khi bom nguyên tử nổ rồi Stalin mới tuyên chiến với Nhật.


Có ai bắt anh phải cải chính cho lịch sử hay không? Nhưng Nguyễn Chí Thiện là người như vậy. Cái gánh ở giữa đàng, anh cứ đem quàng vào cổ mình. Anh bị bắt vào tù, nhưng sự thật vẫn là sự thật, anh giữ ý kiến, vì đó là sự thật. Hàng vạn người cứ dạy và nghe người ta dạy những chuyện sai lầm, gian dối cho trẻ em, ai cũng giả dại qua ải. Còn Nguyễn Chí Thiện thì không. Một chế độ chủ trương gian trá thì cũng sẵn sàng làm tất cả những tội ác, giết người khác. Nguyễn Chí Thiện cũng không nhịn được, phải gọi tên Cái Ác. Ở cả miền Bắc Việt Nam có hàng vạn người như anh. Anh là người chịu nhiều cực hình hơn cả.


Trong chúng ta lúc nào cũng có những người cứng đầu, không sợ hãi, không chịu khuất phục. Hồi 1968 tôi đã chứng kiến một cảnh không quên được. Chúng tôi theo lệnh động viên, vào trại Quang Trung để huấn luyện quân sự. Gần 1,000 nhà giáo, từ tiểu học đến đại học, lần đầu tiên mặc quần áo lính. Vào lính được mấy hôm, ai cũng biết thế nào là “kỷ luật nhà binh,” thi hành trước, hỏi lại sau. Phải tuân lệnh, phải chào kính từ ông thượng sĩ thường vụ, ông trung úy đại đội trưởng. Sau vài ngày tập đi đúng nhịp, tập vác súng, hạ súng, xếp súng, tập chạy, tập chà láng nền nhà và cầu tiêu, một buổi tối tập họp, tất cả ngồi xuống đất trong sân tiểu đoàn. Chúng tôi được gặp vị tiểu đoàn trưởng. Trước đó, mọi người chỉ được thấy ông đứng trước cửa văn phòng, đeo kính đen, tay chắp sau lưng, nhìn đám tân binh từ bãi tập trở về, coi đám lính mới chạy ba vòng hay năm vòng, trước khi được tan hàng, chạy vội vào ăn cơm nhà bàn.


Tối hôm đó, ông thiếu tá, tôi quên tên, giảng giải về quân phong, quân kỷ, đạo đức, nghĩa vụ, vân vân. Sau gần hai tiếng đồng hồ ngồi im nghe, ai cũng mệt. Cuối cùng, ông thiếu tá cho biết tiểu đoàn Trần Quốc Toản dự định xây một cái tượng đài vị anh hùng áo trẻ tuổi. Và ông đề nghị các khóa sinh, ai sẵn lòng thì góp mỗi người năm đồng, thêm vào quỹ xây tượng đài. Ông thiếu tá nhấn mạnh nhiều lần: Việc đóng góp hoàn toàn tự nguyện, không bắt buộc. Tiếp theo, ông lại giảng tiếp về quân phong, quân kỷ thêm mươi phút; sau cùng, hỏi có ai thắc mắc gì không. Tất cả thở phào sửa soạn đứng dậy, mấy người nói lớn: “Không!”


Bỗng nhiên có một anh giáo sư đưa tay lên: “Tôi có ý kiến!” Tất cả nhìn anh ta kinh ngạc. Sau khi ông tiểu đoàn trưởng mời nói, anh tân binh hỏi: “Thiếu tá nói việc đóng góp năm đồng hoàn toàn tự nguyện, có phải không ạ?” “Ðúng, hoàn toàn tự nguyện.” “Thưa thiếu tá, nếu vậy thì tôi xin nói ngay, tôi sẽ không đóng.” Cả tám trăm người ngạc nhiên, nhìn nhau. Nhiều câu hỏi thì thầm: “Thằng nào vậy? Năm đồng! Chỉ đáng tô phở; làm gì nó phải nói chứ!” “Sao có thằng ngu thế nhỉ? Ngày mai nó cho cả bọn chạy 10 vòng sân tiểu đoàn, chứ không phải ba vòng đâu!”


Lúc đó tôi nhớ, đã ghé tai anh bạn ngồi bên nói nhỏ: Nước Việt Nam bây giờ mình vẫn còn là vì có những thằng như nó đấy. Nếu ai cũng lẳng lặng, người ta bảo sao nghe vậy, thì mình đã thành người Tàu từ lâu rồi!


Phải kể cho đủ công bình: Mấy tháng sau chúng tôi không phải chạy nhiều vòng hơn; cũng không phải vác súng nặng hay hít đất nhiều hơn. Số tiền đóng tổng cộng khoảng 4,000 đồng cũng chừng một tháng lương giáo viên, chẳng lớn gì. Anh giáo sư đó là Nguyễn Lan, người Thanh Hóa. Và anh Lan vẫn được đối xử bình thường, sau ba tháng vẫn tốt nghiệp, trở về Biên Hòa dạy học.


Nghĩ đến Nguyễn Chí Thiện lại nhớ đến Nguyễn Lan. Nước Việt Nam vẫn còn đến bây giờ vì đã có sẵn trong dòng máu những tế bào sinh sản ra người với tính tình như họ. Tổ tiên chúng ta đời xưa chắc chắn phải có nhiều người như vậy. Bây giờ vẫn còn những Ðiếu Cầy, Tạ Phong Tần, Mẹ Nấm, Nguyễn Xuân Diện, vân vân. Dân Việt Nam có “cái nghị lực riêng và cái tính chất riêng” như Trần Trọng Kim nói. Nhưng có những người mang nặng cái nghị lực và cái tính chất riêng đó nhiều hơn người khác. Nguyễn Chí Thiện đã mang trong dòng máu của anh rất nhiều cái nghị lực đặc biệt đó. Có hàng vạn người cũng như anh, nhưng họ không phản ứng theo lối của anh. Tôi nghe kể có một sĩ quan bộ đội, đi đánh Ðiện Biên Phủ trở về thì ông bố bị tố khổ. Anh đã về làng, tỏ ý ủng hộ bọn chúng nó; anh ra tố cáo tội bố trước “tòa án nhân dân.” Ngày kết án, anh tình nguyện sẽ bắn bố mình. Anh cầm súng, đến bên bố nói nhỏ mấy câu, bắn chết bố, rồi quay lại bắn chết luôn bọn côn đồ, trước khi tự bắn mình. Ðây là một hành động can đảm, đáng kính. Nhưng chỉ là phản ứng trong phạm vi cá nhân. Nước Việt Nam cần những người tố cáo cái ác, cái xấu làm hại cho cả dân tộc. Như Nguyễn Chí Thiện, bền bỉ suốt nửa thế kỷ. Tổ tiên chúng ta chắc có rất nhiều người như anh, cho nên chúng ta không mất nước. Con cháu chúng ta chắc chắn cũng như vậy. Như anh Nguyễn Chí Thiện, chúng ta có thể tin. Nước Việt Nam không bao giờ thành một tỉnh hay một quận của Trung Quốc!

Mùa Thu lá vàng Toronto

 


Bài và ảnh: Trịnh Hảo Tâm


 


Mùa Thu là mùa gặt hái, thu hoạch nông phẩm, chuẩn bị nhà cửa đón những lễ hội cuối năm như Lễ Tạ Ơn, Giáng Sinh và Năm Mới đồng thời cũng chuẩn bị đón một mùa Ðông băng giá sắp kéo về.










Mùa Thu trên phố cũ Toronto.


Ở Bắc Bán Cầu mùa Thu trở về vào Tháng Chín, ngày ngắn dần, thời tiết mát dịu và chuyển sang lạnh dần, những cây rụng lá về mùa Ðông bắt đầu vàng úa và đỏ rực tạo nên một phong cảnh rừng thu rất đẹp nhất là ở vùng New England (Ðông Bắc Hoa Kỳ) chạy lên tới Canada như các tỉnh Québec và Ontario. Mùa Thu năm nay xin mời các bạn cùng chúng tôi viếng thăm thành phố Toronto thuộc tỉnh Ontario, Canada để ngắm sắc đỏ của rừng phong, nghe tiếng lá vàng rơi xào xạc và vài con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng khô:


Em không nghe rừng thu


Lá thu kêu xào xạc


Con nai vàng ngơ ngác


Ðạp lên lá vàng khô?


(Tiếng Thu – Lưu Trọng Lư)


Du khách thường viếng Toronto vào mùa Thu vì thời tiết mát dịu, Tháng Chín có nhiệt độ trung bình là 60 độ F, Tháng Mười giảm xuống 50 và Tháng Mười Một là 40 độ. Rừng phong lá bắt đầu chuyển màu vàng tươi, rồi đỏ thắm và cuối cùng là nâu sẫm trước khi rơi rụng để mùa Ðông về tuyết trắng phủ đầy trên rừng phong thân trắng không còn lá. Bắt đầu mùa Thu, trên truyền thanh, truyền hình người ta loan báo những vùng nào lá bắt đầu đổi màu, thời tiết có mưa hay không để cập nhật những tin tức cho du khách đang đến ngắm lá vàng mùa Thu ở thành phố Toronto thanh lịch và êm đềm.










Ðêm hoa đăng ở khu phố Chinatown Toronto.


Chiếc DC-10 của hãng United Airlines đã đưa tôi đến thành phố Toronto của Canada sau tổng cộng hơn 5 giờ bay từ phi trường Ontario của miền Nam California cộng thêm một giờ đổi máy bay ở Chicago. Từ trên cao lúc máy bay sắp hạ cánh, vùng ngoại ô Toronto với những ngôi nhà mới mái ngói màu rượu chát nổi bật trên nền cây cỏ xanh tươi như đang độ vào Xuân mặc dù bây giờ trời đã sang Thu khác hẳn với những bãi cỏ vàng vì thiếu nước, những cây cối xanh đen vì bị ô nhiễm bởi khói xe và kỹ nghệ của miền Nam Cali mà tôi đang sống. Máy bay nghiêng và hạ thấp cao độ, khu trung tâm Toronto với những nhà cao tầng nằm kế cận bờ hồ Ontario đã hiện ra rõ nét. Ngọn tháp CN Tower vừa tượng trưng cho thành phố Toronto vừa biểu hiệu luôn cho cả nước Canada nằm soi bóng bên bờ hồ mà nhìn từ trên cao mặt hồ phản chiếu ánh nắng mặt trời lấp lánh như nạm bạc.


Phi cơ hạ cánh xuống phi trường quốc tế Pearson nằm về phía Tây Bắc và cách trung tâm Toronto nửa giờ xe chạy. Quan thuế Canada cũng rất dễ dàng, nếu không có gì cần khai báo thì đi qua ngã “No Claim.” Nhân viên di trú khi thấy thông hành Mỹ là khoát tay đi luôn. Nhưng đến lượt về, trở lại Mỹ thì nhân viên Sở Di Trú Mỹ ngồi tại phi trường Pearson đòi coi Pass-port hoặc bằng quốc tịch Mỹ hay khai sinh nếu sinh đẻ tại Mỹ. Lượt về cũng không nên mang trái cây, hoa kiểng vào Mỹ. Khu chợ Tàu Toronto trái cây nhiệt đới như vải, nhãn, măng cụt, sầu riêng tươi giá rẻ hơn bên Mỹ. Dân ta hay mang các thứ này về nên quan thuế ở đây hay hỏi trước khi cho vào phòng đợi máy bay.










Sắc lá vàng thu rừng phong Toronto.


Trên xa lộ từ phi trường về nhà, nhìn địa thế xung quanh thì Toronto là một vùng đất bằng phẳng, không thấy một ngọn núi nào dù ở phía chân trời xa. Toronto cũng không bị động đất như California thường hay nếm mùi nhưng trái lại bị tuyết phủ vào mùa Ðông. Bầu trời trong xanh với mây trắng từng cụm, nhiệt độ khoảng 60 độ F, gió nhẹ se se lạnh. Vì gần Bắc Cực nên ở đây tuy mới mùa Thu, nhưng ánh nắng mặt trời tắt rất sớm, 5 giờ chiều trời đã hoàng hôn. Trái lại ngày Hè cũng thật dài, 9 giờ tối trẻ con vẫn còn chơi đùa trong công viên vì nắng vẫn còn. Mưa vào mùa Hè và bắt đầu gia tăng vào mùa Thu, lá cây hai bên đường bắt đầu vàng rực trông rất mát mắt. Dọc theo xa lộ thích nhất là những con suối quanh co uốn lượn với hai bên bờ là những hàng cây um tùm như những khu rừng nhỏ. Cỏ ở đây lúc nào cũng xanh mượt mà người ta cũng không cần gắn hệ thống tưới tự động.


Hệ thống xa lộ Canada hiện giờ thì không bằng California, lề xa lộ dành cho xe đậu khi gặp trường hợp bất trắc (emergency) hãy còn trải đá chứ chưa được tráng nhựa. Những bảng chỉ dẫn trên xa lộ cũng khác hơn ở Mỹ và dùng cả hai thứ tiếng Anh và tiếng Pháp. Ðơn vị đo lường của Canada thì dùng cả hai hệ thống đo lường vừa Mỹ Anh (standard) vừa thập phân (metric) như chiều dài trên đường thì dùng cây số (kilometer) nhưng đo nhà đất thì lại dùng feet. Ðơn vị đo dung tích như xăng thì bán theo lít nhưng với trọng lượng như cân trái cây hay thịt cá thì lại dùng pound. Ðó là sự phối hợp hai hệ thống cân đo của Anh và Pháp là hai nhóm người khám phá ra vùng đất Canada từ thuở xa xưa. Ngôn ngữ cũng vậy, vùng Toronto và thủ đô Ottawa, cả hai thành phố đều nằm trong tỉnh Ontario thì nói tiếng Anh nhưng thành phố Québec thuộc tỉnh Québec thì lại nói tiếng Pháp.


 


Thị trường nhà cửa


 


Nhà cửa ở đây vì phải chịu đựng sức nặng của tuyết vào mùa Ðông nên xây kiên cố hơn, tường được xây bằng gạch thay vì gỗ và trét một lớp stucco sần sùi bên ngoài theo kiểu Mễ Tây Cơ như ở Cali. Mái nhà lợp ngói với độ dốc thẳng đứng để cho tuyết khó bám. Cũng như miền Ðông Bắc Hoa Kỳ nhà nào cũng có tầng hầm (basement) xây bằng xi măng cốt sắt chắc chắn dùng làm nền móng chịu đựng cho cả ngôi nhà và là chỗ đặt máy sưởi, bình nước nóng. Tầng hầm thường là nơi để chứa đồ, nhưng người Việt chúng ta thường sửa sang lại thành một đơn vị gia cư có đầy đủ bếp núc và nhà tắm. Nhiều người trang trí tầng hầm thành một nơi vui chơi giải trí cho gia đình tùy theo sở thích của họ như phòng xem TV, nghe nhạc, khiêu vũ, thư viện, bi da, bóng bàn. Riêng em tôi vì cả hai vợ chồng đều thích hoa nên chú ta biến basement thành nursery trồng phong lan. Hầu như quanh năm đều có hoa nở ngay cả mùa Ðông bên ngoài tuyết phủ trắng xóa một màu.


Giá nhà ở Toronto hãy còn quá rẻ chỉ bằng nửa giá so với Quận Cam mặc dù trong vài năm gần đây đã gia tăng khá nhiều. Khác với Cali, nhà mới bán ra ở Toronto thường chỉ có hệ thống sưởi chứ không có hệ thống lạnh (có lẽ vì ít khi nóng nên luật lệ không bắt buộc) và không có tráng xi măng lối vào nhà xe (driveway). Người mua nhà phải thuê thợ tới làm, do đó đọc các báo Việt ngữ tại Toronto nơi mục sửa chữa nhà cửa người ta thường thấy dân ta quảng cáo hai dịch vụ này. Nhưng lối vào nhà xe ở Canada thường trải nhựa (asphalt) chứ không tráng xi măng có lẽ vì sợ tuyết đóng gây trơn trợt dễ té ngã.


 


Thành phố mới Mississauga


 


Canada là một trong những quốc gia có chính sách di dân rất rộng mở. Trong những thập niên trước Toronto đã đón nhận người Việt Nam, Hồng Kông, Ấn-Ðộ. Thập niên vừa qua số người Hồng Kông ào ạt tới Toronto trước khi Hồng Kông được Anh Quốc trao trả cho Trung Quốc. Toronto đã không còn đất trống để xây nhà mới nên các công ty khai thác địa ốc đã xây những khu nhà mới ở ngoại ô phía Tây kế cận Toronto và họ đã lập nên thành phố Mississauga và ngày nay đã trở nên một thành phố lớn với dân số hơn 300 ngàn dân gồm đủ mọi sắc tộc. Dân ta ngày mới định cư vào đầu thập niên 1980 đã mua nhà nhỏ và cũ ở Toronto. Sau gần 30 năm chịu khó cần cù nay đã khá giả và ai nấy cũng đều mua căn nhà thứ hai, mới và rộng hơn thường là ở thành phố mới Mississauga.










Tòa Thị Chính cũ Toronto.


Ở Mississauga dân ta cũng đã lập nên một Little Saigon trên con đường huyết mạch Dundas dẫn vào khu Chợ Tàu Toronto. Ngay ngã tư Dundas va Cawthra là khu thương xá lớn có cổng tam quan theo kiến trúc Tàu, bên trong là bãi đậu xe với vườn cảnh, ao cá, nhà thủy tạ đó là Mississauga Chinese Centre được xây vào năm 1989. Trong khu phố Tàu này có hơn phân nửa cửa tiệm nói bằng tiếng Việt Nam. Ngoài chợ thực phẩm Tân Hưng, trong khu này còn có Phở Hòa, Phở 88 nấu theo hương vị Chợ Lớn không có gia vị trái Hồi, các tiệm BBQ, fast food như Ðồng Khánh, Mỹ Lệ Hoa và các tiệm tóc, trang điểm, video, music, du lịch, luật sư, châm cứu, dược thảo v.v… Có ăn “Tĩm Xắm” ở đây mới thấy có rất nhiều món lạ và ngon hơn các nơi khác kể cả Hồng Kông là “thiên đường” của “Tĩm Xắm”! Mỗi sáng cuối tuần thực khách phải sắp hàng dài ra phía ngoài. Nhà hàng sạch sẽ, trang trí theo lối Trung Hoa cổ, các cô tiếp viên mặc xường xám lụa Tô Châu trang trọng, lịch sự.


 


Toronto đa văn hóa


 


Giữa hai cuộc thế chiến Toronto là một thành phố buồn, chẳng có gì để hấp dẫn du khách! Ngay thời thập niên 1950, người dân Toronto mỗi khi muốn du hí còn phải lái xe qua Detroit cách Toronto 4 giờ lái xe ở về hướng Tây Nam hay Buffalo, 90 phút xe chạy về hướng Nam qua thác Niagara. Ngày nay tình thế đã đổi chiều, Toronto không phải là thủ đô của Canada nhưng là một thành phố lớn quy tụ đến 3 triệu rưỡi dân mà hai phần ba là dân từ các nơi khác đổ về. Ngoài dân da trắng nói tiếng Anh, các cộng đồng thiểu số gồm có dân da đen. Nhóm da đen ở đây nguồn gốc của họ không phải từ Phi Châu như ở Hoa Kỳ mà lại đến từ đảo Jamaica hiền hòa, ít hiếu động hơn (Ngoại Trưởng Mỹ Colin Powell cũng là người Jamaica). Cộng đồng lớn thứ ba người ta nhìn thấy là cộng đồng người Hoa đến từ Hồng Kông. Làn sóng di dân này đã một thời dâng cao trước khi Hồng Kông giao trả về Trung Hoa lục địa năm 1997. Nhóm thiểu số kế đến là người Ấn Ðộ, họ có bằng cấp nhưng không có việc làm ở xứ họ nên tìm cách di dân qua Canada.


Nét đa văn hóa ở đây thấy rõ hơn hết khi một buổi sáng tôi ra China Town Mississauga thì thấy nhiều gia đình người Ấn Ðộ đi mua thức ăn ở chợ Tàu! Ðàn bà vận quốc phục bằng tơ lụa nhiều màu sắc và đội khăn mỏng như ở miền Nam Cali ta thấy họ đi mua sắm ở Little India đường Pioneer thành phố Norwalk. Ðàn ông người Ấn ở đây ngoài hai nghề kỹ sư và bác sĩ như ở Cali, họ còn đi làm những nghề khác như lái taxi hay bán xăng.


Vật giá nói chung ở Toronto đắt đỏ hơn Cali như giá xăng cũng cao hơn và được tính bằng lít chứ không là gallon. Chợ thực phẩm Canada thì giống như chợ Mỹ nhưng mọi thứ đều đắt hơn. Sữa tươi thì không có thùng một gallon mà phải mua từng hộp nhỏ bằng giấy hay bịt nylon. Khi lấy xe đẩy trong chợ thì phải bỏ đồng 25 xu vào ổ khóa thì mới lấy xe ra được và khi trả xe thì lấy 25 xu trở lại. Mục đích là tránh người đi chợ bỏ xe bừa bãi, tiết kiệm tiền mướn người đi thu nhặt. Ðồng kim loại 25 xu Mỹ cũng xài được ở Canada. Tiền một đồng Canada được đúc bằng kim loại, chỉ 2 đồng trở lên mới được in bằng tiền giấy và tất cả tiền đều có in hình nữ hoàng Anh vì Canada nằm trong Liên Hiệp Anh.


 


Downtown Toronto


 


Toronto không đông đảo, xô bồ như New York hay Tokyo mà có vẻ thanh lịch êm đềm như San Francisco. Nó cũng có xe điện (street car) chạy giữa đường và hệ thống xe điện ngầm tân tiến, sạch sẽ, không thấy các chữ ngoằn ngoèo vẽ bậy (graffiti) trên các toa xe. Phía Nam thành phố là hồ Ontario, một trong Ngũ Ðại Hồ, bao la như biển, nhìn không thấy bến bờ phía bên kia nhưng nước lại ngọt và rất lạnh. Du khách có thể xuống phà sang đảo Toronto chơi. Trên đảo là công viên không cho xe chạy, du khách có thể mướn xe đạp, hai chiếc ghép lại làm một chở được 3, 4 người hoặc xuống du thuyền hay tắm nắng, bơi lội. Bụng đói thì đã có các nhà hàng từ hamburger cho đến sang trọng nhưng giá cả phải đắt hơn trong đất liền. Từ đảo qua phà trở về downtown Toronto thì phà sẽ cập bến ở cuối con đường Yonge Street, đây là con đường chính của Toronto chạy từ Nam lên Bắc. Ðứng trên phà du khách sẽ có dịp ngắm cảnh bao quát của thành phố với ngọn tháp CN Tower hùng tráng và những tòa cao ốc bao quanh nó. Trên phà là vị trí tốt nhất để chụp cảnh thành phố Toronto.


Tản bộ trên con đường Yonge St., du khách sẽ đi ngang qua những ngân hàng cao ngất ngưởng, những khu mua sắm nổi tiếng, cổ xưa như The Bay (eBay là Website mua sắm trên mạng Internet có lẽ lấy từ tên thương xá này) hay tân tiến như Eaton Centre tọa lạc ở ngã tư Yonge và Queen Street. Quẹo trái qua đường Queen St. du khách sẽ tới công trường Nathan Phillips nơi đây có tòa Thị Chính cũ đồ sộ và cổ kính như một vương cung thánh đường do kiến trúc sư E.J. Lennox hoàn tất việc xây cất vào năm 1899. Bên cạnh là Tòa Thị Chính mới, được khánh thành vào năm 1965 bởi kiến trúc sư Viljo Revell. Tại công trường này các hội đoàn người Việt thường làm lễ thượng cờ hàng năm.


Tiếp tục nhàn tản trên con đường Queen St. về hướng Tây, khách lãng du sẽ nhận thấy nét độc đáo của con đường này: xe ngoại quốc đắt tiền đậu dọc hai bên và khu phố kiến trúc cổ xưa trên 100 năm với những quán cà phê vỉa hè mà dân chơi Canadian tụ tập tán dóc hay ngắm những bóng hồng qua lại. Phụ nữ Mỹ thường đẫy đà to lớn nhưng phụ nữ Canada trái lại mảnh dẻ nhỏ người, có đôi mắt hơi xếch phảng phất nét Á Ðông. Màn đêm buông xuống thì khu phố lung linh ánh đèn và… thứ gì cũng có!


 


Chinatown Toronto


 


Ðến ngã tư Queen và Spadina Ave. du khách bỗng giật mình tưởng đã lạc qua Hồng Kông vì con đường Spadina từ Queen ở hướng Nam lên đến College St. ở hướng Bắc là trung tâm của khu phố Tàu. China Town Toronto là khu phố Tàu lớn nhất ở Bắc Mỹ vì có hơn 150 ngàn người Hoa sinh sống tại Toronto. Trên đường Spadina này có những siêu thị Tàu 4, 5 tầng lầu, những thương xá đồ sộ và lộng lẫy hơn cả Phước Lộc Thọ của Little Saigon. Trái cây vùng nhiệt đới như vãi, nhãn, măng cục, sầu riêng, mãng cầu, chôm chôm được bày bán đầy đường. Những món trang trí, đồ kỷ niệm Ðông phương, chén bát, đồ cổ, tượng thờ tràn ngập trong các cửa hàng. Người Việt cũng xâm nhập được vào China Town Toronto (cũng như hiện nay đã chiếm lĩnh gần như toàn bộ China Town Los Angeles). Có khoảng một phần ba cửa hiệu ở đây do người Việt hay người Việt gốc Hoa làm chủ. Họ làm đủ mọi ngành nghề như nhà hàng ăn uống, video, dĩa nhạc, sách báo, cà phê, kim hoàn, thẩm mỹ, du lịch, luật sư, bác sĩ… Vùng phía Bắc Toronto như các thành phố Weston, North York là khu kỹ nghệ, người Việt Nam còn làm nghề sơn sửa xe hơi với máy móc tối tân hiện đại được hãng bảo hiểm, các dealer xe mới công nhận và ký hợp đồng sửa chữa cho xe khách hàng của họ.


 


Chợ trời Kensington


 


Ngay cạnh phía Tây đường Spadina có khu chợ trời họp ngoài đường có tên là Kensington Market mà dân ta quen gọi là Chợ Do Thái giống như khu Chợ Cũ Hàm Nghi Sài Gòn nghĩa là bán thực phẩm tươi sống như rau cải, cá tôm, sò ốc, gà vịt, phó mát, gia vị của đủ mọi nước trên thế giới và những tiệm bán quần áo cũ của những hiệu danh tiếng. Khu này đông vui rất hấp dẫn du khách ngoại quốc muốn tìm cảnh lạ vì nó có đủ màu sắc, âm thanh, chủng tộc, mùi vị hỗn hợp khó tìm thấy ở những nơi khác. Du khách ba lô cũng tìm đến đây mua những quần áo bụi đời, vật dụng quý hiếm và món ăn, gia vị của xứ họ. Nhưng đến đây du khách phải cẩn thận coi chừng bị… móc túi vì tập trung nhiều thành phần phức tạp. Tuy nhiên nói chung ở Canada, an ninh tốt hơn ở Mỹ và Âu Châu vì tội ác rất thấp và ít thấy bóng dáng của cảnh sát.










Tháp CN cạnh hồ Ontario, ở Toronto.


Ðến Toronto mà không đi thác Niagara thì quả là một điều thiếu sót không khác nào đi Tây Tạng mà quên… thỉnh kinh vì nó chỉ cách Toronto chỉ hơn một giờ xe chạy về hướng Tây Nam dọc theo bờ hồ Ontario. Ðến đây du khách sẽ nhìn tận mắt một kỳ quan hùng vĩ của thiên nhiên với hai thác nước vĩ đại có tên là thác Móng Ngựa và thác Mỹ vì nằm bên phần đất Mỹ với chiếc cầu biên giới nằm vắt ngang để nơi đây du khách có thể “Ngồi đây soi bóng bên dòng nước lũ. Cầu cao nghiêng dốc trên dòng sông sâu.” Ðể rồi “Trên cầu biên giới, lặng nghe dòng đời… từ từ trôi!” (Nhạc phẩm “Bên Cầu Biên Giới” của Phạm Duy).


 


Ngòi bút du lịch trên nhiều báo Việt ngữ ở Hoa Kỳ. Ðã xuất bản 8 quyển sách du lịch: 1. Trên Những Nẻo Ðường Việt Nam 2. Miền Tây Hoa Kỳ 3. Ký Sự Du Lịch Trung Quốc 4. Mùa Thu Ðông Âu 5. Tây Âu Cổ Kính 6. Miền Ðông Nước Mỹ Và Canada 7. Hành Hương Thánh Ðịa Do Thái 8. Nhật Bản, Hồng Kông-Macau, Thái Lan. Mỗi quyển đồng giá 15 USD xin hỏi ở các nhà sách VN hay liên lạc tác giả: Trịnh Hảo Tâm, 3683 Hawks Dr. Brea, CA 92823, USA. Email:[email protected]. Ðiện thoại: (714) 528-1413.

Ông Đồng Sỹ Chương

Vạn Kiếp, Tháng Tám giỗ cha

Trần Nguyên Thắng/ATNT Tours & Travel


 


Trên chuyến bay từ LAX đi thành phố Rio de Janeiro của Brazil, tôi ngồi xem lại các hình ảnh cuốn lịch ATNT 2013 mà văn phòng sắp đem in. Nhìn vào ngày tháng âm lịch, ngày tết Trung Thu rằm tháng Tám vừa qua nhưng vầng trăng vẫn còn tròn trịa và sáng bật trên nền trời đêm.










Một buổi lễ ở Hà Nội, tưởng nhớ các anh hùng tổ tiên Việt Nam. (Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)


Tôi bỗng dưng chợt nhớ đến ngày 20, ngày mà người Việt Nam có câu ca dao dân gian “Tháng Tám giỗ Cha, Tháng Ba giỗ Mẹ.”


Trong lịch sử Ðại Việt, người Việt đã dành một chỗ đứng riêng biệt cho một vị tướng tài ba lỗi lạc của triều đại nhà Trần vào thế kỷ 13, Tướng Trần Quốc Tuấn. Ông là vị tướng đã hai lần đập tan âm mưu thôn tính Ðại Việt của quân Nguyên Mông Cổ phương Bắc, ông được vua Trần Nhân Tông phong là Hưng Ðạo Vương. Ông mất năm ngày 20 Tháng Tám âm lịch 1300 thọ hơn 72 tuổi và được dân chúng gọi là Hưng Ðạo Ðại Vương. Người dân Việt tôn thờ là Ðức Thánh Trần và tôn xưng ông là Cha, lấy ngày tháng ông mất làm tháng giỗ ông, Tháng Tám giỗ Cha là vì như thế!


Trên đường đi từ Hà Nội đến Hạ Long, du khách có gặp một ngã ba đường, một hướng đi Hạ Long và một hướng đi về Vạn Kiếp. Mỗi lần nghe đến hay nhìn thấy tên Vạn Kiếp hay Kiếp Bạc là tôi nhớ ngay về Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn. Vạn Kiếp không những nổi danh với những trận đánh đuổi và phá tan giặc Nguyên Mông, mà Vạn Kiếp cũng chính là nơi mà Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn lui về chí sĩ sau khi đã hoàn tất trách nhiệm của một vị tướng với non nước Việt. Có lẽ trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam chưa có một vị tướng nào có thể so sánh với nhân cách cao cả, sống trọn vẹn lòng trung với đất nước như ông. Ông đã dẹp thù riêng của gia đình sang một bên để đặt sự an nguy của xứ sở là điều tối thượng để đánh đuổi giặc thù xâm lăng, bảo vệ mảnh đất nơi ông ra đời. Ðọc bài Hịch Tướng Sĩ mà ông soạn ra để nâng cao tinh thần chiến đấu của quân lính Ðại Việt trước một đoàn quân tinh nhuệ Mông Cổ, đoàn quân nổi tiếng ngọn cỏ cũng không thể mọc được dưới vó ngựa của họ đi qua. Ðọc lời thề của ông trước sông Bạch Ðằng báo hiệu sự tan tác của đội quân Ô Mã Nhi, đọc lời trăng trối của ông với các con ông hãy vì đất nước mà để thù riêng sang một bên, người ta mới thấy được nhân cách phi thường của ông. Những điều đó đâu phải chỉ có người Trung Hoa mới có các điển tích lịch sử như vậy. Quan Vân Trường được người Trung Hoa tôn xưng là Quan Công và thờ như Quan Thánh, nhưng làm sao nhân trí nghĩa của Quan Thánh làm sao có thể vượt qua được Ðức Thánh Trần Ðại Việt. Người Việt Nam chúng ta không cần phải đi tìm những điều điển tích xa xôi khi chúng ta cũng đã có ngay các điển tích học làm tướng, học làm người trong tủ sách lịch sử của nước Việt.


Cũng trên đường đi Hạ Long, tôi đã có dịp đến thăm núi Yên Tử, ngọn núi nổi tiếng với nhân cách của vua Trần Nhân Tông. Ở đây các dấu tích của ngôi chùa Ðồng, ngôi chùa Hoa Yên, chùa Giải Oan mang nhiều huyền thoại về một vị vua nhà Trần nặng lòng với đất Việt, nặng lòng với nhánh thiền Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam. Ðiều tôi nuối tiếc nhất trong lòng vì tôi vẫn chưa có dịp ghé qua Vạn Kiếp thăm đền thờ, thăm nơi chốn và không gian của Ðức Thánh Trần hơn 800 năm trước.


Tôi thèm có một khoảng thời gian không phải theo đuổi cơm áo gạo tiền để có dịp viếng thăm Hoa Lư của triều đại vua Ðinh (Ðinh Tiên Hoàng), ghé về Ðông Ðô diện kiến vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) của triều đại Hậu Lê và ngược lên Vạn Kiếp-Yên Tử nhớ lịch sử vẻ vang đời nhà trần.


Và cũng còn rất nhiều nơi lịch sử mà tôi muốn đến như Gò Ðống Ða, như Bạch Ðằng Giang, như sông Hát.


Sao thật lạ trong ngày giỗ cha mà suy tư của tôi lại chạy đổ về quá khứ, lại ao ước một chuyến du lịch lịch sử trên mảnh đất mà ít nhiều trong ký ức mình có nhiều điều gắn bó. Tôi đã du lịch khắp nơi thế giới nhưng chưa bao giờ lại háo hức muốn đến thăm những địa danh lịch sử đất Việt như bây giờ. Du khách Việt Nam ở nước ngoài đã về lại thăm Việt Nam rất nhiều, không hiểu có bao nhiêu cảnh sắc xa xưa làm rung động tâm tư con Rồng cháu Tiên, có bao nhiêu di tích của tiền nhân để lại đã được trùng tu để con cháu nhìn lại mà cảm nhận được công lao của người xưa đã hết lòng gìn giữ. Gò Ðống Ða nơi ghi lại dấu ấn Quang Trung Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Con sông Bạch Ðằng là nơi đã bao lần vùi tan những tham vọng của Nam Hán, của Nguyên Mông. Bạch Ðằng Giang đi vào lịch sử với câu thề của Hưng Ðạo Vương “Trận này ta không phá xong quân Nguyên, ta thề sẽ không trở về con sông này nữa.” Tôi cũng rất thích giọng văn trong Hịch Tướng Sĩ do Trần Trọng Kim dịch, “Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc-sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc vui thú về vườn ruộng, hoặc quyến luyến về vợ con, hoặc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước, hoặc ham về săn-bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc đến, thì cựa gà trống sao cho đâm thủng được áo giáp; mẹo cờ bạc sao cho dùng nổi được quân mưu.” Những lời trong Hịch Tướng Sĩ vẫn đúng với hiện tại ngày nay.


Tháng Tám âm lịch không phải chỉ là tháng giỗ Cha mà cũng còn là tháng giỗ vua Lê Thái Tổ (ngày 22 Tháng Tám), người anh hùng áo vải Lam Sơn Lê Lợi, người đã đưa danh tướng Liễu Thăng của nhà Minh thành bại tướng. Thật ngẫu nhiên cũng trong Tháng Tám âm lịch tôi được đọc bài của Ngô Nhân Dụng viết về Bình Ngô Ðại Cáo của Nguyễn Trãi, làm sao thế hệ trẻ Việt Nam nối tiếp còn có thể yêu đất nước Việt nếu một mai thế hệ này không còn hiểu gì về lịch sử đất nước họ. Ông thầy Sử Ðịa ngày xưa vẫn còn nhớ đến trách nhiệm của mình.


Bao giờ những địa danh Bạch Ðằng Giang, Gò Ðống Ða, sông Hát, Kiếp Bạc-Vạn Kiếp sẽ là những nơi du lịch thu hút các người dân nước về để thăm và gìn giữ mộ Cha. Bao giờ thì những tay lái buôn người Việt mới nghĩ về “quốc sỉ” mà thôi làm tour đi thăm Trung Cộng. Bao giờ thì người ta biết thẹn để ngừng lại những gì họ đang làm nuôi giúp tinh thần Ðại Hán Lưu Bang.





ATNT Tours & Travel tổ chức và hướng dẫn:


 


Tour Âu Châu:


-Tour Ðông Âu: Urkaine-Ba Lan-Hungary-Tiệp-Slovakia-Áo-Slovenia


-Croatia. (Tour 16 ngày)


Cities: Kiev-Warsaw-Krakow-Budapest-Zagreb-Ljubljana-Vienna-Brno-Prague


Khởi hành: Tour: Oct. 19 – Nov. 06, 2012


-Tour Tây Âu mùa Thu: Amsterdam-Bruxelle-Luxembourg-Paris-St. Michel.


Khởi hành: từ Oct. 22 – 31, 2012.


 


Tour Á Châu:


-Tour Singapore-Thái Lan-Campuchia-Việt Nam


Khởi hành: từ Nov. 15 – 29, 2012


-Tour Miến Ðiện-Tam Giác Vàng: Bắc Thái Lan-Miến Ðiện-Lào


Cities: Chiangmai-Chiangrai-Luang Brapang-Yangoon-Bagan-Mandalay-Inle


Lakes-Katiktiyo


Khởi hành: từ Nov. 01 – 16, 2012 và Dec. 01 – 16, 2012.


-Tour Nhật Bản-Ðài Loan-Nam Hàn mùa Thu tháng 10.


Khởi hành: từ Oct. 19 – Nov. 05, 2012


 


Tour Phi Châu:


-Tour Nam Phi (South Affrica) tổ chức vào Dec. 06 – 19, 2012 du


ngoạn Safari hoang dã của Phi Châu.


-Tour Việt Nam: tổ chức mỗi tháng cho gia đình hoặc group.


-Tổ chức “Private Tour” đi khắp mọi nơi trên thế giới.


 


ATNT Tours & Travel chuyên nghiệp về bán vé máy bay & tổ chức và hướng dẫn tours du lịch.


Xin liên lạc ATNT TOURS & TRAVEL


9126 Edinger Ave., Fountain Valley, CA 92708


Tel: (714) 841-2868 / (888) 811-8988


Website: www.atnttravel.comhay www.atnttour.com



 

Ông Nelson Y. Shimizu

Ông Nguyễn Chí Thiện

Ông Trương Sĩ Tam

Ông Chu Thiện Cầu

Tin mới cập nhật